Tải bản đầy đủ
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊRỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊRỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ

15

Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng (Trần Huy Hoàng, 2010, trang 167).
 Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là
do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá
khách hàng. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính sau:
 Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra
quyết định cho vay.
 Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách
thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.
 Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ
thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
 Rủi ro danh mục: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là
do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh
mục được phân chia thành 2 loại: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
 Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có,
mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực
kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của
khách hàng vay vốn.

16

 Rủi ro tập trung (Concentration risk) là trường hợp ngân hàng tập trung vốn
cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay qua nhiều doanh
nghiệp hoạt dộng trong cùng một ngành, một lĩnh vực kinh tế, trong cùng
một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
 Các hình thức rủi ro tín dụng
RRTD có thể xảy ra ở 4 trường hợp đối với nợ lãi và nợ gốc như sau: không
thu được lãi đúng hạn, không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạn, và không
thu đủ vốn. Tùy trường hợp mà ngân hàng hạch toán vào các khoản mục theo dõi
khác nhau như lãi treo hoặc nợ quá hạn.
Khi không thu được lãi đúng hạn, nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và ch cần
đưa vào mục lãi treo phát sinh. Nếu ngân hàng không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoản
mục lãi treo đóng băng, trừ những trường hợp ngân hàng miễn giảm lãi đó cho
doanh nghiệp.
Khi không thu được vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát
sinh. Tuy nhiên, khoản này vẫn chưa thể coi là khoản mất mát hoàn toàn của ngân
hàng vì có thể bởi lý do nào đó, doanh nghiệp chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam
kết trong hợp đồng. Nếu khoản cho vay này ngân hàng không thể thu hồi được (ví
dụ do doanh nghiệp bị phá sản) thì lúc này ngân hàng coi như gặp RRTD ở mức độ
cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi, trừ những trường hợp đặc
biệt, doanh nghiệp vay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo quy định về xóa nợ thì ngân
hàng có thể xem xét để xóa nợ cho doanh nghiệp.
RRTD tồn tại dưới nhiều hình thức, các hình thức đó luôn chuyển biến cho
nhau, mà mức độ cuối cùng là nợ không có khả năng thu hồi. Khi nghiên cứu về
RRTD người ta thường chú trọng vào các nguy cơ xảy ra rủi ro như lãi treo, đặc biệt
là nợ phát sinh, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi
được coi là các tình huống rủi ro thực sự nên thường được xem xét để giải quyết
hậu quả và rút ra bài học.
1.1.3 Căn cứ xác định mức độ rủi ro tín dụng

17

1.1.3.1 Phân loại nợ
Theo Điều 6, Điều 7 quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 về
phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân
hàng của TCTD (QĐ 493), quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc
NHNN (QĐ 18) thì TCTD thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm (Phụ lục 1).
Hiện nay, theo quyết định 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 (QĐ 780), NHNN
quy định: các khoản nợ được điều ch nh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ do TCTD đánh
giá hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng có chiều hướng tích cực và có
khả năng trả nợ tốt được giữ nguyên nhóm nợ như đã được phân loại theo quy định
trước khi điều ch nh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ.
1.1.3.2 Nợ quá hạn và nợ xấu
 Nợ quá hạn: Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc
và/hoặc lãi đã quá hạn. Nói cách khác, Nợ quá hạn là những khoản tín dụng
không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia
hạn nợ. Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ quá hạn của NHTM được
phân chia thành 4 nhóm (từ nhóm 2 đến nhóm 5).
 Nợ xấu: Nợ xấu là khoản nợ thuộc các nhóm 3,4,5 theo quy định. Hoặc nợ xấu
(hay nợ có vấn đề, nợ khó đòi,…) là những khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở
lên mà không đòi được và không được tái cơ cấu. Nợ xấu có các đặc trưng:
khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết
đã hết hạn; tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn
đến khả năng ngân hàng không thu hồi được lãi và vốn; TSBĐ được đánh giá
là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi.
Tại Việt Nam, nợ xấu bao gồm: các khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu
hồi; nợ liên quan đến các vụ án, nợ đã khởi kiện nhưng chưa thể thu hồi chờ xử lý,
nợ có TSBĐ nhưng không hợp lệ; nợ quá hạn không được Chính phủ xử lý rủi ro.

18

1.1.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Nguyên nhân dẫn đến RRTD rất đa dạng, có thể xét từ phía khách hàng, từ
phía ngân hàng (các nguyên nhân chủ quan) và những nguyên nhân khách quan.
1.1.4.1 Nguyên nhân khách quan
Là những tác động ngoài ý chí của khách hàng và ngân hàng như: thiên tai,
hỏa hoạn; do sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều ch nh quy hoạch
vùng, ngành, do hành lang pháp lý chưa phù hợp; do biến động thị trường trong và
ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi,…khiến doanh nghiệp lâm vào tình
trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được. Từ đó, doanh nghiệp dù có
thiện chí nhưng vẫn không thể trả được nợ ngân hàng.
1.1.4.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng
Là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng như: khả năng tự chủ tài chính
kém, năng lực điều hành yếu, hệ thống quản trị kinh doanh không hiệu quả, trình độ
quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc
thất thoát, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Cũng có thể do khách hàng thiếu thiện
chí trong việc trả nợ vay ngân hàng hoặc do khách hàng cố tình lừa đảo.
1.1.4.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
 Cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều
kiện cho vay.
 Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi
ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại RRTD để tính
toán điều kiện vay và khả năng trả nợ. Đối với cho vay cá nhân, doanh nghiệp
nhỏ, quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, chưa áp
dụng công cụ chấm điểm tín dụng.
 Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản
vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn rất yếu, nhất là đối với các ngành đòi
hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Mặt

19

khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra, kiểm
soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích nhưng
ngân hàng không ngăn chặn kịp thời.
 Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời,
chính xác để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng.
 Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng, kể cả lãnh đạo
giám sát chưa đủ tầm và vấn đề quản lý, sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng
chưa thỏa đáng cũng là nguyên nhân dẫn đến RRTD.
Tóm lại, nguyên nhân từ phía khách hàng hay ngân hàng, nguyên nhân chủ
quan hay khách quan đều dẫn đến hậu quả là khách hàng không trả được nợ. Tuy
nhiên, việc phân tích và phân định rõ ràng nguyên nhân sẽ giúp ngân hàng có biện
pháp xử lý thích hợp trong từng tình huống cụ thể.
1.1.5 Hậu quả của rủi ro tín dụng
1.1.5.1 Đối với ngân hàng
Khi gặp RRTD, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay,
nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này
làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Khi không thu được nợ thì vòng
quay của vốn tín dụng bị chậm lại làm ngân hàng kinh doanh không hiệu quả và có
thể mất khả năng thanh khoản. Điều này làm giảm lòng tin người gởi tiền, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng.
1.1.5.2 Đối với nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng liên quan đến nhiều cá nhân, doanh nghiệp, nhiều lĩnh
vực trong nền kinh tế. Vì vậy, khi một ngân hàng gặp phải RRTD hay bị phá sản thì
người gởi tiền hoang mang lo sợ và ồ ạt kéo nhau đi rút tiền không ch ở ngân hàng
đó mà cón ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó
khăn. Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản suất kinh doanh các doanh
nghiệp do không có tiền trả lương công nhân, mua nguyên vật liệu. Lúc này giá cả

20

hàng hóa sẽ tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tràn lan, xã hội mất ổn định, nền kinh
tế lâm vào suy thoái. RRTD có thể châm ngòi cho một cơn khủng hoảng tài chính,
ảnh hưởng đến cả khu vực và thế giới.
Như vậy, RRTD của một ngân hàng có thể xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau:
nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi vay, nặng nhất
là ngân hàng không thu được vốn lẫn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân
hàng bị lỗ và mất vốn. Tình trạng này kéo dài sẽ làm ngân hàng bị phá sản, gây hậu
quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính
vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có các giải
pháp phù hợp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.
1.2 HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.2.1 Quản trị rủi ro tín dụng
1.2.1.1 Định nghĩa
Quản trị RRTD là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách
quản lý và kinh doanh trong hoạt động tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an
toàn, hiệu quả và phát triển bền vững. Trong đó chú trọng tăng cường các biện pháp
phòng ngừa, hạn chế nợ quá hạn, nợ xấu trong hoạt động tín dụng. Từ đó tăng
doanh thu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM.
Quản trị RRTD bao gồm các bước: nhận dạng rủi ro; phân tích và đo lường rủi
ro; kiểm soát và phòng ngừa rủi ro; tài trợ rủi ro; báo cáo hoạt động quản trị rủi ro.
1.2.1.2 Nhiệm vụ của công tác quản trị rủi ro tín dụng
Hoạch định phương hướng, kế hoạch phòng chống RRTD. Dự đoán RRTD có
thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân và hậu quả ra sao,…Đồng thời
tổ chức phòng chống RRTD một cách khoa học nhằm ch ra những mục tiêu cụ thể
cần đạt được, ngưỡng an toàn và mức độ sai sót có thể chấp nhận được. Xây dựng
các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống RRTD, phân quyền hạn

21

và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống
RRTD, xử lý RRTD và giải quyết hậu quả do RRTD gây ra một cách nghiêm túc.
Kiểm tra, kiểm soát để bảo đảm việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng
chống RRTD đã hoạch định. Qua đó phát hiện các RRTD tiềm ẩn, các sai sót khi
thực hiện giao dịch.Trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp điều ch nh, bổ sung nhằm
hoàn thiện hệ thống quản trị RRTD.
1.2.1.3 Sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, khi rủi ro xảy ra đều kéo theo nó
những ảnh hưởng khó lường và hậu quả không dễ dàng khắc phục. Do vậy, quản trị
rủi ro là hoạt động trọng tâm của các NHTM, bởi kiểm soát rủi ro chặt chẽ đồng
nghĩa với việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động. Mặt khác, nếu không chấp
nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ hội đầu tư, kinh doanh mới. Do đó, quản trị
rủi ro là một nhu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình tồn tại, phát triển của các NHTM.
Trong hoạt động tín dụng cũng vậy, ngân hàng biết rằng cấp tín dụng là rủi ro,
vậy tại sao ngân hàng lại cấp tín dụng để rồi phải quản trị rủi ro? Bởi vì rủi ro là sự
không chắc chắn, rủi ro vừa tiềm ẩn thiệt hại vừa tiềm ẩn lợi nhuận, rủi ro có mối
quan hệ đồng biến với lợi nhuận. Ngân hàng cấp tín dụng là kỳ vọng tìm kiếm lợi
nhuận nhưng rủi ro là khả năng khách hàng không trả được nợ vay. Vì vậy, cần phải
quản trị RRTD để hạn chế tối đa thiệt hại, đồng nghĩa là tối đa hóa lợi nhuận và tối
đa hóa giá trị cho cổ đông.
1.2.2 Hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Khái niệm
Hiệu quả quản trị là mức độ đạt được trong quá trình điều hành và thực hiện
các chính sách, chiến lược và mô hình quản trị đã đề ra. Các nhà quản trị định kỳ
đánh giá toàn diện công tác quản trị để biết được hiệu quả đạt được như thế nào;
xem xét quy trình quản trị có bị vướng mắc, trở ngại ở khâu nào; các công cụ,
phương pháp quản trị có phù hợp hay cần phải sửa đổi, bổ sung;…

22

Hiệu quả quản trị RRTD là mức độ đạt được trong quá trình điều hành và thực
hiện các chính sách, chiến lược và mô hình quản trị RRTD đã đề ra. Quản trị RRTD
ch mang lại hiệu quả nếu cơ chế quản trị rủi ro được xây dựng trên nền tảng khoa
học được kiểm chứng bằng thực nghiệm.
Hiệu quả quản trị nói chung và hiệu quả quản trị RRTD nói riêng ảnh hưởng
rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một NHTM có công tác
quản trị RRTD không hiệu quả hoặc không đạt hiệu quả tối đa sẽ tác động trực tiếp
đến hoạt động tín dụng, việc kiểm soát RRTD không tốt sẽ dẫn đến nợ xấu gia tăng
đồng nghĩa với việc dự phòng rủi ro tăng lên, hiệu quả hoạt động tín dụng giảm sút,
từ đó hoạt động kinh doanh của ngân hàng không đạt được kết quả mong muốn.
1.2.2.2 Ý nghĩa nâng cao hiệu quả quản trị RRTD
Hoạt động tín dụng giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh doanh
ngân hàng và tạo ra phần lớn lợi nhuận cho các NHTM. Tuy nhiên, hoạt động tín
dụng cũng tiềm ẩn rủi ro cao, do đó các NHTM luôn cố gắng xây dựng mô hình
quản trị RRTD hiệu quả nhằm phòng ngừa và hạn chế RRTD. Có nhiều biện pháp
để nâng cao hiệu quả quản trị RRTD nhưng kết quả mong muốn cuối cùng của các
nhà quản trị là nâng cao chất lượng tín dụng, đem đến nhiều lợi ích cho các NHTM,
các doanh nghiệp và toàn bộ xã hội. Xét về phía NHTM và nền kinh tế, nâng cao
hiệu quả quản trị RRTD đem lại nhiều ý nghĩa quan trọng sau:
 Đối với các NHTM: Việc nâng cao hiệu quả quản trị RRTD góp phần đảm bảo
và làm gia tăng lợi nhuận; có khả năng thu hồi nợ đầy đủ và đúng hạn, tăng
vòng quay vốn tín dụng, tạo thêm nguồn vốn, từ đó mở rộng khả năng cung
cấp tín dụng cũng như các dịch vụ ngân hàng khác; tăng khả năng sinh lợi của
các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí
nghiệp vụ, chi phí quản lý và các chi phí thiệt hại khác do không thu hồi được
vốn đã cho vay; giúp các NHTM thu hút nhiều khách hàng hơn bằng các hình
thức và chất lượng của sản phẩm, dịch vụ, qua đó tạo ra một hình ảnh tốt về

23

biểu tượng và uy tín ngân hàng, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của
các NHTM trên thị trường.
 Đối với nền kinh tế: Việc nâng cao hiệu quả quản trị RRTD giúp hệ thống
ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả, góp phần cải thiện khả năng phòng
chống của hệ thống tài chính từ những tác động tiêu cực của thị trường tài
chính thế giới. Giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn, phát
triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Từ đó tạo
ra nhiều công ăn việc làm, làm giảm thất nghiệp, nâng cao phúc lợi xã hội, cải
thiện khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế.
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả quản trị RRTD
Hoạt động quản trị RRTD của ngân hàng có thể đạt hiệu quả tối đa nhưng
cũng có thể hiệu quả đạt được không cao. Có nhiều nguyên do dẫn đến điều này
trong đó có các nhân tố sau đây:
 Hệ thống pháp lý: Rủi ro pháp lý là loại rủi ro rất khó để kiểm soát, sự thay
đổi liên tục các văn bản pháp luật trong khoảng thời gian ngắn khiến các ngân
hàng không kịp ứng phó; hoặc sự chồng chéo, không nhất quán giữa các văn
bản pháp luật nên khi vận dụng vào thực tiễn bị vướng mắc và bất cập. Chẳng
hạn, việc xử lý TSBĐ (Bất động sản) tại các ngân hàng hiện nay đang gặp
vướng mắc, một phần do trình độ và khả năng của cán bộ ngân hàng nhưng
phần lớn do thủ tục pháp lý phức tạp, cơ chế pháp lý chưa phù hợp; Nghị định
163 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm cho phép ngân hàng có quyền bán
TSBĐ (Bất động sản) nhưng Bộ Luật dân sự lại quy định người đứng tên trong
hợp đồng mua bán phải là chủ bất động sản hay người đại diện hợp pháp của
chủ bất động sản; do đó nếu chủ bất động sản không đồng ý thì không thể thực
hiện thủ tục sang tên cho bất động sản đó; do vậy để có quyền bán bất động
sản hợp pháp thì ngân hàng phải khởi kiện, nhưng thực tế quá trình tố tụng tại
Tòa án và giải quyết tại Thi hành án trải qua nhiều năm, đến khi xử lý xong

24

chưa chắc đã thu hồi đủ vốn và lãi. Chính hệ thống pháp lý không đồng bộ làm
cho hoạt động quản trị RRTD của các NHTM không đạt được hiệu quả tối đa.
 Sự phát triển của thị trường tài chính: Mức độ phát triển của thị trường tài
chính mà đặc biệt là thị trường vốn cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản trị
RRTD. Ở Việt Nam, các công cụ chứng khoán phái sinh trên thị trường chứng
khoán và thị trường tiền tệ chưa đa dạng, mới ch có Hợp đồng kỳ hạn
(Forward), Hợp đồng tương lai (Futures), Hợp đồng quyền chọn (Options),
hợp đồng hoán đổi (Swap) về hàng hóa và tiền tệ, chưa có các loại như: Hợp
đồng hoán đổi RRTD (Credit Default Swap – CDS), Chứng khoán đảm bảo
bằng thế chấp (Mortgage Backed Securities – MBS), …Đây là các loại công
cụ chứng khoán phái sinh rất hữu hiệu trong việc chuyển RRTD sang nhà đầu
tư, hạn chế RRTD cho các ngân hàng.
 Nguồn nhân lực: Đây là nhân tố rất quan trọng và quyết định các nhân tố khác
trong hoạt động quản trị RRTD. Nguồn nhân lực mà đặc biệt là HĐQT và
BTGĐ có trình độ học vấn và chuyên môn cao sẽ đưa ra các định hướng,
chiến lược và mục tiêu hoạt động hiện đại, tiên tiến và phù hợp với xu hướng
phát triển của thế giới, nhân viên được đào tạo bài bản và đúng chuyên ngành
sẽ hấp thụ và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của ngân hàng. Hiện
nay ở một số NHTM, Lãnh đạo quản trị ngân hàng theo cảm tính, không
chuyên nghiệp, mang tính kinh nghiệm, chưa chú trọng công tác quản trị rủi
ro,… NVTD thiếu khả năng, kỹ năng dự báo kinh tế, thị trường, phân tích tình
hình tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp. Chế độ đãi ngộ không hợp lý
nên số lượng cán bộ nhân viên giỏi chuyển sang ngân hàng khác.
 Công nghệ: Yếu tố công nghệ cũng không kém phần quan trọng trong việc
nâng cao hiệu quả quản trị RRTD, nó là một công cụ hỗ trợ hữu hiệu trong
quản trị RRTD. Một ngân hàng có công nghệ yếu kém, lạc hậu sẽ ảnh hưởng
lớn và làm trì trệ mọi hoạt động. Cụ thể, hệ thống máy tính và các trang thiết
bị cũ, lỗi thời; các chương trình máy tính, phần mềm ứng dụng, phần mềm bảo

25

vệ, bảo mật về dữ liệu và thông tin không được đảm bảo, cải tiến và cập nhật
theo yêu cầu thực tiển; phương thức quản trị công nghệ không phù hợp;…sẽ
gây ra nhiều khó khăn và trở ngại trong hoạt động quản trị RRTD.
 Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng về danh mục cho vay, lãi suất, định
giá TSBĐ,… nếu không được xây dựng một cách khoa học, phù hợp với thực
tiễn sẽ tác động không nhỏ đến hiệu quả quản trị RRTD. Chẳng hạn, lãi suất
cho vay không được xác định dựa trên chi phí vốn, mức độ rủi ro và mức lợi
nhuận hợp lý của ngân hàng nghĩa là các ngân hàng không định giá khoản vay
trên cơ sở đảm bảo lãi cho vay đủ bù đắp chi phí biên của vốn, chi phí quản lý
khoản vay, phần bù rủi ro và lợi nhuận hợp lý. Việc định giá khoản vay được
thực hiện một cách cảm tính hoặc cứng nhắc dựa vào mức lãi suất chung cho
tất cả khách hàng, việc lượng hóa độ rủi ro của khách hàng, dự án gặp khó
khăn khi ngân hàng không có phần mềm và đầy đủ thông tin để thực hiện, các
thông số của thị trường dùng trong đo lường (hệ số bêta, xếp hạng tín dụng,…)
chưa có cơ quan chuyên nghiệp để xác định.
 Phương thức quản trị RRTD: Phương thức quản trị RRTD bao gồm phương
pháp, công cụ và mô hình quản trị RRTD mà các nhà quản trị sử dụng để nhận
diện, phân tích, đo lường và đánh giá RRTD nhằm kiểm soát và hạn chế
RRTD ở mức chấp nhận được. Vì vậy, nếu ngân hàng sử dụng phương thức
quản trị RRTD không phù hợp thì việc kiểm soát RRTD sẽ không hiệu quả.
Hiện nay đã có nhiều NHTM chú trọng hơn đến quản trị rủi ro và thực hiện
mô hình quản trị RRTD theo chuẩn mực Basel nhưng vẫn còn nhiều NHTM
chưa xây dựng được mô hình thích hợp để lượng hóa RRTD. Một số NHTM
đang áp dụng chương trình chấm điểm tín dụng hoặc hệ thống xếp hạng tín
dụng nội bộ để đo lường RRTD nhưng mỗi ngân hàng tự xây dựng và không
theo một quy chuẩn chung phù hợp với thông lệ quốc tế.
 Hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin khách hàng: Chương trình quản lý dữ liệu
và nguồn cung cấp thông tin khách hàng cũng là yếu tố quan trọng và có tính