Tải bản đầy đủ
4 NHỮNG ƢU ĐIỂM VÀ TỒN TẠI CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦIRO TÍN DỤNG TẠI NHTMCP PHƢƠNG NAM

4 NHỮNG ƢU ĐIỂM VÀ TỒN TẠI CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦIRO TÍN DỤNG TẠI NHTMCP PHƢƠNG NAM

Tải bản đầy đủ

72

Về bộ máy quản trị RRTD: Hiện tại bộ máy cấp tín dụng của NHTMCP
Phương Nam theo kiểu truyền thống. Một NVTD hoặc một nhóm NVTD tại đơn vị
tìm kiếm và giao dịch với khách hàng, đồng thời thẩm định, tiến hành các thủ tục
cho vay, thu nợ và xử lý nợ. Không có sự độc lập giữa các chức năng bán hàng (tiếp
xúc khách hàng, đàm phán, tiếp thị,…), chức năng phê duyệt tín dụng (phân tích,
thẩm định, dự báo, đo lường, đánh giá lại theo định kỳ,…) và chức năng tác nghiệp
(xử lý hồ sơ, theo dõi, giám sát khoản vay, thu nợ,…). HĐTD từ PGD/CN/SGD,
các Miền, Hội sở đến HĐTD NHTMCP Phương Nam đều được giao hạn mức phán
quyết tín dụng. Cách tổ chức bộ máy cấp tín dụng theo mô hình này có ưu điểm là
thời gian giải quyết hồ sơ nhanh chóng, giao quyền và trách nhiệm cho từng đơn vị.
Tuy nhiên, khi xã hội ngày phát triển mô hình này cũng bộc lộ khá nhiều hạn chế:
NVTD dễ phát sinh tiêu cực, chủ quan trong công việc, thiếu tính chuyên nghiệp và
thiếu khách quan,…Bộ máy kiểm soát RRTD hiện tại của NHTMCP Phương Nam
có thể nhận thấy bao gồm: các cấp quản lý tại đơn vị, P.QLCCN, P.KTKSNB &
PC, Ủy ban Quản lý rủi ro và Hội đồng xử lý rủi ro. Cách tổ chức này khá đơn giản
và tận dụng nguồn nhân lực sẵn có thực hiện nhiều nhiệm vụ nhưng lại không hiệu
quả trong công tác kiểm soát rủi ro đặc biệt là RRTD. Vì khoản cấp tín dụng trong
mức phán quyết của đơn vị thì hầu như HĐTD đơn vị toàn quyền quyết định, khoản
tín dụng vượt mức phán quyết thì đơn vị trình lên HĐTD cao hơn phê duyệt thông
qua P.QLCCN, P.KTKSNB & PC ch kiểm tra sau cấp tín dụng, Ủy ban quản lý rủi
ro đảm trách việc hoạch định về mặt chính sách, Hội đồng xử lý rủi ro thực hiện
nhiệm vụ sử dụng dự phòng để xử lý RRTD.
Về quy trình tín dụng: NHTMCP Phương Nam mới ch ban hành quy trình cho
vay nhưng còn thiếu khâu thanh lý khoản vay và lưu trữ hồ sơ sau khi tất toán một
cách khoa học. Chưa ban hành quy trình bảo lãnh, quy trình bao thanh toán, quy
trình cho vay hợp vốn,…Do vậy, trong quá trình hoạt động nếu có phát sinh các
nghiệp vụ tín dụng nêu trên sẽ không tránh khỏi những bở ngỡ và vướng mắc, dẫn
đến tình trạng mỗi đơn vị làm theo cách riêng của mình và hậu quả của sự không
đồng bộ này rất khó lường trước. Quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách

73

hàng đơn giản, chưa mang lại hiệu quả trong việc ra quyết định cấp tín dụng cũng
như công tác phòng ngừa và hạn chế RRTD. Quy trình kiểm tra, giám sát khoản
vay, tình hình sử dụng vốn vay và thu hồi nợ vay hiện tại của NHTMCP Phương
Nam quy định khá chi tiết và đầy đủ. Tuy nhiên, các quy định về kiểm tra, giám sát
trước và trong khi cho vay có phần bị trùng lắp với một số yêu cầu trong quy trình
cho vay. Hiện tại, NHTMCP Phương Nam chưa ban hành quy định về công tác
phòng ngừa và cảnh báo khoản nợ có vấn đề, chưa ban hành quy trình xử lý nợ.
Việc kiểm tra, giám sát vốn vay, cảnh báo nợ có vấn đề và xử lý nợ do một hoặc
một nhóm NVTD và lãnh đạo đơn vị thực hiện, chưa có sự hỗ trợ từ các bộ phận
chuyên trách.
Xác định giới hạn tín dụng cho khách hàng: Trong quy trình cấp tín dụng hiện
tại việc xác định giới hạn tín dụng cho khách hàng chủ yếu là định tính dựa trên tình
hình kinh doanh, khả năng tài chính (thông qua công tác thẩm định), mức độ rủi ro
(thông qua chương trình chấm điểm và xếp hạng khách hàng), các khoản cấp tín
dụng, hạn mức tín dụng trong quá khứ của khách hàng (dựa trên hệ thống dữ liệu
nội bộ Core Banking và CIC) và uy tín của khách hàng,... Từ đó đưa ra giới hạn tín
dụng mà không có quy định về một công thức và mô hình định lượng nào để tính
toán ch tiêu quan trọng này.
Các yếu tố khác: Chất lượng nguồn nhân lực cũng chưa đồng đều, tỷ lệ cán bộ
nhân viên có trình độ trên đại học thấp, dưới đại học khá cao, công tác đào tạo mới
ở mức độ cơ bản, thiếu nâng cao và chuyên sâu vào từng nghiệp vụ, đặc biệt về
quản trị rủi ro,…Công tác xử lý nợ xấu hiện tại của NHTMCP Phương Nam thiếu
tính tập trung và phối hợp, hầu hết do đơn vị cấp tín dụng chịu trách nhiệm xử lý.
Việc phân loại nợ như hiện tại ch mang tính tương đối và thiếu độ chính xác trong
thực tiễn. Theo quy định hiện hành, NHTMCP Phương Nam trích lập dự phòng
RRTD trên cơ sở nợ quá hạn chứ không phải trên mức độ RRTD, điều này là không
hợp lý vì có những khoản vay mặc dù chưa tới hạn nhưng đã tiềm ẩn khả năng mất
vốn rất cao, cần được dự phòng rủi ro song lại không được trích lập.

74

2.4.2 Về việc nhận dạng, cảnh báo, phân tích, đo lƣờng RRTD
Việc nhận dạng, cảnh báo và phân tích, đo lường RRTD về mặt định tính được
thực hiện trong quá trình thẩm định tín dụng. Tuy nhiên, quá trình này thường do
một NVTD thực hiện, có thể chúng được thực hiện nhanh chóng, xuyên suốt và
thống nhất nhưng thiếu sự đa dạng và khách quan. Về mặt định lượng RRTD là kết
quả của quá trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng, phần mềm này
lượng hóa tất cả các tiêu chí của quy trình cho vay. Tuy nhiên, chương trình này vẫn
còn nhiều hạn chế, điển hình như trường hợp một khách hàng đã được chấm điểm
và xếp hạng ở đơn vị này thì sau đó không thể tiến hành công việc tương tự tại một
đơn vị khác, muốn chấm điểm lại do khách hàng có các ch tiêu thay đổi thì ch đơn
vị cũ mới thực hiện được, hay quy định cho điểm số cao đối các tiêu chí ngoài tín
dụng như: tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ thẻ, …
Tóm lại: hoạt động quản trị RRTD của NHTMCP Phương Nam trong thời
gian qua có nhiều cải tiến cả về phương thức quản trị và công nghệ nhưng nhìn
chung chưa mang lại hiệu quả cao, chưa xác định rõ ràng phương pháp, công cụ và
mô hình quản trị RRTD phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
2.5 KHẢO SÁT THỰC TẾ CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN RRTD, CÁC
NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RRTD VÀ CÁC
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RRTD TẠI NHTMCP
PHƢƠNG NAM
Trong phần khảo sát thực tế các vấn đề nghiên cứu (Phụ lục 8). Tác giả đã
thiết lập bảng câu hỏi với mẫu 100 (Phụ lục 6), khảo sát thực tế tại các đơn vị phụ
thuộc và Hội sở chính thông qua các nhân viên và cấp quản lý làm công tác tín
dụng. Tiếp theo, nhập dữ liệu khảo sát được vào chương trình phân tích dữ liệu
thống kê (SPSS) phiên bản 16.0, chạy chương trình để xử lý số liệu và cho ra kết
quả (Phụ lục 7). Sau cùng, tiến hành phân tích và đánh giá kết quả thu được.

75

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Hoạt động tín dụng của NHTMCP Phương Nam giai đoạn 2007 – 2011 nhìn
chung có tốc độ tăng trưởng khá tốt và tuân thủ đúng các quy định pháp luật liên
quan của Chính phủ, NHNN và các chiến lược, chính sách, quy định, quy trình của
NHTMCP Phương Nam. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các sản phẩm tín dụng mới mang
tính kết hợp và tín dụng vẫn là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân
hàng. Về RRTD, nhìn chung nợ quá hạn và nợ xấu vẫn trong tầm kiểm soát, các
đơn vị và các bộ phận chức năng ở Hội sở chính nổ lực, phấn đấu trong công tác xử
lý nợ quá hạn để nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng.
Về hoạt động quản trị RRTD nhìn chung chưa hiệu quả, chưa xây dựng mô
hình quản trị theo chuẩn mực quốc tế, chính sách tín dụng chưa hiệu quả, thiếu danh
mục cho vay tối ưu, xác định giới hạn tín dụng cho khách hàng một cách định tính,
việc xử lý nợ chưa thực hiện theo hướng phòng ngừa và cảnh báo sớm thông qua hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ mà ch tiến hành xử lý khi nợ quá hạn đã xảy ra,
công tác xử lý nợ thiếu sự kết hợp và tập trung, chủ yếu do các đơn vị phát sinh nợ
xấu giải quyết,… Trên cơ sở đó, chương 3 Tác giả sẽ đề xuất các giải pháp và kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị RRTD tại NHTMCP Phương Nam.