Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA,TÀI KHOẢN VÃNG LAI CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1990 - 2010

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA,TÀI KHOẢN VÃNG LAI CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1990 - 2010

Tải bản đầy đủ

37

Những cải cách kinh tế mạnh mẽ đó đã mang lại cho Việt Nam những thành
quả bước đầu rất đáng phấn khởi. Việt Nam đã tạo ra được một môi trường kinh tế
thị trường có tính cạnh tranh và năng động. Các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở
nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu và phát triển thêm một số
lĩnh vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn như du lịch, xuất khẩu
lao động, kiều hối...
Trong hơn 20 năm đổi mới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có được
những thành tựu đáng kể, GDP của Việt Nam đã tăng liên tục từ mức 7,79 tỷ USD
(năm 1990) lên 92,5 tỷ USD (năm 2010). Từ năm 1986 đến năm 1990, tốc độ tăng
GDP bình quân đạt 4,4% /năm. Từ năm 1991, nền kinh tế Việt Nam khắc phục
được tình trạng trì trệ, suy thoái, bắt đầu có những khởi sắc với tốc độ tăng trưởng
tương đối cao, liên tục và toàn diện. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
chủ yếu vẫn là về số lượng, theo chiều rộng, trong đó, chủ yếu do số lượng vốn đầu
tư, trong khi chất lượng tăng trưởng vẫn thấp (yếu tố tăng số lượng đã chiếm tới
57,5% trong tốc độ tăng trưởng, yếu tố tăng số lượng lao động chiếm khoảng 20%
còn các yếu tố còn lại chỉ đóng góp khoảng 22,5%)
Cùng với việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu kinh tế trong nước của
Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể. Từ năm 1990 đến 2010, tỷ trọng của khu vực
nông-lâm nghiệp thủy sản đã giảm từ 38,7% xuống dưới 20% GDP, nhường chỗ
cho sự tăng lên về tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng từ 22,7% lên
41,1%, còn khu vực dịch vụ được duy trì ở mức gần như không thay đổi: 38,6%
năm 1990 và 38,3% năm 2010. Trong từng nhóm ngành, cơ cấu cũng có sự thay đổi
tích cực. Trong cơ cấu công nghiệp, tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến tăng,
chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Cơ cấu của khu vực dịch vụ thay
đổi theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của các ngành dịch vụ có chất lượng cao như tài
chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch…
Bảng 3.1: Tăng trưởng GPD và cơ cấu kinh tế 2005 – 2010

38

Chỉ tiêu

Đơn
2005
vị

2006

2007

2008

2009

2010

Tăng trưởng GDP

%

8,5

8,2

8,5

6,2

5,3

6,8

Tỷ trọng trong GDP

%

100

100

100

100

100

100

Nông - Lâm - Thủy sản

%

20,9

20,5

20,3

22,2

20,9

20,6

Công nghiệp - xây
dựng

%

41,1

41,5

41,5

39,9

40,2

41,1

%

20,6

21,3

21,3

21,2

21

19,7

%

38

38

38,2

37,9

38,9

38,3

Riêng công nghiệp
chế biến
Dịch vụ
Nguồn: Tổng cục thống kê

Với chủ trương tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế
của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt
Nam là thành viên quan trọng trong ASEAN, tích cực thực hiện các cam kết khu
vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), là thành viên tích cực của APEC, ASEM và
nhiều tổ chức kinh tế quốc tế khác. Hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nền kinh
tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ ngày càng được củng cố
và mở rộng. Việt Nam đã ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ, đang đàm
phán hiệp định đầu tư với Mỹ, Hiệp định khung Đối tác và Hợp tác toàn diện
(PCA) với EU, hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản. Tháng 01 năm
2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), có
quan hệ với trên 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, đánh dấu sự hội nhập toàn diện và
đầy đủ của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu.
Từ sau đổi mới, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mỗi năm tăng
khoảng 20%. Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đã tăng từ 2,4 tỷ USD trong năm 1990
lên gần 14,5 tỷ USD năm 2000, đến năm 2005 đạt trên 32 tỷ USD năm 2005, và đạt
104,6 tỷ USD vào năm 2010. Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP cũng tăng
nhanh từ 30,8% năm 1990 lên 55% năm 2000, và đạt 80% vào năm 2010 - thuộc

39

loại cao so với các nước (đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, đứng thứ 5 ở Châu Á
và thứ 8 trên thế giới). Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch tiến bộ. Trong
giai đoạn 1991-1995, hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm dầu thô, thủy sản,
gạo, dệt may, cà phê, lâm sản, cao su, lạc, hạt điều. Đến năm 2010, các mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử,
máy tính và gạo. Cơ cấu này phản ánh xu hướng gia tăng các chủng loại mặt hàng
chế biến, chế tạo, và sự giảm đi về tỷ trọng của các mặt hàng xuất khẩu thô, chủ
yếu là các mặt hàng nông, lâm, hải sản và khoáng sản. Dù vậy, các mặt hàng xuất
khẩu thô của Việt Nam đến nay vẫ còn chiếm tỷ trọng cao, đòi hỏi sự nỗ lực hơn
nữa để tăng nhanh các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu.
Bảng 3.2: Tăng trưởng xuất nhập khẩu qua hàng năm, 2005 - 2010
Chỉ tiêu
Xuất khẩu

Đơn
vị

2005

2006

2007

2008

2009

2010

%

22,51

22,74 21,93

29,08

-8,92

25,44

Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Hàng thô

%

49,10

47,87 44,18

43,72

45,73

45,15

Hàng chế biến
hoặc đã tinh chế

%

50,36

51,70 55,37

55,24

53,54

54,68

%

14,99

22,12 39,82

28,60 -14,72

22,05

Nhập khẩu

Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Hàng thô

%

24,33

24,69 23,52

25,85

28,66

28,35

Hàng chế biến
hoặc đã tinh chế

%

72,45

70,24 73,33

69,65

67,18

67,31

Nguồn: Tổng cục thống kê
Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban
hành tháng 12/1987 và được sửa đổi, bổ sung, nổi bật là các lần sửa đổi vào những
năm 1996 và năm 2002 đã tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn để
khuyến khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu tư vào những mục tiêu trọng điểm và

40

những lĩnh vực ưu tiên, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hướng
vào xuất khẩu và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút được một lượng đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng lớn. Từ ở mức gần như con số không vào năm
1986, vốn đăng ký FDI đã tăng lên 64 tỷ USD năm 2008. Tính đến 21/12/2010, cả
nước có 12,2 nghìn dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn
đăng ký là 192,9 tỷ USD.
Bảng 3.3: Cơ cấu vốn đầu tư xã hội theo sở hữu năm 2005 - 2010
Đơn
vị

2005

2006

2007

2008 2009 2010

Khu vực nhà nước

%

47,1

45,7

37,2

28,5

37,2

38,1

Khu vực ngoài nhà nước

%

38,0

38,1

38,5

40,0

38,5

36,1

Khu vực có vốn FDI

%

14,9

16,2

24,3

31,5

24,3

25,8

%

100

100

100

100

100

100

Chỉ tiêu

Tổng
Nguồn: Tổng cục thống kê

Khu vực FDI đã và đang đóng góp ngày càng tích cực hơn cho nền kinh tế.
Tỷ trọng của khu vực này trong GDP tăng từ 13,3% năm 2000 lên 17,1% năm
2006, 18,0% năm 2007, và 19,5% năm 2010. Tỷ trọng khu vực doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài trong tổng kim ngạch xuất khẩu (không tính xuất khẩu dầu
thô) tăng từ 22,2% năm 2000 lên 36,9% năm 2006, 39,7% năm 2007, nhưng năm
2008 giảm nhẹ xuống còn 38,8% và đến năm 2010 đạt mức 47,3%.
FDI tăng không chỉ hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước
ngoài, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn, chuyển giao
công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại, khai thác các tiềm năng của đất
nước, đào tạo tay nghề và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, góp
phần phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào
Việt Nam tăng nhanh còn do các nguyên nhân quan trọng khác như: sự ổn định về

41

chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng; nền kinh tế Việt Nam liên tục đạt mức
tăng trưởng cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường tiếp tục được duy
trì và đẩy mạnh; mức sống của người dân được nâng cao góp phần làm tăng mức
cầu nội địa; tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, uy tín và thương
hiệu của các loại hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trên các thị trường thế giới ngày
càng được nâng cao.
Nhìn chung, quá trình tăng trưởng kinh tế Việt nam có thể chia thành các
giai đoạn sau:
Giai đoạn tăng trưởng cao (1991 - 1996): Việt Nam đạt mức tăng trưởng
bình quân trên 8%/năm và đạt mức cao nhất vào năm 1995 với tốc độ tăng trưởng
là 9,5%.
Giai đoạn suy thoái (1997 – 2001): Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ của khu vực năm 1997, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam
trong những năm này giảm xuống 5,8% năm 1998 và 4,8% năm 1999.
Giai đoạn phục hồi (2002 – 2007): Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã có
sự phục hồi đáng kể, tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2003 – 2007 đạt
8,04%/năm.
Năm 2008 - 2009, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thấp hơn so với
các năm trước đạt ở mức 6,2% năm 2008, 5,3% năm 2009 và ước đạt 6% năm
2010. Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang chịu ảnh hưởng của
khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu thì đây lại là mức tăng trưởng tương đối.

Hình 3.1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo giá cố định (1990 -2010)

42

Tỷ lệ tăng trưởng
10,0%

Tăng trưởng GDP
(%)(giá cố định)

9,0%
8,0%
7,0%
6,0%
5,0%
4,0%
3,0%
1990

1992

1994

1996

1998

2000

2002

2004

2006

2008

2010

Năm

Nguồn: Tổng cục thống kê
So sánh với các nước trong khu vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam
đứng thứ hai sau Trung Quốc, cao hơn các nước ASEAN khác như Malaysia,
Philipin, Indonesia và Thái Lan. Nhờ tốc độ tăng trưởng kinh kế cao, quy mô GDP
của Việt Nam tăng lên nhanh chóng, năm 2005 đã gấp 3 lần năm 1990. Thu nhập
bình quân đầu người tăng từ 118 USD (năm 1990) lên 1.074 USD (năm 2009).
Tăng trưởng kinh tế tác động tích cực đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội.
Có thể nhận thấy, từ đầu thập niên 90 đến nay mặc dù có những dao động về
tốc độ tăng GDP nhưng nhìn chung tăng trưởng kinh tế của Việt Nam của cả giai
đoạn 1990 – 2010 vẫn tương đối ổn định và vượt qua những đợt suy thoái. Một
trong những yếu tố góp phần sự tăng trưởng ổn định và vượt qua suy thoái có sự tác
động sâu sắc từ chính sách tài khóa của chính phủ. Việt Nam đã sử dụng một cách
hiệu quả các thành tựu kinh tế vào mục tiêu phát triển xã hội như phân chia một
cách tương đối đồng đều các lợi ích của đổi mới cho đại đa số dân chúng; gắn kết
tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển y tế, giáo dục;
nâng chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam từ vị trí thứ 120/174 nước

43

năm 1994, lên vị trí thứ 109/177 nước trên thế giới năm 2010; tăng tuổi thọ trung
bình của người dân từ 50 tuổi trong những năm 1960 lên đến 73 tuổi năm 2008,
giảm tỷ lệ số hộ đói nghèo từ trên 70% đầu những năm 1980 xuống 14,75% năm
2007 (tương đương 2,7 triệu hộ nghèo), ước tính còn khoảng trên 13% vào cuối
năm 2008.
Các chuyên gia khẳng định, kinh tế Việt Nam đã vượt qua giai đoạn đáy suy
thoái và đang có xu hướng phục hồi. Giới phân tích nước ngoài đánh giá Việt
Nam đã lập được kỳ tích khi đạt mức tăng trưởng GDP 5,32% vào năm 2009,
trong giai đoạn kinh tế toàn cầu suy thoái.
Báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á 2010 do Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB) công bố ngày 13/4/2010 vừa qua nhận định, “nhờ các giải pháp chính
sách kịp thời và mạnh mẽ, Việt Nam đã vượt qua suy thoái kinh tế toàn cầu năm
2009, dự kiến sẽ tăng trưởng cao hơn vào năm 2010 và 2011”. Theo dự báo, Việt
Nam sẽ đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á với mức tăng trưởng GDP khoảng 6,5%
năm 2009 và 6,8% năm 2010.
3.2. Thực trạng chính sách tài khóa Việt Nam giai đoạn 1990 -2010
Trong những năm trước 1986, nền kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn,
sản xuất trì trệ, lưu thông hàng hóa không thông suốt, ngân sách nhà nước thâm hụt
một cách trầm trọng, thu không đủ chi thường xuyên, chi tiêu Chính phủ chủ yếu
nhờ vào sự viện trợ của nước ngoài là chính, tình trạng quan liêu bao cấp chi phối
các hoạt động trong xã hội. Ý thức được điều này, Đảng đã chủ trưởng đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp
sang cơ chế thị trường có định hướng XHCN. Trong hơn 20 năm đổi mới, hàng loạt
các chính sách của chính phủ, trong đó có chính sách tài khóa đã được ban hành và
điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, hòa nhập với thế giới.
Mọi nền kinh tế khi chuyển đổi đều đòi hỏi phải kịp thời có những chính
sách tài chính phù hợp. Đồng thời những chính sách phù hợp, năng động tích cực
đóng vai trò là tác nhân quan trọng thúc đẩy nền kinh tế chuyển đổi nhanh theo

44

hướng thị trường hơn. Qua mười lăm năm đổi mới, chính sách tài khóa của Việt
Nam mang những dấu hiệu riêng phản ánh nhu cầu kinh tế xã hội của từng giai
đoạn. Chính sách tài chính, vì thế vừa là động lực vừa là sản phẩm của hoạt động
kinh tế xã hội.
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới (1987 – 1990), nhằm ổn định tình
hình kinh tế xã hội, chính sách tài khóa mở rộng được thực thi, đẩy mạnh tiêu dùng
kích thích cung cầu của nền kinh tế, thâm hụt ngân sách trong giai đoạn này còn
khá cao. Thâm hụt ngân sách trung bình hàng năm trong giai đoạn này ở mức 7,3%
so với GDP
Bảng 3.4: Thâm hụt ngân sách nhà nước năm 1987 - 1990
Chỉ tiêu
Thâm hụt ngân sách
Tỷ lệ so với GDP

Đơn vị

1987

1988

1989

1990

Tỷ đồng

130,4

1.072

1.081

3.033

4,9

8,1

8,1

7,9

%

Nguồn: Bộ Tài chính
Ở giai đoạn sau (1991 – 1997), tình hình Việt Nam đã có nhiều chuyển biến
tích cực, sản xuất và lưu thông hàng hoá đã có động lực mới, tình trạng thiếu lương
thực đã được giải quyết căn bản, lạm phát siêu mã đã được đẩy lùi, tuy nhiên lạm
phát cao vẫn còn. Cơ cấu chi NSNN đã dần dần thay đổi theo hướng tích cực.
Nguồn thu trong nước đã đủ cho chi thường xuyên, tình trạng đi vay hoặc dựa vào
phát hành tiền cho chi thường xuyên đã chấm dứt. Hệ thống thuế của Việt Nam đã
bắt đầu cải cách, đổi mới tương đối đồng bộ, cơ cấu tương đối hợp lý, bước đầu đã
phát huy được nhiều tác dụng tích cực như đảm bảo ổn định và phát triển nguồn thu
ngân sách Nhà nước, đảm bảo sự bình đẳng của các thành phần kinh tế tham gia
đóng thuế. Trong giai đoạn này, chính phủ đã thực thi chính sách tài khóa thắt chặt
– lượng thu mà chi – khống chế bội chi ở mức thấp nhất để kiểm soát lạm phát.
Thâm hụt ngân sách giảm đáng kể là do kết quả của những biện pháp cứng rắn như
cắt giảm chi tiêu chính phủ, chi đúng đối tượng có hiệu quả, xóa bỏ dần các loại trợ

45

cấp qua giá, lương, trợ cấp cho xí nghiệp quốc doanh. Nhờ đó, tình hình tài chính
và kinh tế vĩ mô đã được duy trì ổn định; tốc độ tăng trưởng GDP đạt cao, lạm phát
được đẩy lùi từ lạm phát phi mã với mức tăng giá 3 chỉ sô của những năm 1986 –
1989, tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn này được khống chế ở mức trung bình 8,4%.
Thâm hụt ngân sách trung bình hàng năm từ 1991 đến 1997 ở mức 3,7% so với
GDP.
Bảng 3.5: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách, tỷ lệ tăng GDP
và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1991 - 1997
Năm

Đơn
vị

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

Tỷ lệ thâm hụt
ngân sách so
với GDP

%

2,50

3,80

4,30

4,70

4,10

3,00

4,00

Tỷ lệ tăng GDP %

5,80

8,70

8,10

8,80

9,50

9,30

8,20

6,00

8,70

8,10

8,80

9,60

9,30

5,80

Tỷ lệ lạm phát

%

Nguồn: Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê
Tuy nhiên những năm cuối thập kỷ, bối cảnh kinh tế xã hội thay đổi do ảnh
hưởng tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế khu vực, nền kinh tế Việt Nam
gặp không ít khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm (giảm dần từ năm 1996, đến
năm 2000 nền kinh tế mới có dấu hiệu tăng), chính sách tài chính thắt chặt đã tỏ ra
không phù hợp và có dấu hiệu kìm hãm sự phát triển. Để chặn đà giảm sút của tốc
độ tăng trưởng, hạn chế sự suy giảm của qui mô và tốc độ đầu tư, tiêu dùng, chính
sách tài khóa giai đoạn 1998 – 2001 đã được điều chỉnh theo hướng chuyển từ thắt
chặt sang nới lỏng – đẩy mạnh các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng – bằng
các biện pháp tăng tỷ lệ và mức chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, tăng
mức bội chi, tăng lương tối thiểu. Thâm hụt ngân sách trung bình hàng năm ở giai
đoạn này (từ 1997 đến 2001) ở mức 4,5% so với GDP
Bảng 3.6: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách, tỷ lệ tăng GDP

46

và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1998 – 2001
Năm

Đơn vị

1998

1999

2000

2001

Tỷ lệ thâm hụt ngân
sách so với GDP

%

3,80

4,90

4,98

4,67

Tỷ lệ tăng GDP

%

5,80

4,80

6,80

6,90

Tỷ lệ lạm phát

%

4,80

6,80

6,80

7,00

Nguồn: Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê
Giai đoạn từ 2002 - 2007, Chính phủ đang thực thi chính sách tài khóa với
quan điểm thúc đẩy sự hình thành và phát triển đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, nâng
cao tiềm lực tài chính quốc gia, chính sách tài chính gắn liền với hội nhập kinh tế,
tài chính quốc tế. Tốc độ tăng thu hằng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi
bình quân hằng năm đạt 18,5%. Thâm hụt ngân sách trung bình hàng năm ở giai
đoạn này (từ 2002 đến 2007) ở mức 4,9% so với GDP
Trong năm 2008 với tình hình lạm phát có xu hướng tăng cao liên tục, chính
phủ đã thực thi một loạt các gói chính sách từ tiền tệ đến tài chính với mục tiêu kìm
hãm và giảm lạm phát. Chính sách tài khóa được điều hành theo hướng thắt chặt chi
tiêu, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư công và
đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước; giảm mạnh chi phí hành chính trong các cơ
quan nhà nước, đi đôi với triển khai thực hiện tốt chính sách tiền lương, chính sách
đầu tư, chính sách xuất nhập khẩu... bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, hỗ trợ, thúc đẩy
lẫn nhau để đạt hiệu quả cao. Thâm hụt ngân sách năm 2008 ở mức khoảng 4,5% so
với GDP.
Vừa trải qua nhiệm vụ chống lạm phát trong năm 2008, sang năm 2009, nền
kinh tế Việt Nam lại phải đối mặt với những khó khăn do suy giảm từ kinh tế toàn
cầu vào cuối năm 2008 - đầu năm 2009, cộng với những diễn biến phức tạp của
thiên tai, lũ lụt và dịch bệnh …, chính phủ đã áp dụng chính sách tài khóa mở rộng
để kích cầu. Chính sách tài khóa - tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác được thực

47

hiện một cách linh hoạt và đồng bộ. Năm 2009, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà
nước đạt mức kỷ lục - 161 nghìn tỷ đồng và có xu hướng giảm trong năm 2010 đạt 141,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,1% tổng vốn đầu tư cả nước.
Trước tình hình kinh tế gặp nhiều bất lợi, chính phủ đã sử dụng nhiều biện
pháp nhằm kích thích kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân. Tháng 11/2008, “năm
nhóm giải pháp” nhằm hỗ trợ hoạt động kinh tế được công bố. Gói kích thích kinh
tế bao gồm miễn, giảm và hoãn nộp các loại thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đã được thực hiện. Tổng số thuế miễn,
giảm, giãn trong năm 2009 ước tính đạt khoảng 20.000 tỷ đồng. Gói kích cầu này
cũng bao gồm biện pháp trợ cấp tiền mặt cho các hộ nghèo nhân dịp Tết Nguyên
đán, thời điểm những người lao động di cư trở về nhà đón Tết. Các biện pháp kích
cầu tiếp theo được đưa ra vào tháng 2/2009, bao gồm chương trình hỗ trợ lãi suất
ngắn hạn được áp dụng để tái cấp vốn cho các khoản nợ mà doanh nghiệp đã phải
vay với các điều khoản khó khăn trong giai đoạn bình ổn. Đồng thời Bộ Tài chính
đã tập trung ứng trước ngân sách nhà nước, tăng chi từ vốn trái phiếu Chính phủ,
chuyển vốn đầu tư thuộc kế hoạch năm 2008 sang năm 2009. Nhờ đó nền kinh tế
Việt Nam đã vượt qua đáy khủng hoảng vào quý 1/2009 với tốc độ tăng trưởng
kinh tế năm 2009 đạt 5,3%, tỷ lệ lạm phát đã giảm còn 6,88% từ 23% năm 2008,
đến năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế có cao hơn đạt 6,8% nhưng tỷ lệ lạm phát
cũng có dấu hiệu tăng ở mức 9,19%; thị trường chứng khoán và các hoạt động dịch
vụ tài chính, ngân hàng được phục hồi từng bước.

Hình 3.2: Thâm hụt ngân sách Việt Nam 1990 – 2010