Tải bản đầy đủ
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊRỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔPHẦN PHƢƠNG NAM

CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊRỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔPHẦN PHƢƠNG NAM

Tải bản đầy đủ

77

ngân hàng, …đặc biệt là đổi mới và nâng cao hiệu quả phương pháp giám sát
ngân hàng. Hoàn thiện các quy định an toàn, đồng thời đổi mới nội dung,
phương pháp, quy trình thanh tra giám sát phù hợp với sự phát triển của công
nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng trên cơ sở áp dụng các chuẩn mực Basel
I, từng bước tiến tới thực hiện các chuẩn mực Basel II sau năm 2010.
3.1.2 Định hƣớng, mục tiêu hoạt động kinh doanh của NHTMCP Phƣơng
Nam đến năm 2020
3.1.2.1 Định hƣớng
Trên cơ sở định hướng hoạt động ngành ngân hàng của Chính phủ và NHNN,
NHTMCP Phương Nam định hướng đến năm 2020, trở thành ngân hàng bán lẻ đa
năng với tiêu chí: phát triển – an toàn – hiệu quả, tập trung chủ yếu các nội dung:
 Tập trung đẩy mạnh công tác huy động vốn, thường xuyên phát triển sản phẩm
huy động mới, tạo thêm nhiều tiện ích cho khách hàng; đảm bảo khả năng
thanh khoản, an toàn trong hoạt động ngân hàng.
 Tăng trưởng tín dụng hợp lý trên cơ sở kiểm soát chất lượng tín dụng. Tập
trung xử lý nợ xấu, nợ tồn động; thu hồi nợ quá hạn; ngăn ngừa phát sinh nợ
quá hạn mới; đảm bảo tỷ lệ nợ quá hạn luôn ở mức thấp nhất theo quy định.
 Phát triển sản phẩm mới có chọn lọc trên cơ sở nền tảng công nghệ hiện đại
như: Internet Banking, Mobile Banking; phát hành thẻ quốc tế Mastercard,
liên kết với Smartlink thực hiện các nghiệp vụ giá trị gia tăng trên hệ thống thẻ
như: dịch vụ SMS banking, thanh toán hóa đơn và nạp tiền (Smartbikk và
SmarToup), dịch vụ thanh toán trực tuyến SmartEcom,…nhằm nâng tỷ trọng
thu ngoài tín dụng trong tổng thu nhập.
 Đảm bảo thực hiện hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính.
 Tăng cường hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ, đảm bảo phát huy hiệu
quả kiểm toán nội bộ trong việc phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ
thống quản lý của ngân hàng, nhận diện và dự báo những rủi ro có thể xảy ra

78

thông qua việc đánh giá tính đầy đủ, hiệu quả và hiệu lực của hệ thống kiểm
tra, kiểm soát nội bộ, góp phần gia tăng niềm tin của các cổ đông vào hệ thống
quản trị rủi ro của ngân hàng.
 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: đào tạo cán bộ nhân viên phục vụ cho
nhu cầu sắp xếp, mở rộng mạng lưới; hoàn thiện chính sách lương và các chế
độ đãi ngộ mang tính cạnh tranh cao.
 Tiếp tục nâng cao thương hiệu NHTMCP Phương Nam, xây dựng và triển
khai chiến lược phát triển thương hiệu đồng bộ, rộng khắp. Trong năm 2012,
mở rộng mạng lưới thêm 17 đơn vị đã có hồ sơ nộp tại NHNN. Duy trì tốt hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 tronng toàn hệ thống.
3.1.2.2 Mục tiêu
Để thực hiện tốt định hướng kinh doanh của NHTMCP Phương Nam đến năm
2020, mục tiêu hoạt động được xác định như sau:
 Tiếp tục duy trì tăng trưởng về nguồn vốn và sử dụng vốn, đảm bảo cân đối
giữa nguồn vốn và cho vay về cơ cấu, kỳ hạn, loại tiền; đảm bảo đáp ứng đủ
vốn cho nhu cầu mở rộng kinh doanh, tăng cường các nguồn thu từ các sản
phẩm, dịch vụ. Tăng trưởng phải gắn với an toàn và sinh lời nhằm tăng năng
lực cạnh tranh, mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, phát triển
các sản phẩm có mức sinh lợi cao, đảm bảo khả năng thanh khoản.
 Tiếp tục đa dạng hóa và triển khai rộng rãi các sản phẩm tín dụng hiện đại,
dịch vụ thanh toán, tài chính du học, giao dịch điện tử E-banking, dịch vụ
thẻ,... Xây dựng và triển khai các bộ sản phẩm trọn gói để thu hút các khách
hàng lớn và khách hàng thường xuyên. Nâng cao chất lượng tín dụng.
 Tăng vốn điều lệ từ 3.212,5 tỷ đồng lên 4.000 tỷ đồng trong năm 2012. Đầu
tư, nâng cấp và chuẩn hóa hệ thống công nghê thông tin nhằm quản lý tốt hệ
thống cơ sở dữ liệu và phát triển các dịch vụ tiện ích cho khách hàng.

79

 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, quy chế, quy trình nghiệp vụ để nâng cao năng lực
quản trị điều hành. Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ, đảm bảo
tăng trưởng bền vững và an toàn.
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NHTMCP PHƢƠNG NAM
Trên cơ sở phân tích thực trạng về hoạt động tín dụng, các nguyên nhân dẫn
đến RRTD và những tồn tại về hoạt động quản trị RRTD của NHTMCP Phương
Nam cho thấy, yêu cầu về việc tái cấu trúc và sắp xếp lại hoạt động tín dụng, quản
trị RRTD theo các chuẩn mực Basel phù hợp với khả năng của NHTMCP Phương
Nam và điều kiện của Việt Nam là vấn đề bức thiết, tác giả xin đề xuất các nhóm
giải pháp, bao gồm:
3.2.1

Nhóm giải pháp về xây dựng và hoàn thiện môi trƣờng quản trị RRTD
Để xây dựng một môi trường quản trị RRTD hiệu quả, trước hết NHTMCP

Phương Nam cần phải xác định chiến lược kinh doanh, cơ cấu sản phẩm dịch vụ
ngân hàng theo hướng tăng nguồn thu từ các dịch vụ, giảm nguồn thu từ tín dụng thì
hoạt động kinh doanh mới hiệu quả, bền vững và góp phần ngăn ngừa và giảm thiểu
RRTD. NHTMCP Phương Nam cần thành lập Phòng Nghiên cứu và Dự báo để
thực hiện nghiên cứu về tài chính - ngân hàng trong và ngoài nước. Việc nghiên cứu
kinh tế sẽ giúp ích cho hoạt động ngân hàng trong dài hạn. Các vấn đề về kinh tế vĩ
mô trong nước cũng như những mô hình, chính sách mà các ngân hàng trên thế giới
đang vận dụng, các sản phẩm, dịch vụ mới mà thị trường trong nước chưa có và đặc
biệt là xu hướng thị trường tài chính, tiền tệ thế giới trong tương lai,…sẽ được bộ
phận này nghiên cứu chuyên sâu và từ đó hoạch định các chính sách hoạt động cho
ngân hàng trong đó có chính sách tín dụng. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp HĐQT và
BTGĐ trong việc đưa ra các định hướng hoạt động và chuẩn hóa thành các mục tiêu
hoạt động cụ thể và rõ ràng.
3.2.1.1 Xây dựng mô hình cấp tín dụng mới, hoàn thiện bộ máy cấp tín dụng và
quản trị RRTD

80

Về xây dựng mô hình cấp tín dụng mới: NHTMCP Phương Nam cần ban hành
quy chế, quy trình mới về cấp tín dụng trong đó chú trọng việc xây dựng mô hình
cấp tín dụng mới theo hướng tập trung: các PGD ch thực hiện chức năng bán hàng
và tác nghiệp, không thực hiện phê duyệt tín dụng; các CN/SGD thực hiện đầy đủ
các chức năng. PGD tìm kiếm khách hàng, lập và chuyển hồ sơ tín dụng về
CN/SGD mà PGD trực thuộc để tiến hành phân tích, thẩm định và phê duyệt. Nếu
khoản cấp tín dụng vượt mức phán quyết của CN/SGD thì chuyển về HĐTD Hội sở
(trong trường hợp này nếu khoản cấp tín dụng là của PGD thì chuyển thẳng về
HĐTD Hội sở không qua CN/SGD) thực hiện tái thẩm định (thẩm định) và phê
duyệt (thông qua hai Trung tâm Khách hàng Cá nhân hoặc Doanh nghiệp). Đối với
các khu vực t nh/thành phố có HĐTD Miền, nếu khoản cấp tín dụng vượt mức phán
quyết của các CN thì HĐTD CN trình lên HĐTD Miền phê duyệt, nếu vượt mức
phán quyết của HĐTD Miền thì HĐTD CN trình thẳng về HĐTD Hội sở thực hiện
tái thẩm định và phê duyệt mà không qua HĐTD Miền (trong trường hợp này nếu
khoản cấp tín dụng là của PGD mà vượt phán quyết của HĐTD Miền thì HĐTD CN
chuyển thẳng về HĐTD Hội sở thực hiện tái thẩm định và phê duyệt). Tất cả các
khoản cấp tín dụng nếu vượt mức phán quyết của Hội sở thì HĐTD Hội sở trình lên
HĐTD NHTMCP Phương Nam phê duyệt. Tất cả các cấp HĐTD sau khi phê duyệt
sẽ chuyển hồ sơ lại cho đơn vị phát sinh nghiệp vụ để tác nghiệp.
Về tổ chức bộ máy cấp tín dụng và quản trị RRTD: Hiện tại bộ máy cấp tín
dụng của NHTMCP Phương Nam theo kiểu truyền thống. Do vậy, cần phải bố trí,
sắp xếp lại bộ máy cấp tín dụng theo hướng hiện đại hơn, khách quan hơn, chuyên
môn hóa cao hơn và phù hợp với các chuẩn mực Basel. Cụ thể:
 Nhân viên Quan hệ khách hàng (NVQHKH): Cơ cấu lại một phần NVTD
thành NVQHKH thực hiện chức năng bán hàng như: tiếp thị và giới thiệu đến
khách hàng các sản phẩm cũng như chính sách tín dụng của NHTMCP
Phương Nam, tiếp xúc và đàm phán với khách hàng hiện hữu và khách hàng
tiềm năng. Tìm hiểu, thu thập thông tin liên quan đến tình hình kinh doanh, tài
chính, năng lực và uy tín khách hàng, thông tin ngành và thị trường có liên

81

quan. Thu thập tài liệu chứng từ của hồ sơ tín dụng và tiến hành thẩm định
khách hàng theo quy trình nghiệp vụ (theo hạn mức quy định). Củng cố và
phát triển mối quan hệ khách hàng nhằm khai thác tối đa nhu cầu sản phẩm
dịch vụ của khách hàng,…
 Nhân viên phân tích tín dụng (NVPTTD): Sau khi NVQHKH tìm kiếm khách
hàng và thu thập đầy đủ hồ sơ tín dụng phù hợp với các điều kiện và quy định
của ngân hàng sẽ chuyển hồ sơ cho NVPTTD thực hiện chức năng phân tích,
thẩm định hồ sơ tín dụng và quản lý RRTD (nhận diện, đo lường và đánh giá
RRTD) thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, phân tích ngành, khả
năng phát triển của khách hàng trong tương lai,… một cách độc lập, đảm bảo
tính khách quan cũng như hạn chế sự phân tán thông tin khi cung cấp các sản
phẩm tín dụng (cho vay, bảo lãnh, tài trợ thương mại,…), từ đó xác định được
giới hạn tín dụng trên cơ sở xác định rủi ro tổng thể của từng khách hàng. Lập
tờ trình và đề xuất tín dụng, kết hợp với NVQHKH trình hồ sơ tín dụng cho
các cấp có thẩm quyền phê duyệt; nhập dữ liệu khách hàng vào các chương
trình của hệ thống theo quy định. Định kỳ phân tích và đánh giá lại tình hình
khách hàng và thực hiện các nhiệm vụ liên quan khác.
 Nhân viên quản lý tín dụng (NVQLTD) và Kiểm soát viên tín dụng (KSVTD):
Sau khi hồ sơ tín dụng đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt, NVQLTD
thực hiện chức năng tác nghiệp như: kiểm tra hồ sơ tín dụng đầy đủ và đúng
theo quy định, xử lý hồ sơ (soạn thảo hợp đồng, thực hiện các thủ tục công
chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm, giải ngân,…), nhập kho TSBĐ, theo dõi và
giám sát khoản vay, thu nợ vay,…Đồng thời thực hiện thủ tục giải chấp, thanh
lý hồ sơ tín dụng, xuất kho TSBĐ giao trả cho khách hàng và lưu hồ sơ tất
toán theo quy định. Tất cả các giao dịch của NVQLTD đều được kiểm soát bởi
KSVTD về tính pháp lý hồ sơ, TSBĐ, điều kiện giải ngân,…
NVQHKH kết hợp với NVPTTD định kỳ kiểm tra, đánh giá tình hình sử dụng
vốn và tình hình kinh doanh, tài chính, TSBĐ, tiến độ thực hiện phương án/dự án

82

vay vốn,…của khách hàng, sau đó chuyển kết quả kiểm tra cho NVQLTD nhập dữ
liệu vào hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để theo dõi và xếp hạng tín dụng định kỳ
nhằm đánh giá tổng thể tình hình khách hàng, từ đó có thể phát hiện các dấu hiệu và
cảnh báo sớm khoản nợ có vấn đề, tiến hành các biện pháp xử lý (dừng giải ngân
đối với khoản vay HMTD, điều ch nh lại HMTD, thu hồi bớt nợ vay, phong tỏa tài
khoản thanh toán,…). Trường hợp khoản cấp tín dụng đã bị chuyển nợ quá hạn thì
NVQLTD kết hợp với NVQHKH thực hiện việc đôn đốc và thu hồi nợ.
Hiện tại các Phòng chức năng liên quan đến hoạt động cấp tín dụng, quản trị
RRTD cần được cơ cấu lại cho phù hợp với mô hình và bộ máy cấp tín dụng mới.
 Đối với các PGD: Thành lập Bộ phận Quan hệ khách hàng (BPQHKH) và Bộ
phận Quản lý tín dụng (BPQLTD) thuộc Phòng Kinh doanh hiện tại, ch có
NVQHKH, NVQLTD và KSVTD thực hiện chức năng bán hàng, tác nghiệp
và kiểm soát.
 Đối với các CN/SGD: Phân chia Phòng Kinh doanh hiện tại thành Phòng
khách hàng cá nhân (PKHCN) bao gồm BPQHKH và Bộ phận Phân tích tín
dụng (BPPTTD), Phòng khách hàng doanh nghiệp (PKHDN) bao gồm
BPQHKH, BPPTTD và Phòng quản lý tín dụng (PQLTD). PKHCN thực hiện
chức năng bán hàng, chức năng phân tích và quản lý RRTD đối với khách
hàng cá nhân, PKHDN thực hiện các chức năng tương tự đối với khách hàng
doanh nghiệp. PKHCN và PKHDN gồm có Trưởng/Phó phòng và NVQHKH,
NVPTTD. PQLTD gồm có NVQLTD và KSVTD thực hiện chức năng tác
nghiệp và kiểm soát các giao dịch.
Có thể giao thêm cho BPQHKH/NVQHKH ở tất cả các PGD/CN/SGD đảm
nhiệm chức năng phân tích và thẩm định ở một hạn mức nhất định (chẳng hạn từ
500 triệu đồng trở xuống) nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách nhanh chóng
và phù hợp với tình hình hiện tại của NHTMCP Phương Nam và điều kiện thực tiễn
của Việt Nam.

83

 Đối với Hội sở chính: Thành lập Trung tâm KHCN, Trung tâm KHDN trên cơ
sở P.QLCCN hiện tại, gồm có Giám đốc/Phó giám đốc trung tâm và
NVPTTD, thực hiện chức năng phân tích và quản lý RRTD đối với khách
hàng cá nhân và doanh nghiệp của các hồ sơ tín dụng vượt mức phán quyết
của HĐTD PGD/CN/SGD và HĐTD Miền. Thành lập mới Trung tâm Quản lý
nợ (QLN) gồm có Giám đốc/Phó giám đốc trung tâm và nhân viên quản lý nợ
(NVQLN), thực hiện chức năng xử lý nợ như: thu hồi nợ, khởi kiện, thi hành
án, bán nợ, nhận TSBĐ cấn trừ nợ,…đối với các khoản nợ quá hạn và nợ xấu
mà NVQHKH và NVQLTD ở các PGD/CN/SGD không thể thu hồi, các
khoản nợ khó đòi đã xữ lý RRTD và xuất toán khỏi ngoại bảng, các khoản nợ
khoanh, nợ chờ xử lý,…Trung tâm QLN đặt tại trụ sở chính và các Chi nhánh
đại diện cho từng khu vực để thuận tiện trong hoạt động xử lý nợ. Các nhân
viên liên quan đến các khoản nợ quá hạn, nợ xấu (NVQHKH, NVPTTD) đều
phải liên đới chịu trách nhiệm và phối hợp với NVQLN tại Hội sở hoặc khu
vực để thực hiện xử lý nợ.
 Đối với Ủy ban Quản lý rủi ro: Nâng cao hơn nữa vai trò và chức năng hoạt
động của Ủy ban quản lý rủi ro, theo đó quy định về trách nhiệm và quyền hạn
của các thành viên trong Ủy ban, phân công các Phó Tổng giám đốc quản lý
rủi ro tại Hội sở chính và các khu vực. Chủ nhiệm và Phó chủ nhiệm Ủy ban
quản lý rủi ro ch đạo triển khai các chính sách, chiến lược về quản trị rủi ro
của HĐQT, là đầu mối giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến rủi ro cho
các đơn vị phụ thuộc.
3.2.1.2 Xây dựng chính sách tín dụng hiệu quả
Xây dựng chính sách tín dụng phải trên cơ sở mục tiêu của NHTMCP Phương
Nam đồng thời phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đặc thù của từng địa bàn,
khu vực nơi các đơn vị đặt trụ sở, đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận và giảm thiểu rủi ro, giữa tăng trưởng tín dụng và nâng cao chất lượng tín
dụng, đảm bảo an toàn. Chính sách tín dụng chủ yếu tập trung ở một số vấn đề sau:

84

Về danh mục tín dụng: Phải đa dạng hóa các sản phẩm, loại hình và đối tượng
cấp tín dụng, triển khai các sản phẩm tín dụng hiện chưa có tại NHTMCP Phương
Nam nhưng đã xuất hiện ở thị trường tài chính Việt Nam như: bao thanh toán, cho
vay hợp vốn,…cũng như nghiên cứu các sản phẩm phái sinh mới về tín dụng, các
sản phẩm tín dụng kết hợp với dịch vụ ngân hàng khác (thanh toán quốc tế, ngân
hàng điện tử, thẻ thanh toán, tiền gửi thanh toán, giao dịch tài khoản,…) để đáp ứng
nhu cầu khách hàng, đồng thời phát huy hơn nữa những sản phẩm có lợi thế so sánh
của NHTMCP Phương Nam so với các NHTM khác. Điều này sẽ làm phân tán
RRTD, vì hoạt động đầu tư mở rộng, kết hợp các tài sản của ngân hàng sẽ không
làm cho rủi ro tập trung vào bất kỳ sản phẩm, kỳ hạn nào, nếu rủi ro xảy ra thì sẽ tác
động không lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chẳng hạn, NHTMCP
Phương Nam có thể đưa ra các bộ sản phẩm dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, các
bộ sản phẩm dành cho cá nhân, bộ sản phẩm hỗn hợp (Phụ lục 5).
Về định giá TSBĐ: Hiện nay NHTMCP Phương Nam quy định việc định giá
TSBĐ khá độc lập và khách quan. Tuy nhiên để phù hợp với mô hình và bộ máy
cấp tín dụng mới, NHTMCP Phương Nam cần quy định tất cả hồ sơ tín dụng của
các đơn vị đều phải giao cho Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản định giá, đồng
thời ban hành quy định về phương pháp, cơ sở định giá, khung giá,…đối với các
loại TSBĐ, riêng bất động sản cần quy định chi tiết về khung giá cho vị trí mặt tiền,
hẻm,…của các loại đường ở thành phố, t nh thành trong cả nước, khung giá các loại
đất ở các địa phương,…để làm cơ sở so sánh, đối chiếu trong trường hợp nhân viên
định giá TSBĐ không hợp lý, nhằm tăng tính độc lập và khách quan của việc định
giá TSBĐ, giảm thiểu RRTD.
Về chính sách lãi suất: Việc điều hành lãi suất một mức cho tất cả đối tượng
khách hàng và mục đích vay đối với loại hình vay tiền đồng như hiện nay của
NHTMCP Phương Nam là chưa tốt, những khách hàng vay tốt có thể sẽ không
đồng ý với chính sách lãi suất như vậy và họ sẽ tìm kiếm nguồn tài trợ ở ngân hàng
khác, cần phải thay đổi để ngăn ngừa và giảm thiểu RRTD. NHTMCP Phương Nam
có thể áp dụng các mức lãi suất theo mục đích vay (sản xuất kinh doanh, tiêu dùng,

85

đầu tư xây dựng cơ bản,…), theo loại hình khách hàng (doanh nghiệp, cá nhân),
theo thời hạn vay (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn), theo loại tiền cho vay (Việt Nam
đồng, đô la Mỹ, …), theo từng mức vốn vay, theo uy tín khách hàng (thông qua lịch
sử quan hệ tín dụng, số lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng mà khách hàng đang sử
dụng),…Trong các chính suất lãi suất trên, áp dụng mức lãi suất cho vay theo uy tín
khách hàng là một chính sách rất quan trọng trong tình hình hiện nay, việc xem xét
sự tín nhiệm của khách hàng thông qua CIC và lịch sử vay vốn tại NHTMCP
Phương Nam, thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và hệ thống CORE
Banking là công việc khá đơn giản. Đồng thời phải định giá khoản vay (xác định lãi
suất cho vay) trên cơ sở đủ bù đắp chi phí biên của vốn, chi phí quản lý khoản vay,
lợi nhuận hợp lý và phần bù rủi ro. Phần bù rủi ro hay mức độ rủi ro hay tổn thất
ước tính được tính toán theo phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ
thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ (IRB) của Basel II.
Về bảo đảm tiền vay, định hướng khách hàng,…: Thực hiện cấp tín dụng có
bảo đảm chắc chắn, hạn chế cho vay không có TSBĐ, quy định rõ ràng, cụ thể các
trường hợp cho vay tín chấp về hạn mức, lãi suất, biện pháp bảo lãnh,…Có chính
sách về định hướng khách hàng phù hợp với mục tiêu của NHTMCP Phương Nam,
trong đó nêu rõ tập trung cấp tín dụng cho đối tượng, ngành nghề, lĩnh vực nào,…
3.2.1.3 Hoàn thiện quy trình tín dụng
Đối với quy trình cho vay, NHTMCP Phương Nam nên sửa đổi và bổ sung cho
phù hợp với mô hình và bộ máy cấp tín dụng mới, trong đó quy định rõ nhiệm vụ và
trách nhiệm của các Trung tâm/Phòng, Bộ phận và của các nhân viên trực thuộc, bổ
sung quy định về thanh lý khoản vay và lưu trữ hồ sơ sau khi tất toán. Đối với quy
trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng, cần thiết phải xây dựng lại và
chuẩn hóa theo các yêu cầu của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của chuẩn mực
Basel II, nhằm cải tiến và khắc phục những hạn chế của quy trình chấm điểm hiện
tại, đặc biệt phải thể hiện được kết quả phục vụ công tác phòng ngừa và cảnh báo
khoản nợ có vấn đề khi thực hiện chấm điểm và xếp hạng định kỳ (6tháng/lần) sau

86

giải ngân. Đối với quy trình kiểm tra, giám sát khoản vay, tình hình sử dụng vốn
vay và thu hồi nợ vay nên sửa đổi thành quy trình kiểm tra, giám sát sau giải ngân,
trong đó bao gồm phần kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và thu hồi nợ vay,
đưa phần kiểm tra, giám sát trước và trong khi cho vay vào trong quy trình cho vay.
Nghiên cứu, soạn thảo đầy đủ các quy trình về nghiệp vụ bảo lãnh và các hình
thức tín dụng khác như: Bao thanh toán, cho vay hợp vốn,…nhằm đáp ứng nhu cầu
phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Ban hành đầy đủ quy chế tổ chức và
hoạt động của các Trung tâm, Phòng, Bộ phận trong mô hình và cơ cấu bộ máy cấp
tín dụng, quản trị RRTD mới nhằm tạo khung pháp lý trong hoạt động. Ban hành
quy định về công tác phòng ngừa và cảnh báo khoản nợ có vấn đề, quy trình xử lý
nợ thống nhất từ các đơn vị trực thuộc đến Trung tâm QLN tại Hội sở và khu vực.
3.2.1.4 Củng cố, hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin và dữ liệu khách hàng
Về hệ thống công nghệ thông tin: Nâng cao và củng cố các trang thiết bị, máy
móc và phương thức quản trị của Trung tâm Công nghệ thông tin (TTCNTT), sử
dụng các chương trình máy tính và công nghệ hiện đại, tiên tiến. Kết hợp với các
Phòng chức năng xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trên cơ sở bổ sung và
mở rộng phần mềm chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng hiện hành, để làm
cơ sở trong xây dựng chính sách khách hàng về giới hạn tín dụng, áp dụng hình
thức bảo đảm tiền vay thích hợp, định hướng tín dụng với từng khách hàng, phân
loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; nâng cao hệ thống TCBS (Core Banking); các
chương trình phục vụ công tác báo cáo,...Hiện đại hóa và tin học hóa tất cả các mặt
hoạt động của ngân hàng. Chẳng hạn, trong hoạt động tín dụng việc thông báo nợ
lãi và nợ gốc đến hạn, các sản phẩm và dịch vụ mới bằng hình thức văn bản cần
phải được thay thế bằng hình thức gởi tin nhắn qua điện thoại di động, qua email,…
để tiết kiệm chi phí, tiện ích và chuyên nghiệp cho cả ngân hàng và khách hàng
trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay.
Về hệ thống dữ liệu khách hàng và thông tin tín dụng: Để hoạt động kinh
doanh đạt hiệu quả cao cần phải có thông tin hữu ích, trong khi ở Việt Nam tình

87

trạng kém minh bạch trong hoạt động của cá nhân và tổ chức, thông tin bất cân
xứng còn khá phổ biến thì yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống dữ liệu thông
tin là hết sức cần thiết. Trong hoạt động tín dụng cũng vậy, cần thiết phải thiết lập
hệ thống dữ liệu và thông tin tín dụng về khách hàng vay vốn, thông tin ngành, thị
trường,…làm cơ sở trong phân tích tín dụng, phân loại nợ một cách chính xác hơn,
tạo cơ sở để trích lập dự phòng RRTD đầy đủ cũng như phản ánh đúng chất lượng
tín dụng,…Ngoài ra, NHTMCP Phương Nam cần xây dựng cơ chế trao đổi, cung
cấp thông tin giữa các Trung tâm, Phòng, Bộ phận và giữa các đơn vị trong hệ
thống cũng như giữa NHTMCP Phương Nam với các TCTD, NHNN, các tổ chức,
dịch vụ cung cấp thông tin trên thế giới,…nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của hoạt
động ngân hàng.
Đối với khách hàng mới: Cập nhật thông tin từ nguồn dữ liệu thứ cấp qua các
kênh: CIC, website của Sở Kế hoạch và Đầu tư, website NHNN, các phương tiện
thông tin đại chúng, báo cáo nghiên cứu thị trường,…phục vụ công tác cấp tín dụng
và quản trị RRTD, sau đó nhập liệu vào hệ thống dữ liệu khách hàng của NHTMCP
Phương Nam để lưu trữ nhằm phân tích và đánh giá tình hình khách hàng thường
xuyên và định kỳ.
Đối với khách hàng đã quan hệ tín dụng với NHTMCP Phương Nam: Ngoài
các nguồn dữ liệu thứ cấp nêu trên, có thể truy xuất thông tin từ hệ thống cơ sở dữ
liệu khách hàng của NHTMCP Phương Nam (hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ,
Core Banking,…).
3.2.1.5 Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và chính sách đãi ngộ thích hợp
Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng, bổ nhiệm và đào tạo nhân viên, cán
bộ quản lý nhằm trang bị đầy đủ kiến thức về chuyên môn, điều hành quản lý đồng
thời giảm thiểu rủi ro về tác nghiệp và đạo đức. Chú trọng công tác bồi dưỡng và
đào tạo cán bộ bằng hình thức liên kết giữa NHTMCP Phương Nam với NHNN, các
NHTM trong và ngoài nước, các chuyên gia về lĩnh vực ngân hàng. Tiêu chuẩn hóa
cán bộ quản lý RRTD để đáp ứng các yêu cầu của Basel, theo đó cần xây dựng một