Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 4:KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ IPO HIỆU QUẢ

CHƯƠNG 4:KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ IPO HIỆU QUẢ

Tải bản đầy đủ

32

phiếu của doanh nghiệp, không chỉ phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp mà còn
phụ thuộc không nhỏ vào những thông tin “đồn thổi”. Nhƣng với chi phí bỏ ra ngày
hôm nay, nhà đầu tƣ lại kỳ vọng trong tƣơng lai, giá cổ phiếu sẽ tăng do doanh
nghiệp làm ăn phát đạt, thu nhập không chỉ có từ cổ tức, mà còn thu nhập từ giá trị
gia tăng do chính doanh nghiệp tạo ra. Giá khởi điểm thấp sẽ tăng khả năng đăng ký
và làm giảm rủi ro cho những nhà bảo lãnh phát hành. Tuy nhiên, giá khởi điểm
thấp cũng có thể sẽ không phản ánh đƣợc sự quan tâm thực sự của nhà đầu tƣ khi
đăng ký và dẫn tới nhiều khả năng các nhà đầu tƣ sẵn sàng bỏ cọc nếu giá trúng
thầu của họ cao so với giá bình quân. Trong trƣờng hợp giá khởi điểm cao, thƣờng
hàm ý rằng DN đƣợc đánh giá cao. Song mức giá này cũng không thể quá cao vì có
thể làm cho việc phát hành trở nên kém hấp dẫn. Cơ sở để đƣa ra mức giá khởi
điểm là dựa vào định giá trị cổ phần. Định giá chứng khoán là khâu khó khăn nhất
và phức tạp nhất khi tiến hành phát hành chứng khoán ra công chúng. Nếu định giá
chứng khoán quá cao thì sẽ khó khăn trong việc bán chứng khoán, còn nếu định giá
chứng khoán quá thấp thì sẽ làm thiệt hại cho tổ chức phát hành. Vì thế, việc định
giá chứng khoán một cách hợp lý sao cho ngƣời mua và ngƣời bán đều chấp nhận
đƣợc là hết sức quan trọng.
Khối lƣợng phát hành (nhiều hay ít) cũng ảnh hƣởng đến giá trúng thầu. Điều
này cho thấy dƣờng nhƣ quy luật cung-cầu chi phối giá cả và xu thế thị trƣờng.
Khối lƣợng phát hành nói lên mức cung của đợt IPO, khối lƣợng này phải phù hợp
với khối lƣợng vốn dự kiến huy động và tính đến hiệu quả của việc sử dụng số vốn
huy động đƣợc sau đợt IPO. Việc chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng nếu
thỏa mãn đƣợc hai vấn đề giá và khối lƣợng nêu trên, thì đƣợc coi là đợt IPO hiệu
quả.
Ngoài các yếu tố định lƣợng đƣợc phân tích trong mô hình thực nghiệm trên,
còn một số yếu tố khác rất quan trọng ảnh hƣởng tới kết quả IPO mà doanh nghiệp
nên chú ý nhƣ:
- Lựa chọn thời điểm phát hành
Việc lựa chọn thời điểm phát hành đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, việc
dự báo tình hình để lựa chọn thời điểm là công việc không đơn giản vì khi cung

33

quá nhiều và dồn dập thì thị trƣờng sẽ quá tải và sụt giảm, cộng với sự đón nhận
hờ hững của nhà đầu tƣ, sẽ khiến cho mức giá mà doanh nghiệp đƣa ra sẽ thành
không hợp lý. Do đó, phải dự đoán sát cung cầu, điều tiết cung cầu sẽ giúp cho
việc giá IPO sẽ hợp lý hơn. Dự đoán sát cung cầu sẽ giúp cho đƣa ra một lƣợng
cung phù hợp, từ đó sẽ dựa vào đó để xác định mức giá mà cả ngƣời mua và ngƣời
bán đều chấp nhận. Không phải ngẫu nhiên mà vào năm 2007 đa số các DN IPO
đều thu đƣợc kết quả khả quan thì bƣớc sang năm 2008, đặc biệt là vào thời điểm
cuối năm, thị trƣờng IPO hết sức ảm đạm. Những khó khăn của nền kinh tế nói
chung và thị trƣờng chứng khoán nói riêng khiến cho giới đầu tƣ không còn mặn mà
với các đợt chào bán công khai.
Mặc khác nhƣ phân tích ở trên lịch sử hoạt động của DN có tác động không
nhỏ đến hiệu quả IPO vì vậy các DN không nên nóng vội trong việc IPO, có những
trƣờng hợp trong thấy DN mới thành lập với lịch sử hoạt động còn non nớt nhƣng
lại nhanh chóng tiến hành IPO và kết quả đem lại là đợt IPO đó thất bại. Để có đƣợc
hiệu quả trong đợt IPO các DN cần xem xét xem thử liệu lịch sử hoạt động của DN
đã đủ dài chƣa, DN đã đƣợc sự tin tƣởng của nhà đầu tƣ chƣa...nếu các yếu tố đó
thõa mãn thì DN hay tiến hành IPO còn không thì nên dời việc IPO đó vào một thời
điểm khác phù hợp hơn.
Ngoài ra, một điểm cần lƣu ý nữa khi DN tiến hành IPO là phải còn tùy vào
nhu cầu của nhà đầu tƣ. Ở mỗi thời gian khác nhau nhà đầu tƣ sẽ chuộng loại cổ
phiếu khác nhau. Nhƣ vậy, cho dù DN IPO trong thời kỳ chứng khoán đang lên
nhƣng nếu không nắm bắt đƣợc xu hƣớng của thị trƣờng thì IPO cũng khó đạt kết
quả nhƣ mong đợi.
- Chú trọng đến yếu tố thời gian
Thời gian là một yếu tố hết sức quan trọng. Tại Việt Nam, mức giá chào bán
cổ phiếu đƣợc đƣa ra vài tháng trƣớc khi đấu giá. Tuy nhiên, thị trƣờng có thể lên
xuống rất nhanh, cụ thể thị trƣờng Việt Nam trong thời gian qua, giá chào bán các
cổ phiếu đã giảm 30-40% so với giá IPO, vì vậy việc ấn định giá cổ phiếu vài tháng
trƣớc khi phát hành IPO là không hợp lý. Khi thị trƣờng đã giảm mạnh nhƣ vậy thì
sẽ rất ít nhà đầu tƣ sẽ muốn nhảy vào, làm cho nhiều cuộc IPO thất bại do thị trƣờng

34

có chiều hƣớng đi xuống. Chính vì vậy, để định giá các đợt IPO sát với giá thị
trƣờng rất khó thực hiện bởi sự biến động liên tục và phức tạp của thị trƣờng. Trong
khi đó, thông thƣờng tại các nƣớc khác trên thế giới, việc định giá là một trong
những bƣớc cuối cùng, vào cùng ngày khi mà DN đã hoàn tất mọi thủ tục, cổ phiếu
sẵn sàng đƣa ra chào bán. Do đó, theo quan điểm của tôi, để phƣơng pháp đấu giá
có thể phản ánh tƣơng đối đúng giá thị trƣờng Việt Nam cần rút ngắn thời gian từ
lúc đƣa ra mức giá chào bán đến lúc phát hành IPO.
- Nâng cao nhận thức doanh nghiệp về tầm quan trọng của việc minh bạch hóa
thông tin và khai thác các phương tiện truyền thông hợp lý
Đây là một phần rất quan trọng ảnh hƣởng đến kết quả IPO, một doanh nghiệp
có tình hình tài chính vững mạnh, có cơ hội tăng trƣởng tốt trong tƣơng lai... nhƣng
các thông tin này lại không đƣợc đƣa đến các nhà đầu tƣ một cách đầy đủ và kịp
thời thì cũng ảnh hƣởng đến kết quả IPO.
Việc minh bạch thông tin và khai thác phƣơng tiện truyền thông hợp lý không
chỉ giúp các doanh nghiệp Việt Nam tối đa hóa giá trị của mình khi chào bán cổ
phiếu lần đầu (IPO) mà còn là đòn bẩy hiệu quả cho sự phát triển kinh doanh. Nhiều
doanh nghiệp Việt Nam thƣờng coi nhẹ vấn đề tƣ vấn xây dựng một chiến lƣợc
thông tin cho doanh nghiệp xuyên suốt tất cả các khâu trƣớc và sau IPO. Ngoại trừ
các DN lớn, hầu hết các DN nhỏ của Việt Nam tiết kiệm tối đa chi phí công bố
thông tin. Các doanh nghiệp này chỉ làm theo đúng luật là đăng tải thông tin trên
một tờ báo Trung Ƣơng và một tờ báo của địa phƣơng nơi doanh nghiệp đăng ký
kinh doanh. Trên thực tế, chi phí cho việc đăng tải thông tin không đƣợc tiết kiệm là
bao, nhƣng điều này lại gây thiệt thòi cho chính doanh nghiệp. Bởi, thứ nhất, nhà
đầu tƣ sẽ ít có cơ hội tiếp cận các thông tin của doanh nghiệp. Thứ hai, các tổ chức
cũng bỏ qua cơ hội (bởi các tổ chức thƣờng chấp nhận bỏ qua cơ hội hơn là không
biết rõ, hoặc biết mù mờ về thông tin doanh nghiệp), cho dù có thể sau đó giá cổ
phiếu đó tăng. Nhƣ vậy có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không chào bán hết
đƣợc cổ phiếu hoặc không chào bán đƣợc giá cao. Bên cạnh đó, việc nhiều doanh
nghiệp đang chuẩn bị IPO hay đã niêm yết trên sàn chứng khoán vẫn chƣa làm tốt
vấn đề minh bạch thông tin doanh nghiệp, sẽ dẫn đến xói mòn niềm tin của nhà đầu

35

tƣ đối với doanh nghiệp và thị trƣờng chứng khoán. Chính vì vậy, vấn đề mấu chốt
là phải tạo ra đƣợc nhận thức chung cho doanh nghiệp và các DN tƣ vấn, bảo lãnh
phát hành về tầm quan trọng cũng nhƣ lợi ích lâu dài của sự minh bạch hóa cho bản
thân doanh nghiệp. Những lợi ích này có thể bao gồm sự quan tâm hàng đầu của
giới đầu tƣ, doanh nghiệp nằm trong danh sách khuyến nghị của các nhà môi giới,
nhà phân tích, các định chế tài chính sẽ muốn giao dịch, cổ đông sẽ gắn bó lâu dài
và sẵn lòng hỗ trợ DN…
Mặt khác, một yếu tố không kém phần quan trọng giúp nâng cao nhận thức
của doanh nghiệp về vấn đề này là vai trò của các DN tƣ vấn IPO. Thực tế, nhiều
DN thƣờng coi nhẹ vấn đề tƣ vấn xây dựng một chiến lƣợc thông tin cho doanh
nghiệp xuyên suốt tất cả các khâu trƣớc và sau IPO. Thiếu sót này là do hầu hết các
DN tƣ vấn chỉ có chuyên môn về lĩnh vực tài chính và hầu nhƣ không có kiến thức
về xây dựng chiến lƣợc công bố thông tin. Do vậy họ thƣờng đơn thuần tƣ vấn
doanh nghiệp công bố thông tin theo đúng quy định.

36

NHỮNG HẠN CHẾ TRONG BÀI NGHIÊN CỨU.
- Mô hình có R-Squared thấp, nên có thể còn nhiều biến chƣa đƣợc đƣa vào mô
hình để giải thích trong đó có những biến định tính rất khó đo lƣờng do khó khăn về
minh bạch thông tin và tìm kiếm số liệu.
- Bài nghiên cứu có số lƣợng mẫu nhỏ chỉ 50 công ty, đó cũng là điểm hạn chế phổ
biến khi nghiên cứu trên thị trƣờng mới nổi, cụ thể nghiên cứu của Boudriga (2009)
mẫu có 34, nghiên cứu của Sohail và Raheman (2009) trên thị trƣờng Pakistan có
50 công ty, hay nghiên cứu của Adjasi (2011) ở Nigeria có 55 công ty.
- Nghiên cứu của tác giả dựa theo các nghiên cứu ở nƣớc ngoài cụ thể là ở thị
trƣờng chứng khoán của Mỹ, Cộng hòa Síp hay Ấn Độ. Có thể nói ở các quốc gia
này có giá các cổ phiếu thay đổi theo sự biến đổi của thị trƣờng hay nói cách khác là
thị trƣờng hiệu quả, nhƣng về thị trƣờng chứng khoán Việt Nam tác giả chƣa có
điều kiện để chạy mô hình kiểm định về tính hiệu quả của thị trƣờng cũng nhƣ độ
minh bạch về thông tin nên có thể nói đây cũng là một thiếu sót của nghiên cứu.
Định hƣớng nghiên cứu tiếp theo là xác định thêm các biến có ảnh hƣởng thực
sự tới sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu, ngoài các biến định lƣợng đƣợc
nhƣ khả năng sinh lời và xu thế tăng trƣởng trong tƣơng lai của doanh nghiệp, còn
có cả các biến định tính nhƣ môi trƣờng vĩ mô, năng lực quản lý, thành phần cổ
đông DN, ….

TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Tài liệu trong nƣớc
o Damodar N Gujarati xuất bản lần 3, Bản dịch “Giáo trình kinh tế lƣợng” đại
học Fullbright từ cuốn “Basic Econometrics”, nhà xuất bản McGraw-Hill
o Trần Ngọc Thơ, “Tài chính doanh nghiệp hiện đại”, nhà xuất bản Thống kê
Tài liệu nƣớc ngoài.
o Affleck-Graves, J., S. Hedge, and R. Miller, 1996, Conditional price tends in
the aftermarket for initial public offerings, Financial Management 25, 25-40.
o Aggarwal, R. Leal, and L. Hernandez, 1993, Activities by underwriters
performance

of

Initial

public

offerings

Latin

America

Financial

Management, 22, 42-53.
o Aggarwal, R., R. Leal, and L. Hernandez, 1993, The aftermarket
performance of initial public offerings in Latin America, Financial
Management 22, 42-53.
o Ahmad-Zaluki, N. , K. Campbell, and A. Goodacre, 2004, The long run
share price performance of Malaysian Initial Public Offerings, working
paper, University of Stirling.
o Allen, F. , and G. Faulhaber, 1989, Signaling by underpricing in the IPO
market, Journal of Financial Economics 23, 303-323.
o Allen, M. , R. Rutherford, and T. Springer, 1993, The wealth effects of
corporate real estate leasing, Journal of Real Estate Research 8, 567-578.
o Alvarez, S., and V. Gonzalez, 2001, Long run performance of initial public
offerings (IPOs) in the Spanish capital market, European Financial
Management Association (Lugano).
o Ansotegui, O., and F. Fabregat, 2000, Initial Public Offerings in Spanish
stock exchange, Working paper, ESADE.
o Aussenegg, W., 2000, Short and long run performance of Initial public
offerings in the Austrian stock Market, Working Paper, Vienna University of
Technology.