Tải bản đầy đủ
3 HIỆP ƢỚC BASEL VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

3 HIỆP ƢỚC BASEL VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

Tải bản đầy đủ

35

Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) =

Tổng vốn
Tài sản có rủi ro (RWA)

x 100%

 Tổng vốn của ngân hàng bao gồm:
 Vốn cấp 1 – Vốn tự có cơ bản: đó chính vốn điều lệ và các quỹ dự trữ được
công bố, bao gồm: cổ phần thường; cổ phần ưu đãi dài hạn; thặng dư vốn;
lợi nhuận giữ lại; dự phòng chung các khoản dự trữ vốn khác; các phương
tiện ủy thác có thể chuyển đổi và dự phòng lỗ tín dụng.
 Vốn cấp 2 – Vốn tự có bổ sung: vốn này được xem là vốn có chất lượng
thấp hơn, bao gồm: dự trữ không được công bố; dự phòng đánh giá lại tài
sản; dự phòng chung/dự phòng tổn thất cho vay chung; các công cụ vốn lai
(nợ/vốn chủ sở hữu); nợ thứ cấp. Tuy nhiên, các khoản nợ ngắn hạn không
có bảo đảm không bao gồm trong định nghĩa về vốn này.
 Các giới hạn: tổng vốn cấp 2 không được quá 100% vốn cấp 1; nợ thứ cấp
tối đa bằng 50% vốn cấp 1; dự phòng chung tối đa bằng 1,25% tài sản có
rủi ro; dự phòng đánh giá lại tài sản được chiết khấu 55%; thời gian đáo hạn
còn lại của nợ thứ cấp tối thiểu là 5 năm; vốn ngân hàng không bao gồm
vốn vô hình (goodwill).
 Tài sản có rủi ro (RWA): Basel I ch đề cập đến RRTD (không đề cập đến xếp
hạng tín dụng) và tùy theo mức độ rủi ro của mỗi loại tài sản sẽ có một hệ số
rủi ro tương ứng là 0%, 20%, 50% và 100%.
Phƣơng trình 1.9: Tài sản có rủi ro trong Basel I:
RWA Basel I = Tài sản x Hệ số rủi ro
Tuy nhiên, Basel I có khá nhiều hạn chế: chưa phân loại rủi ro chi tiết cho các
khoản cho vay, chưa tính đến lợi ích của đa dạng hóa hoạt động, chưa tính đến các
rủi ro khác ngoài RRTD (đề cập chưa đầy đủ đến rủi ro thị trường), không thể vận
dụng một số quy tắc của Basel I trong trường hợp sáp nhập hay tập đoàn ngân hàng,
ngân hàng quốc tế.

36



Hiệp ƣớc Basel II:
Nhằm khắc phục các hạn chế của Basel I, khuyến khích ngân hàng thực hiện

các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến hơn, Basel II bao gồm các chuẩn mực giám
sát nhằm hoàn thiện các kỹ thuật quản trị rủi ro và được cấu trúc theo 3 trụ cột:
 Trụ cột thứ nhất: quy định yêu cầu về vốn tối thiểu.
 Trụ cột thứ hai: đưa ra các hướng dẫn liên quan đến giám sát ngân hàng.
 Trụ cột thứ ba: yêu cầu các ngân hàng minh bạch thông tin liên quan đến
vốn, rủi ro để đảm bảo khuyến khích các nguyên tắc của thị trường.
 Tương tự Basel I, Basel II vẫn quy định tỷ lệ CAR ≥ 8%.
Phƣơng trình 1.10: Hệ số CAR theo Basel II
Tổng vốn
x 100%

Hệ số CAR =
RWA

+ (K rủi ro hoạt động x 12,5) + (K rủi ro thị trường x 12,5)

 Tổng vốn: xác RRTD
định tương tự như trong Basel I.

 Tài sản có rủi ro (RWA): ngoài RRTD và rủi ro thị trường đã được quy
định trong Basel I, Basel II bổ sung thêm rủi ro hoạt động.
Phƣơng trình 1.11: Tài sản có rủi ro trong Basel II:
RWA Basel II = Vốn yêu cầu tối thiểu đối với từng rủi ro (K) x 12,5
 Các phương pháp đo lường RRTD: có 3 phương pháp để đo lường và tính toán
hệ số rủi ro đối với các khoản mục tài sản có RRTD: phương pháp chuẩn
(Standardized - SA), phương pháp dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ cơ bản
(IRBF), phương pháp xếp hạng nội bộ nâng cao (IRBA).
 Phương pháp chuẩn đánh giá RRTD: phương pháp này gần giống Basel I.
Tuy nhiên, basel II có đề cập đến xếp hạng tín dụng, việc xếp trọng số bao
nhiêu của hệ số rủi ro từng khoản mục tài sản có rủi ro tùy thuộc mức độ tín
nhiệm (xếp hạng tín dụng) của chủ nợ (từ AAA đến dưới B- và không xếp
hạng) do các cơ quan xếp hạng tín nhiệm quy định như Standard & Poor‟s,
hệ số rủi ro của tài sản có rủi ro có thêm hệ số 150%.

37

Phƣơng trình 1.12: Tài sản có rủi ro trong phƣơng pháp SA, Basel II
RWA Phương pháp chuẩn của Basel II = Tài sản x Hệ số rủi ro
 Phương pháp xếp hạng nội bộ đánh giá RRTD: Basel II cho phép các ngân
hàng lựa chọn phương pháp đánh giá xếp hạng tín nhiệm nội bộ của mình
để xác định dư nợ của khách hàng, xác xuất vỡ nợ (Probability of Default –
PD), kỳ đáo hạn hiệu dụng (effective Maturity – M), tỷ trọng tổn thất tín
dụng (Loss Given Default), từ đó tính được RWA. Tuy nhiên, ngân hàng
muốn áp dụng phương pháp này phải được cơ quan giám sát ngân hàng
(thanh tra ngân hàng hoặc NHNN) chấp thuận.
Theo phương pháp này, vốn yêu cầu tối thiểu đối với RRTD được xác định
chính xác hơn, và có sự phân biệt về vốn yêu cầu tối thiểu giữa các khoản
cho vay đối với các đối tượng khách hàng khác nhau.
Phƣơng trình 1.13: Tài sản có rủi ro trong phƣơng pháp IRB, Basel II
RWA Phương pháp IRB của Basel II = 12,5 x EAD x K
Trong đó: EAD (Exposure at Default): tổng dư nợ của khách hàng tại thời
điểm khách hàng không trả được nợ; K (Capital required): tỷ lệ vốn cần
thiết để dự phòng những trường hợp RRTD không lường trước được nhưng
lại xảy ra, được xác định thông qua PD, LGD và M.


Hiệp ƣớc Basel III:
Với nổ lực ngăn chặn sự tái diễn của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, ngày

12/9/2010 Hiệp ước Basel III với những quy định nghiêm ngặt hơn dành cho các
ngân hàng thuộc 27 nước thành viên đã được Ủy ban Basel ban hành với lộ trình
thực hiện từ 01/2013 và hoàn thành vào năm 2019. Trong khi Basel II ch quan tâm
đến vấn đề an toàn vốn thì Basel III tập trung vào 2 vấn đề: gia tăng tiêu chuẩn về
an toàn vốn và đưa ra các tiêu chuẩn về thanh khoản của các NHTM. Trong đó, hệ
số CAR giữ nguyên 8%; nâng tỷ lệ vốn cấp 1 (vốn chủ sở hữu) tối thiểu từ 4% lên
6%; nâng tỷ lệ vốn cổ phần phổ thông trong vốn cấp 1 từ 2% lên 4,5%; bổ sung

38

phần vốn đệm dự phòng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu 2,5%; tùy theo bối
cảnh của mỗi quốc gia, tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm theo chu kỳ kinh tế
từ 0 – 2,5% và phải được đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu phổ thông, phần vốn dự
phòng này ch đòi hỏi trong trường hợp có sự tăng trưởng tín dụng nóng có nguy cơ
dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động tín dụng một cách có hệ thống.
1.3.2 Nguyên tắc Basel về quản trị RRTD
Theo quan điểm của Ủy ban Basel, sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của
một quốc gia, sẽ đe dọa đến sự ổn định về tài chính của quốc gia đó. Vì vậy, nâng
cao sức mạnh của hệ thống tài chính là điều mà Ủy ban Basel quan tâm. Ủy ban
Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra các
nguyên tắc trong quản trị RRTD, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động
cấp tín dụng. Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:
 Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp (3 nguyên tắc): Ủy ban Basel yêu cầu
HĐQT phải thực hiện phê duyệt định kỳ chính sách RRTD, xem xét RRTD và
xây dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ
xấu, mức độ chấp nhận rủi ro,…). Trên cơ sở đó, BTGĐ có trách nhiệm thực
thi các định hướng này và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện,
đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của
từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư. Các ngân hàng cần xác định và
quản trị RRTD trong mọi sản phẩm và hoạt động của mình, đặc biệt là các sản
phẩm mới phải có sự phê duyệt của HĐQT hoặc Ủy ban của HĐQT.
 Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc): ngân hàng cần xác định rõ
ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (thị trường mục tiêu, đối tượng khách
hàng, điều khoản và điều kiện cấp tín dụng,…). Ngân hàng cần xây dựng
HMTD cho từng loại khách hàng và nhóm khách hàng để tạo ra các loại hình
RRTD khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng
tín dụng nội bộ đối với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Ngân hàng phải có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín

39

dụng với sự tham gia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và
bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận
tham gia. Đồng thời, cần phát triển đội ngũ nhân viên quản trị RRTD có kinh
nghiệm, kiến thức nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá,
phê duyệt và quản trị RRTD. Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở
giao dịch công bằng giữa các bên, đặc biệt cần có sự cẩn trọng và đánh giá
hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp cho các khách hàng có quan hệ.
 Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10
nguyên tắc): ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các
danh mục đầu tư có RRTD, bao gồm cập nhật hồ sơ tín dụng, thu thập thông
tin tài chính hiện hành, dự thảo các văn bản như hợp đồng vay,… theo quy mô
và mức độ phức tạp của ngân hàng. Đồng thời, hệ thống này phải có khả năng
nắm bắt và kiểm soát tình hình tài chính, sự tuân thủ các cam kết của khách
hàng,… để phát hiện kịp thời những khoản vay có vấn đề. Ngân hàng cần có
hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín
dụng có vấn đề. Các chính sách RRTD của ngân hàng cần ch rõ cách thức
quản lý các khoản tín dụng có vấn đề. Trách nhiệm đối với các khoản tín dụng
này có thể được giao cho bộ phận tiếp thị hay bộ phận xử lý nợ hoặc kết hợp
cả hai bộ phận này, tùy theo quy mô và bản chất của mỗi khoản tín dụng. Ủy
ban Basel cũng khuyến khích các ngân hàng phát triển và xây dựng hệ thống
xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản trị RRTD, giúp phân biệt các mức độ
RRTD trong các tài sản có của ngân hàng.
Như vậy, trong xây dựng mô hình quản trị RRTD, nguyên tắc Basel có một số
điểm cơ bản: Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân
tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các
bộ phận tham gia. Nâng cao năng lực của cán bộ quản trị RRTD. Xây dựng một hệ
thống quản lý và cập nhật thông tin hiệu quả để duy trì một quá trình đo lường, theo
dõi tín dụng thích hợp, đáp ứng yêu cầu thẩm định và quản trị RRTD.

40

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM RÚT RA CHO CÁC NHTM VIỆT NAM
1.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng tại một số nƣớc trên thế giới


Kinh nghiệm từ các nước Châu Âu và Mỹ:
Về quản trị RRTD: Các ngân hàng Mỹ tập trung đưa ra các hướng xử lý tối ưu

cho các khoản nợ xấu (giảm lãi suất, giảm giá trị các khoản chi trả để khách hàng có
thể trả nợ mà không phải bán TSBĐ,…) và tránh việc thu hồi nợ. Vì thu hồi nợ có
thể hiệu quả hơn thông qua việc tiếp tục trả nợ của một doanh nghiệp đang hoạt
động hơn là phải xử lý tài sản.
Về ứng dụng các chuẩn mực Basel trong quản trị RRTD: Theo kết quả khảo
sát của Ủy ban Basel về việc ứng dụng các chuẩn mực Basel II trong đánh giá
RRTD, nhận thấy Mỹ và các nước Châu Âu chủ yếu ứng dụng các phương pháp
xếp hạng nội bộ, trong đó các ngân hàng có quy mô vốn lớn ứng dụng phương pháp
xếp hạng nội bộ nâng cao. Theo báo cáo của Ngân hàng trung ương Châu Âu, đến
cuối năm 2006, có khoảng 20% số ngân hàng trong toàn hệ thống đảm bảo được
đầy đủ theo chuẩn mực của Basel, các ngân hàng còn lại được xem xét áp dụng đến
năm 2009. Tại Mỹ, Basel II được áp dụng vào năm 2008 ở một số tổ chức tài chính:
Cơ quan kiểm soát tiền tệ, hệ thống dự trữ liên bang, Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi và
Cơ quan kiểm soát tiền gửi.
Tháng 10/2011, liên minh Châu Âu (EU) đã đề xuất các quy chế lên Quốc hội
để đưa Basel III vào luật và yêu cầu Chính phủ EU, thông qua. Tại Mỹ, Cục dự trữ
liên bang (Fed) và các cơ quan điều hành phải đưa ra bộ luật riêng trên cơ sở đối
chiếu quy định Basel III với Đạo luật Dodd – Frank. Trong đó, đạo luật này cấm sử
dụng các quy định xếp hạng tín dụng (trong khi Basel III vẫn sử dụng), việc cấm sử
dụng xếp hạng tín dụng bắt nguồn từ phê phán cho rằng Moody‟s và các công ty
xếp hạng khác đã đánh giá sai mức tín nhiệm của chứng khoán cầm cố dẫn đến lạm
phát và bong bóng nhà đất tại Mỹ.


Kinh nghiệm từ các nước Châu Á:

41

Về quản trị RRTD: Các nước như Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Ấn
Độ,…quản trị RRTD kết hợp nhiều biện pháp, chẳng hạn: tuân thủ những nguyên
tắc tín dụng thận trọng, hạn mức tín dụng, trích lập dự phòng, kiểm tra giám sát,
quản trị hệ thống thông tin tín dụng,…
Từ năm 2011, Chính phủ Trung Quốc đã cho phép hình thành thị trường mua
bán nợ xấu ngân hàng với sự tham gia của nhiều thành phần: quốc doanh, tư nhân,
trong nước và quốc tế. Tại Nhật Bản, hiện nay các ngân hàng đã xử lý thành công
các vấn đề liên quan đến tài sản không thu hồi được, tổ chức dịch vụ tài chính đóng
vai trò quan trọng trong việc thúc ép các ngân hàng thực hiện công tác dự phòng
cần thiết cũng như xử lý các khoản nợ xấu đã kéo dài trong nhiều năm.
Về ứng dụng các chuẩn mực Basel trong quản trị RRTD: Hầu hết các nhà quản
lý ở Châu Á đều ủng hộ các mục tiêu chung của Basel II và tin tưởng rằng khuôn
khổ này sẽ đưa ra nhiều khích lệ để cải thiện công tác quản trị rủi ro. Việc thực thi
Basel II ở một số nước Châu Á như sau:
Bảng 1.5: Thực tiển ứng dụng Basel II ở một số quốc gia Châu Á
Quốc gia
Trung Quốc
Hồng Kông
Đài Loan
Ấn Độ
Nhật Bản
Hàn Quốc
Philipin
Singapore
Thái Lan

Các cách tiếp cận RRTD
SA
IRBF
IRBA
Không áp dụng
Dự kiến 2010
Không áp dụng
01/01/2007
01/01/2008
01/01/2007
01/01/2008
31/3/2007
Không áp dụng
01/4/2007
01/4/2008
01/01/2008
01/01/2007
Dự kiến 2010
01/01/2008
31/12/2008
31/12/2009

Nguồn : Japan International Cooperation Agency – JICA
Đối với Basel III, chính phủ Trung Quốc quy định chặt chẽ hơn về vốn đối với
ngân hàng để phù hợp với các chuẩn mực mới này, thời gian thực hiện từ
01/01/2013. Theo đó, tỷ lệ CAR cho các ngân hàng quan trọng là 11,5%, các ngân
hàng còn lại là 10,5% (trước năm 2008, tỷ lệ này là 8%). Đồng thời các ngân hàng