Tải bản đầy đủ
2 QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TÀI KHOẢN VÃNG LAI

2 QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TÀI KHOẢN VÃNG LAI

Tải bản đầy đủ

23

hướng tăng và nhập khẩu có khuynh hướng giảm. Do vậy tài khoản vãng lai có
thặng dư.
Các nhà nghiên cứu theo phương pháp tiếp cận các nhân tố ngắn hạn
(intertemporal approach) lại cho rằng “mất cân đối trên tài khoản vãng lai phản ảnh
sự mất cân đối giữa đầu tư và tiết kiệm”(“Những yếu tố ảnh hưởng đến cán cân tài
khoản vãng lai của Việt Nam giai đoạn 1992-2001” – TS. Nguyễn Đức Thảo, trang
15)
Từ đồng nhất thức của tài khoản thu nhập quốc dân
GDP = C + I + G + X- M
Trong đó:

(2.1)

C

:

Tiêu dùng tư nhân

I

:

Đầu tư tư nhân

G

:

Chi tiêu của chính phủ

X

:

Xuất khẩu

M

:

Nhập khẩu

Với thu nhập quốc dân được sử dụng cho mục đích tiêu dùng, tiết kiệm và
nộp thuế vào ngân sách nhà nước
Y = C+ S + T
Trong đó:

(2.2)

C

:

Tiêu dùng tư nhân

S

:

Tiết kiệm tư nhân

T

:

Thuế

Do vậy ta có (2.1) luôn bằng (2.2)
C + I + G + X- M = C + S + T
=>

X – M = (T – G) + ( S – I)
Trong đó:

(2.3)

X – M:

Cán cân tài khoản vãng lai

T–G :

Cán cân ngân sách

S–I :

Tiết kiệm ròng khu vực tư nhân

Phương trình 2.3 biểu hiện được mối liên hệ giữa cán cân tài khoản vãng lai
với ngân sách chính phủ nếu như tiết kiệm và đầu tư của khu vực tư nhân cân bằng.

24

Tài khoản vãng lai sẽ thặng dư khi tiết kiệm ròng vực tư nhân thặng dư (S > I) và
hay hoặc ngân sách chính phủ thặng dư (T > G) và ngược lại. Tài khoản vãng lai sẽ
thâm hụt khi tiết kiệm ròng khi vực tư nhân thâm hụt (S < I) và hay hoặc ngân sách
chính phủ thâm hụt (T < G). Hiện tượng thâm hụt như thế này gọi là thâm hụt kép.
Khi cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia có dấu hiệu thâm hụt, các nhà làm
chính sách cần tìm hiểu xem phải chăng đang có sự sụt giảm trong tiết kiệm tư
nhân, gia tăng trong đầu tư và hay hoặc có sự thâm hụt trong ngân sách. Tuy nhiên
điều quan trọng là cần phải xem xét trong dài hạn là liệu rằng sự thâm hụt trong tài
khoản vãng lai có phải là biểu hiện của giảm đầu tư và thâm hụt ngân sách hay
không. Trong cả hai trường hợp này, các quốc gia sẽ phải đi vay từ nước ngoài
hoặc giảm tài sản ở nước ngoài để duy trì hay gia tăng chi tiêu cả ở khu vực tư nhân
và chính phủ. Nếu chính sách thuế và mức thu từ thuế ổn định và không đổi đồng
thời tiết kiệm ròng của khu vực tư nhân cũng ổn định thì bất kỳ một sự gia tăng
trong chi tiêu của chính phủ sẽ làm thâm hụt ngân sách và từ đó sẽ tác động đến tài
khoản vãng lai. Như vậy, thâm hụt ngân sách do tăng chi tiêu sẽ làm giảm thặng dư
hoặc làm tăng thêm mức độ thâm hụt của tài khoản vãng lai (Abel và Bernanke,
2001).
Tuy nhiên các nhà kinh tế học theo quan điểm này (Sachs, 1981; Obstfeld và
Rogoff, 1995, 1996) cũng cho rằng những quyết định liên quan đến tiết kiệm và đầu

tư được dựa trên những nhân tố ngắn hạn như lãi suất, sở thích, lợi tức từ dự án đầu
tư, vì vậy cán cân tài khoản vãng lai cũng là hiện tượng ngắn hạn (Sachs, 1981).
Một điểm đặc biệt của phương pháp tiếp cận này là một nền kinh tế có thể chấp
nhận cán cân tài khoản vãng lai thâm hụt liên tục trong nhiều năm, miễn là nền kinh
tế đó đạt điểm dừng – tại đó nền kinh tế đạt đến đường giới hạn khả năng sản xuất.
Một minh chứng thực tế cho lập luận này chính là trường hợp của nền kinh tế New
Zealand. Cán cân tài khoản vãng lai của New Zealand có thâm hụt liên tục từ những
năm 1970 đến nay nhưng nền kinh tế lại không rơi vào khủng hoảng.
Trong khi đó theo phương pháp tiếp cận chi tiêu (the absorption approach)
(Alexander, 1952), tài khoản vãng lai là sự chênh lệch giữa thu nhập quốc dân và

25

chi tiêu. Từ đồng nhất thức thể hiện thu nhập quốc dân, tài khoản vãng lai được thể
hiện thông qua
CA = Y – A
Trong đó:

CA

:

Cán cân tài khoản vãng lai

Y

:

Thu nhập quốc dân

A

:

Tổng chi tiêu trong nước

Các nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận này cho rằng cán cân tài khoản vãng
lai chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của mối tương quan giữa thu nhập và chi tiêu. Tài
khoản vãng lai sẽ thâm hụt nếu chi tiêu nhiều hơn thu nhập và ngược lại tài khoản
vãng lai sẽ thặng dư khi chi tiêu ít hơn thu nhập. Do vậy để điều tiết cán cân vãng
lai thì cần điều tiết mức thu nhập và chi tiêu. Tuy nhiên thu nhập và chi tiêu thường
có xu hướng thay đổi cùng chiều với nhau, nên điều quan trọng là cần xem xét tỷ lệ
thay đổi tương đối của thu nhập và chi tiêu.
1.2.2. Mô hình biểu thị tác động của chính sách tài khóa đến tài khoản vãng lai
Các phương pháp tiếp cận khác nhau đã giải thích được những nhân tố tác
động khác nhau đến cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia. Từ những mô
hình đầu tiên như Mundell-Flemming đến các mô hình của trường phái chi tiêu,
trường phái tiếp cận theo độ co dãn hay trường phái tiền tệ … đều phân tích cán cân
tài khoản vãng lai dựa trên các dòng thương mại. Do vậy các trường phái này xem
các nhân tố tác động đến dòng thương mại chính là nhân tố tác động đến tài khoản
vãng lai. Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ cuối năm 1970 và hệ thống tỷ giá cố định
giữa các quốc gia sụp đổ, mất cân đối trên cán cân tài khoản vãng lai trở nên
nghiêm trọng, các nhà kinh tế học đã tập trung nghiên cứu một cách sâu sắc các
nhân tố ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai. Trong bối cảnh như thế, phương
pháp tiếp cận các nhân tố ngắn hạn tác động đến tài khoản vãng lai xuất hiện từ
những năm 1980 tỏ ra hữu hiệu. Phương pháp tiếp cận này dựa trên hai cơ sở khi
nghiên cứu đến sự biến động của cán cân tài khoản vãng lai. Một là từ các đồng
nhất thức kinh tế vĩ mô, cán cân tài khoản vãng lai là hiệu số giữa tiết kiệm và đầu

26

tư. Hai là, các quyết định liên quan đến đầu tư dựa trên những nhân tố ngắn hạn
như lãi suất, tỷ giá, thu nhập, tăng trưởng kinh tế, biến động giá cả ….
Do vậy, để nghiên cứu mức độ tác động của chính sách tài khóa đến cán cân
tài khoản vãng lai của Việt Nam trong những năm qua, chúng tôi xây dựng mô hình
khảo sát mối liên hệ này bằng phương trình hồi quy tuyến tính trên cơ sở xây dựng
các nhân tố có liên quan đến sự biến động của tài khoản vãng lai của Việt Nam
gồm:
-

Chính sách tài khóa: đo lường bằng thâm hụt ngân sách

-

Đầu tư khu vực tư nhân : đo lường bằng tỷ lệ trên GDP

-

Tỷ giá hối đoái thực

Kết luận chương 1
Chính sách tài khóa được hầu hết các quốc gia sử dụng nhằm chống đỡ chu
kỳ kinh tế, giảm bớt sự dao động của tổng chi tiêu, ổn định hóa nền kinh tế.
Chính sách tài khóa được thực hiện bằng cách thay đổi chi tiêu Chính phủ và
thuế, sau đó, qua hiệu ứng của số nhân, làm thay đổi GDP thực.
Ngày nay, hầu hết mọi quốc gia đều có giao thương với nhau, do đó, chính
sách tài khóa luôn có tác động đến toàn bộ nền kinh tế, cả với ngoại thương, thông
qua tác động đến tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái.
Trong những giai đoạn suy giảm kinh tế, chính sách tài khóa tỏ ra đặc biệt
hữu hiệu trong việc kích cầu cho nền kinh tế. Phối hợp cùng chính sách tiền tệ,
chính sách tài khóa giúp thoát khỏi suy thoái nhanh và vững chắc hơn: tạo việc làm
thêm cho quốc gia, gia tăng sản lượng…dẫn đến ổn định kinh tế.

27

CHƯƠNG 2: NHỮNG BẰNG CHỨNG
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TÀI KHOẢN VÃNG LAI
Mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và tài khoản vãng lai luôn thu hút sự
quan tâm của các nhà kinh tế học và các nhà nghiên cứu. Đã có rất nhiều nghiên
cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến tài khoản vãng lai ở
nhiều nước khác nhau:
Laney (1984) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa cán cân tài khoản vãng lai và
thâm hụt ngân sách với số liệu khảo sát của 58 quốc gia phát triển và đang phát
triển, phát hiện ra rằng thâm hụt ngân sách có ảnh hưởng lớn đến cán cân tài khoản
vãng lai ở các nước nhỏ, đang phát triển so với các nước đã phát triển. Laney cho
rằng sở dĩ thâm hụt ngân sách ít tác động đến cán cân tài khoản vãng lai là do đối
với các nước có nền kinh tế mạnh, phát triển thì tiết kiệm khu vực tư nhân và thị
trường vốn đã phát triển sẽ là lá chắn và gánh chịu các ảnh hưởng của chính sách
tài khóa đến tài khoản vãng lai. Trong khi đó đối với các nước nhỏ có nền kinh tế
mở, các hoạt động giao thương với bên ngoài có vai trò quan trọng nên sự phát triển
trong nước chịu tác động rất lớn của cán cân giao dịch ngoại thương. Thông qua mô
hình hồi quy bằng phương pháp bình phương bé nhất, tác giả đã kiểm định mối
liên hệ giữa thâm hụt tài khoản vãng lai (biến phụ thuộc) và thâm hụt ngân sách
(biến độc lập). Kết quả cho thấy rằng tác động của thâm hụt ngân sách đến cán cân
tài khoản vãng lai chỉ có ý nghĩa đối với nhóm các nước đang phát triển hơn là ở
nhóm các nước đã phát triển. Tuy nhiên ở các nước đã phát triển, thì mối liên hệ
này rõ ràng hơn ở các nước có nền kinh tế nhỏ như Canada, Ý so với các nước có
nền kinh tế lớn như Mỹ, Anh.
Kearney và Monadjemi (1990) bằng cách sử dụng mô hình tự hồi quy với dữ
liệu quý thu thập từ quý 1 năm 1972 đến quý 4 năm 1987 của 8 nước như: Úc,
Pháp, Đức, Anh, Mỹ …. Các biến được xem xét trong mô hình gồm chi tiêu của
chính phủ, thu từ thuế, tỷ giá hối đoái thực và cán cân tài khoản vãng lai. Kết quả

28

ước lượng cho thấy có mối tương quan giữa thâm hụt ngân sách với các biến kinh
tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái và cán cân tài khoản vãng lai. Xung lực phản ứng của
cán cân tài khoản vãng lai có xu hướng được cải thiện khi có sự gia tăng trong thu
ngân sách như phát hành nợ hay tăng thuế; sự gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai
chịu sự tác động của sự tăng lên của chi tiêu chính phủ ở các quốc gia được khảo
sát loại trừ trường hợp của nước Úc và Pháp. Tuy nhiên, tình trạng thâm hụt kép
này thay đổi khác nhau về thờigian và mức độ tùy thuộc vào các quyết định tài
chính của chính phủ trong dài hạn. Sự bù đắp thâm hụt ngân sách bằng thuế hay
bằng nợ sẽ có những ảnh hưởng khác nhau đến tình trạng cân bằng của cán cân tài
khoản vãng lai.
Guy Debelle and Hamid Faruqee (1996) cũng đã nghiên cứu thực nghiệm về
các nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai của 21 nước công nghiệp từ
1971 – 1993 gồm Anh, Úc, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Na Uy, Thụy
Điển, Thụy Sỹ, Canada, Nhật, Phần Lan, Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban
Nha, Áo, Tân Tây Lan. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến với cơ sở dữ liệu
chéo để khảo sát mức độ ảnh hưởng của các nhân tố (biến độc lập) gồm: Cán cân
ngân sách được đo lường bằng tỷ lệ của thặng dư (biểu thị bằng số dương và thâm
hụt biểu thị bằng số âm) so với GDP; Mức độ phát triển – đo lường bằng GDP bình
quân trên đầu người; Nhân khẩu học – đo lường bằng tỷ lệ dân số ngoài độ tuổi lao
động trên dân số trong độ tuổi lao động; Tự do hóa tài chính được đo lường bằng
chỉ số về mức độ kiểm soát dòng vốn đến cán cân tài khoản vãng lai (biến phụ
thuộc) được đo lường bằng tỷ lệ của cán cân tài khoản vãng lai so với GDP. Kết
quả ước lượng cho thấy rằng chính sách tài khóa có tác động đến cán cân tài khoản
vãng lai. Bất cứ một sự giảm trong cán cân ngân sách có liên quan đến sự giảm
trong cán cân tài khoản vãng lai nhưng không theo tỷ lệ một – một. Tuy nhiên mức
độ ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến cán cân tài khoản vãng lai thay đổi tùy
theo mức độ nợ của Chính phủ. Đối với các quốc gia được khảo sát có tỷ lệ nợ dưới
50% so với GDP, thì cán cân ngân sách có ảnh hưởng một cách rõ ràng đến cán cân
tài khoản vãng lai. Ngược lại ở những nước có tỷ lệ nợ của Chính phủ trên 50% so

29

với GDP thì chính sách tài khóa không có tác động gì đáng kể đến thâm hụt hay
thặng dư của tài khoản vãng lai.
Berrnhein (1988) nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến cán
cân tài khoản vãng lai của 6 nước gồm Mỹ, Canada, Anh, Tây Đức, Mexico và
Nhật. Số liệu năm thu thập từ 1960 – 1984 được phân tích bằng mô hình hồi quy
với phương pháp bình phương bé nhất với các biến gồm: thặng dư tài khoản vãng
lai, thặng dư ngân sách, tăng trưởng kinh kế. Phân tích số liệu theo chuỗi thời gian,
kết quả cho thấy rằng cứ thâm hụt ngân sách tăng 1 USD có liên quan đến 0,3 USD
giảm đi trong thặng dư tài khoản vãng lai ở các nước nghiên cứu ngoại trừ nước
Nhật. Riêng ở Mexico mức độ ảnh hưởng này lớn hơn khoảng 0,85 USD giảm đi
trong thăng dư tài khoản vãng lai khi thâm hụt ngân sách tăng 1 USD. Theo tác giả
sở dĩ có kết quả như thế do xu hướng tiêu dùng biên ở các nước nghèo như Mixico
thường cao hơn so với các người phát triển. Tuy nhiên mối quan hệ này không rõ
ràng và không chắc chắn đối với Nhật có lẽ là do Chính phủ Nhật duy trì chính sách
can thiệp sâu vào thương mại quốc tế thông qua kiểm soát chặt chẽ xuất nhập khẩu
và dòng chảy của vốn.
Olga Vyshnyak (2002) nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và
cán cân tài khoản vãng của Ukraine với dữ liệu thu thập theo quý từ 1995 – 1999,
sử dụng mô hình hồi quy với kỹ thuật ước lượng VAR có các nhân tố: cán cân ngân
sách được đo lường bằng tỷ lệ % so với GDP, cán cân tài khoản vãng lai được đo
lường bằng tỷ lệ % so với GDP và một số biến giả. Bằng cách sử dụng kiểm định
Augmented Dickey-Fuller, tác giả tiến hành kiểm định lần lượt tính dừng và mối
tương quan của hai biến cán cân ngân sách và cán cân tài khoản vãng lai. Sau đó tác
giả kiểm định mối tương tác giữa hai nhân tố trên bằng kiểm định ngẫu nhiên
Granger. Kết quả nhận được cho thấy là có có mối quan hệ lệ thuộc nhau trong dài
hạn giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai với bộ dữ liệu
của Ukraine, đặc biệt là thâm hụt ngân sách chính phủ trong quá khứ cũng có ảnh
hưởng đến tình trạng của cán cân tài khoản vãng lai.

30

Nozar Hashemzadeh và Ernie Wade, Đại Học Radford, Mỹ (2002) đã nghiên
cứu hiện tượng thâm hụt kép với số liệu thu thập từ 12 quốc gia thuộc khu vực
Trung Đông và Bắc Phi như Bahrain, Ai Cập, Iran, Jordan, Kuwait, Morocco,
Oman, Nigeria, Syria, Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ và Yemen từ năm 1980 đến năm 2000.
Bằng mô hình véctơ tự hồi quy với hai biến nội sinh là thâm hụt tài khoản vãng lai
và thâm hụt ngân sách, độ trễ là 2, thông qua các bước kiểm định ngẫu nhiên
Granger , tác giả nhận thấy có mối liên hệ và ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách với
thâm hụt tài khoản vãng lai. Tuy nhiên sự ảnh hưởng này thay đổi ở từng nước khác
nhau. Đối với trường hợp của Kuwait và Thổ Nhĩ Kỳ, sự tác động của thâm hụt
ngân sách đến thâm hụt tài khoản vãng lai rất rõ. Còn đối với các nước như Ai Cập,
Iran, Morocco, Syria, Nigeria, Tunisia và Bahrain, không có bất cứ sự liên hệ nào
giữa ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến thâm hụt tài khoản vãng lai. Còn đối
với các nước như Jordan, Oman, Syria và Yemen, sự ảnh hưởng giữa thâm hụt
ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lại ở trạng thái đảo ngược. Đặc biệt là ở
trường hợp của Yemen, thâm hụt ngân sách chịu tác động của thâm hụt tài khoản
vãng lai và với độ trễ ít nhất là một kỳ.
Ahmad Zubaidi Baharumshah và Evan Lau thuộc Đại Học Putre, Malaysia
(2003) đã nghiên cứu và khảo sát mối quan hệ giữa chính sách tài khóa với tài
khoản vãng lai. Tác giả đã khảo sát và phân tích số liệu năm từ 1980 - 2001 của
chín quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Châu Á gồm: Malaysia, Singapore, Thái
Lan, Indonesia, Nam Triều Tiên, Myanmar, Nepal, Sri Lanka va Philippine. Thông
qua mô hình tự hồi quy vectơ (Vector Auto-Regression), tác giả xem xét ảnh hưởng
của các biến độc lập gồm thâm hụt ngân sách, tỷ giá hối đoái danh nghĩa so với
đồng USD và lãi suất ngắn hạn đến biến phụ thuộc là thâm hụt của tài khoản vãng
lai như thế nào. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, ở các quốc gia này trong thời
gian số liệu được tập hợp từ 1980 – 2001, tài khoản vãng lai của chín nước được
khảo sát trên có biến động theo sự sự biến động của nhân tố thâm hụt ngân sách, tỷ
giá hối đoái danh nghĩa và lãi suất ngắn hạn, trong đó nhân tố lãi suất và thâm hụt
ngân sách có ảnh hưởng lới đến cán cân tài khoản vãng lai. Kết quả phân tích còn

31

cho thấy rằng thâm hụt ngân sách và cán cân tài khoản vãng lai có mối quan hệ qua
lại lẫn nhau theo hai cơ chế: cơ chế thứ nhất là thâm hụt ngân sách tác động trực
tiếp đến cán cân tài khoản vãng lai và cơ chế thứ hai thâm hụt ngân sách có tác
động gián tiếp đến cán cân tài khoản vãng lai thông qua ảnh hưởng của nó đến lãi
suất. Thâm hụt ngân sách có ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất. Khi lãi suất thay đổi
sẽ có tác động đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và đến lượt nó tỷ giá đối đoái sẽ
tác động đến diễn biến của cán cân tài khoản vãng lai. Kết quả nghiên cứu của
Ahmad Zubaidi Baharumshah và Evan Lau thuộc Đại Học Putre, Malaysia về cơ
chế tác động của thâm hụt ngân sách đến tài khoản vãng lai có thể được biểu diễn
theo sơ đồ sau:

LÃI SUẤT
NGẮN HẠN

THÂM HỤT
NGÂN SÁCH

TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI

THÂM HỤT TÀI
KHOẢN VÃNG LAI

→ : Tác động gián tiếp

↔ : Tác động trực tiếp

Ali Salman Saleh, Đại Học Monash, Malaysia (2006) nghiên cứu thực
nghiệm về mối quan liên kết giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng
lai của Lebanon, một quốc gia có thâm hụt ngân sách liên tục trong 3 thập kỷ qua,
với dữ liệu thu thập từ năm 1975 đến năm 2003. Kết quả phân tích với mô hình tự
hồi quy vectơ cho thấy rằng thâm hụt ngân sách có ảnh hưởng đáng kể đến thâm
hụt tài khoản vãng lai trong dài hạn, cứ 1% tăng lên trong thâm hụt ngân sách dẫn
đến 0,8172% tăng lên trong thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai.

32

Ashok Parikh và Bill Rao (2006) nghiên cứu về hiện tượng được gọi là
“thâm hụt kép” của nền kinh tế Ấn Độ, xem xét sự tác động của thâm hụt ngân sách
đến diễn biến cán cân tài khoản vãng lai thông qua hồi quy tuyến tính. Tác giả xây
dựng mô hình hồi quy tuyến tính với quan điểm các nhân tố thâm hụt cán cân tài
khoản vãng lai, thâm hụt ngân sách, đầu tư khu vực tư nhân và tỷ giá thực có mối
quan hệ tương tác với nhau, mô hình cụ thể:
CAD= f (FDP, INVGDP, LREER)
Trong đó:
-

CAD: thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai được đo lường bằng
tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP, giá trị dương thể
hiện thâm hụt, giá trị âm thể hiện thặng dư

-

FDP: thâm hụt ngân sách đo lường bằng tỷ lệ thâm hụt ngân
sách so với GDP; giá trị dương thể hiện thâm hụt, giá trị âm thể
hiện thặng dư

-

INVGDP: đầu tư khu vực tư nhân đo lường bằng tỷ lệ đầu tư so
với GDP

-

LREER: tỷ giá thực đo lường bằng logarit của tỷ giá thực tính
bằng bình quân có trọng số của tỷ giá của đồng rupi với 36 ngoại
tệ khác nhau có tham gia trao đổi thương mại với Ấn Độ.

Số liệu được thu thập là số liệu năm của Ấn Độ từ 1970 đến 2000.
Kết quả phân tích cho thấy thâm hụt tài khoản vãng lai có ảnh hưởng đáng
kể đến thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai trong cả ngắn hạn và dài hạn
Christiane Nickel and Isabel Vansteenkiste (2008) đã nghiên cứu các nhân tố
tác động đến cán cân tài khoản vãng lai thông qua mô hình hồi quy với số liệu được
thu thập của 22 quốc gia công nghiệp từ năm 1981 – 2005 như: Anh, Úc, Bỉ, Đan
Mạch, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Canada, Nhật, Phần
Lan …. Biến phụ thuộc là cán cân tài khoản vãng lai được đo lường bằng tỷ lệ % so
với GDP, các biến độc lập lần lượt là chính sách tài khóa được đo lường bằng tỷ lệ
% nợ của Chính phủ so với GDP; tỷ lệ % của đầu tư so với GDP, sự thay đổi của tỷ

33

giá hối đoái thực. Kết quả phân tích từ mô hình hồi quy cho thấy rằng sự tác động
của chính sách tài khóa đến cán cân tài khoản vãng lai ở các quốc gia này phụ thuộc
vào tỷ lệ nợ của chính phủ so với GDP. Đối với các quốc gia có tỷ lệ nợ của Chính
phủ so với GDP thấp dưới 44% so với GDP, thì chính sách tài khóa có tác động rõ
ràng và có ảnh hưởng lớn đến cán cân tài khoản vãng lai. Bất cứ một sự gia tăng
nào trong thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến sự thâm hụt trong tài khoản vãng lai. Đối
với các quốc gia có tỷ lệ nợ của Chính phủ so với GDP ớ mức từ 44% đến 90% với
GDP, thì chính sách tài khóa có tác động đến cán cân tài khoản vãng lai tuy không
lớn và rõ ràng (kết quả ước lượng cho thấy hệ số tương quan giữa chính sách tài
khóa và cán cân tài khoản vãng lai ở các quốc gia có tỷ lệ của Chính phủ so với
GDP từ 44% đến 90% có giá trị chỉ bằng một nữa hệ số tương quan được ước
lượng của các quốc gia có tỷ lệ của Chính phủ so với GDP dưới 44%). Trong khi
đó đối với các quốc gia có tỷ lệ nợ của Chính phủ so với GDP ớ mức trên 90% với
GDP, thì chính sách tài khóa không có tác động gì đến cán cân tài khoản vãng lai.
Bất cứ một sự gia tăng thâm hụt ngân sách không dẫn đến sự tăng thêm trong thâm
hụt cán cân tài khoản vãng lai. Kết quả tương tự khi tác giả mở rộng khảo sát cùng
mô hình này cho 11 quốc gia có sử dụng đồng tiền chung Châu Âu. Ảnh hưởng của
chính sách tài khóa đến cán cân tài khoản vãng lai hoàn toàn rõ ràng đối với các
quốc gia có tỷ lệ nợ của Chính phủ so với GDP ớ mức từ 56% đến 80% với GDP.
S.M.Ali Abbas, Jacques Bouhga-Hagbe, Antonio J. Fatás, Paolo Mauro và
Ricardo C.Velloso (2010) sử dụng mô hình hồi quy phân tích hiện tượng thâm hụt
cán cân tài khoản vãng lai có liên quan như thế nào với những thay đổi của chính
sách tài khóa và ngược lại chính sách tài khóa có tác động như thế nào đến việc cải
thiện hay làm xấu đi tình trạng cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia. Số liệu
được thu thập là số liệu năm từ năm 1980 đến năm 2007 của 176 quốc gia trong đó
có 46 quốc gia thuộc nhóm nước xuất khẩu dầu và 140 quốc gia còn lại thuộc nhóm
các quốc gia không có xuất khẩu dầu. Tác giả thiết lập mô hình hồi quy với biến
phụ thuộc là thâm hụt tài khoản vãng lai tính theo tỷ lệ % so với GDP, các biến độc
lập gồm chính sách tài khóa được đo lường bằng tỷ lệ cán cân ngân sách so với