Tải bản đầy đủ
Thuế nhập khẩu là công cụ bảo hộ nền sản xuất trong nước

Thuế nhập khẩu là công cụ bảo hộ nền sản xuất trong nước

Tải bản đầy đủ

Từ một vài định nghĩa về bảo hộ trên đây, có thể hiểu, bảo hộ sản xuất là thuật ngữ kinh tế
học quốc tế, chỉ toàn bộ biện pháp bảo hộ ngành sản xuất hàng hóa trong một quốc gia nhằm chống
lại sự cạnh tranh đến từ hàng hóa tương tự từ nước ngoài.
Một số biện pháp bảo hộ thông thường như: áp đặt thuế suất nhập khẩu cao đối với một số
mặt hàng nhập khẩu, áp dụng nâng cao một số tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi
trường,... Các biện pháp này được chia làm hai nhóm là biện pháp thuế quan và biện pháp phi thuế
quan. WTO và các định chế khu vực thương mại thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp
bởi tính minh bạch và rõ ràng của nó. Mức thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu qua lãnh thổ hải quan
của một quốc gia được quy định bằng một con số cụ thể và rõ ràng.
* Biểu hiện của thuế nhập khẩu là công cụ bảo hộ nền sản xuất thông qua các quy định
của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thứ nhất, theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005, Khoản 2, 3 Điều 5 và Khoản
1, 2, 3, 4 Điều 11 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định các biện pháp về thuế để tự vệ,
chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa nhưng chưa đầy
đủ, mới chỉ dừng ở việc định danh về các biện pháp này. Việc áp dụng các loại thuế phòng vệ đang
được thực hiện theo quy định tại các pháp lệnh chống bán phá giá, Pháp lệnh chống trợ cấp, Pháp
lệnh về tự vệ.
Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016 đã bổ sung các quy định về thuế chống bán
phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử để góp phần bảo vệ nền sản xuất kinh doanh trong
nước trong điều kiện hội nhập quốc tế; trên cơ sở kế thừa, nâng cấp, bổ sung những quy định của
Pháp lệnh liên quan thời gian qua. Cụ thể, Luật đã bổ sung quy định về thuế áp dụng đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu gồm thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ gồm điều kiện
áp dụng, nguyên tắc áp dụng, thời hạn áp dụng đối với từng loại thuế. Căn cứ mức thuế, số lượng
hoặc trị giá hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ,
người khai hải quan có trách nhiệm kê khai và nộp thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Trong phần giải thích từ ngữ, Luật đã bổ sung giải thích một loạt cụm từ ngữ có liên quan về 3 loại
thuế phòng vệ được chuyển nguyên trạng từ quy định tại các Pháp lệnh chống bán phá giá, Pháp
lệnh chống trợ cấp, Pháp lệnh về tự vệ, bao gồm: “Gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho
ngành sản xuất trong nước”; “Ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước”; “Ngành sản
xuất trong nước”; “Trợ cấp”; “Nhập khẩu hàng hoá quá mức”... Cùng với đó, tại chương III (từ Điều
12 đến Điều 15) Luật quy định về nội hàm của từng biện pháp phòng vệ thuế như điều kiện, nguyên
tắc, thời hạn áp dụng biện pháp phòng vệ và thẩm quyền áp dụng các loại thuế này.
Thông qua việc quy định trực tiếp các loại thuế trên trong Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu, đã đảm bảo được sự nhất quán, xuyên suốt, tạo ra môi trường nhằm phát huy vai trò là công
cụ bảo vệ sự lành mạnh của môi trường kinh tế, bảo vệ hàng hóa sản xuất trong nước trong điều kiện
phải cắt giảm thuế NK theo các cam kết quốc tế gần như xuống 0% trong thời gian tới; mặt khác,
nâng quy định pháp lý từ Pháp lệnh lên thành Luật và việc hợp nhất các nội dung về các biện pháp
phòng vệ đối với hàng hóa XK, NK tại Luật Thuế XK, thuế NK phù hợp với quy định của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật, tạo sự rõ ràng, minh bạch trong quá trình hoàn thiện pháp luật
Việt Nam. Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và thuế tự về đều là những hình thức bảo hộ
hợp pháp và có những tác động tích cực tới nền kinh tế, góp phần thúc đấy nên kinh tế trong nước
phát triển.
Thứ hai, để bảo hộ nền sản xuất trong nước, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành
quy định mức thuế suất cao vào hàng hóa nhập khẩu, để làm tăng thành của hàng hóa nhập khẩu. Từ
5

đó, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu đối với hàng hóa nôi địa tương tự. Thuế suất
đối với hàng hóa nhập khẩu gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt, thuế suất thông thường
và được áp dụng như sau:
+ Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc
vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ
khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng Điều kiện xuất xứ từ nước, nhóm
nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam;
+ Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm
nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu trong quan hệ thương mại
với Việt Nam; hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng Điều
kiện xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập
khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam;
+ Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu không thuộc các trường hợp
trên. Thuế suất thông thường được quy định bằng 150% thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương
ứng. Trường hợp mức thuế suất ưu đãi bằng 0%, Thủ tướng Chính phủ căn cứ quy định tại Điều 10
của Luật Thuế xuất nhập khẩu để quyết định việc áp dụng mức thuế suất thông thường.
Thuế nhập khẩu quy định mức thuế suất phân biệt đối với các loại hàng hóa khác nhau, cụ
thể là đối với hàng hóa trong nước đã sản xuất hoặc đang được khuyến khích sản xuất thì chịu mức
thuế nhập khẩu cao, còn đối với các mặt hàng máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu sản xuất thì
chịu mức thuế suất nhập khẩu thấp.
Chính vì thuế nhập khẩu có tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong
nước. Đối với cách nghành nghê đang được nhà nước quan tâm và ưu tiên phát triển, thuế suất thuế
nhập khẩu đánh vào các mặt hàng hóa của ngành nghề này sẽ cao hơn nhằm mục đích giảm bớt sự
cạnh tranh của mặt hàng cùng loại, giảm bớt đối thủ cho các doanh nghiệp còn non nớt về kinh
nghiệm cũng như tiềm lực tài chính ở trong nước.
Ví dụ, đối với hàng hóa trong nước đã sản xuất hoặc đang được khuyến khích sản xuất như
thủy sản, ngành lắp ráp và sản xuất ô tô, ngành cơ khí,.. thì đánh mức thuế suất cao lên cụ thể như
sau:
+ Ngành thủy sản: đối với động vật giáp xác đã được hun khói chịu mức thuế suất thuế nhập
khẩu là 27%.
+ Nhập khẩu các linh kiện để sản xuất ô tô: mức thuế suất thuế nhập khẩu lên tới 70%.
+ Ngành nông nghiệp: đối với mặt hàng trứng chim và trứng gia cầm nguyên vỏ, sống, đã
bảo quản, đã làm chín có mức thuế suất thuế nhập khẩu lên tới 40%.
+ Ngành sản xuất gốm xứ cũng có mức thuế suất lên tới 45%.
+ Ngành dệt may cũng có những loại hàng hóa với mức thuế suất cao lên tới 25%.
+ Còn đối với các mặt hàng máy móc, vật tư, thiết bị, nguyên liệu phục vụ sản xuất mà
trong nước chưa sản xuất được thì áp dụng mức thuế suất thấp.
Thứ ba, Nhà nước còn quy định thuế suất áp dụng trong trường hợp vượt quá hạn ngạch để
bảo hộ nên sản xuất trong nước. Đây được biết đến là hình thức bảo hộ hợp pháp của nhà nước.
6

Hiện nay, hạn ngạch thuế quan được áp dụng đối với 4 mặt hàng đó là: đường, muối, trứng và thuốc
lá.
Ví dụ: Đối với mặt hàng là trứng gà:
- Lượng hạn ngạch ban đầu và thuế suất trong hạn ngạch được áp dụng là 30000 tá chịu mức
thuế 40%.
- Thuế suất ngoài hạn ngạch là 80%.
2. Thuế nhập khẩu khuyến khích xuất khẩu
Ngoài vai trò bảo hộ nền sản xuất trong nước, thuế nhập khẩu còn góp phần khuyến khích
xuất khẩu, cụ thể được thể hiện thông qua các quy định sau:
Thứ nhất, miễn thuế là một trong những quy định của Nhà nước góp phần thúc đẩy xuất
khẩu hàng hóa. Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016 đã quy định việc miễn thuế đối với
một số loại hàng hóa nhất định, chủ yếu, các mặt hàng này là nguyên liệu, vật tư, kinh kiện nhập
khẩu gia công, sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Quy định này đã tạo điều kiện về mặt tài chính cho các
doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất các sản phẩm xuất khẩu. Vì giảm bớt chi phí trong việc
đầu tư nguyên vật liệu đầu vào nên sẽ giảm nhẹ gánh nặng về vốn cho các doanh nghiệp phải gánh
chịu. Cụ thể, Luật quy định miễn thuế các đối tượng này tại Khoản 6, khoản 7 và khoản 16 điều 16
Luật Thuế xuất nhập khẩu như sau:
“Điều 16. Miễn thuế
6. Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để gia công sản phẩm xuất khẩu; sản phẩm hoàn chỉnh
nhập khẩu để gắn vào sản phẩm gia công; sản phẩm gia công xuất khẩu.

Sản phẩm gia công xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu, vật tư trong nước có thuế xuất khẩu thì
không được miễn thuế đối với phần trị giá nguyên liệu, vật tư trong nước tương ứng cấu thành trong
sản phẩm xuất khẩu.
Hàng hóa xuất khẩu để gia công sau đó nhập khẩu được miễn thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu
tính trên phần trị giá của nguyên vật liệu xuất khẩu cấu thành sản phẩm gia công. Đối với hàng hóa
xuất khẩu để gia công sau đó nhập khẩu là tài nguyên, khoáng sản, sản phẩm có tổng trị giá tài
nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì
không được miễn thuế.
7. Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
16. Dự án, cơ sở đóng tàu thuộc danh Mục ngành, nghề ưu đãi theo quy định của pháp luật
về đầu tư được miễn thuế đối với: c) Tàu biển xuất khẩu.”
Theo quy định hiện hành, để khuyến khích nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…
phục vụ cho sản xuất xuất khẩu quy định hiện hành cho phép một số trường hợp đơn vị nhập khẩu
được nợ thuế Nhập khẩu từ 30 ngày đến 270 ngày, thực chất đây là hình thức Nhà nước tài trợ cho
doanh nghiệp thông qua phương thức cho vay vốn nhưng không thu lãi để doanh nghiệp tạm
thời không mất đi một khoản vốn lưu động để nộp thuế Nhập khẩu, quy định này đã tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016 còn quy định về hoàn thuế đối với
hàng hóa nhập khẩu để sản xuất, kinh doanh những đã đưa vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu và đã
7

xuất khẩu sản phẩm. Mục đích của quy định trên cũng nhằm khuyến khích việc xuất khẩu. Bởi lẽ,
xét thấy việc doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa này là sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Đây được đánh
giá là một trong những quy định có tac động tích cực cho các doanh nghiệp đẩy mạnh việc sản xuất
sản phẩm để xuất khẩu. Quy định về hoàn thuế tại điều 19 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
“Điều 19. Hoàn thuế
d) Người nộp thuế đã nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất, kinh doanh nhưng
đã đưa vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu và đã xuất khẩu sản phẩm.”
- Việc đánh thuế suất cao đối với một số loại hàng hóa đã góp phần bảo hộ một số ngành sản
xuất trong nước, đã góp phần thúc đẩy và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Những ngành sản xuất trong nước trước đây chưa phát triển hay mới phát triển ở quy
mô nhỏ thì hiện nay đang phát triển một cách nhanh chóng đáp ứng từng bước nhu cầu trong nước
thậm chí còn xuất khẩu ra nước ngoài. Kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng đáng kể của các ngành
dệt may, thủy sản, vật liệu xây dựng ... là những minh chứng rõ ràng nhất.
Báo cáo tại Hội thảo về Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010
có xét đến năm 2020, ông Phạm Anh Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công
Thương) cho biết, tỷ lệ giá trị xuất khẩu cơ khí trên tổng giá trị ngành cơ khí trong năm 2014 đạt
32,12% đã vượt chỉ tiêu Chiến lược là 30%.
Thêm vào đó, việc hầu như không thu thuế đối với các mặt hàng xuất khẩu, giảm nhóm và
lượng các mặt hàng chịu thuế xuất khẩu đã góp phần khuyến khích việc sản xuất và xuất khẩu trong
nước.
Thứ ba, việc kéo dài thời hạn nộp thuế nhập khẩu đối với các vật tư nguyên liệu dùng để sản
xuất hàng xuất khẩu góp phần tích cực trong việc hỗ trợ, khuyến khích xuất khẩu theo đúng định
hướng kinh tế của nhà nước. Đồng thời, Luật đã sửa đổi nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuế suất.
Khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu, ưu tiên loại trong nước chưa đáp ứng nhu cầu; chú
trọng phát triển lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường;
phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và các cam kết về thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Các nguyên tắc sẽ góp phần
bình ổn thị trường và nguồn thu ngân sách Nhà nước; đơn giản, minh bạch, tạo thuận lợi cho người
nộp thuế và thực hiện cải cách thủ tục hành chính về thuế.
III - Những “thủ đoạn” chủ yếu hiện nay chủ thể nhập khẩu gian lận thuế nhập khẩu
Trong điều kiện các hoạt động thương mại quốc tế ngày càng gia tăng, kéo theo sự tăng
trưởng không ngừng của kim ngạch nhập khẩu, đồng thời, các hành vi gian lận về thuế đối với hàng
hóa nhập khẩu cũng gia tăng đáng kể về hình thức gian lận, số vụ gian lận và quy mô số thuế gian
lận. Cụ thể như sau:
* Buôn lậu
Đây là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hoá cấm, không khai báo,
tránh sự quản lý của hải quan và trốn nghĩa vụ thuế. Thời gian qua, việc buôn bán, vận chuyển, tiêu
thụ hàng nhập lậu, hàng cấm có diễn biến phức tạp, với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo
quyệt, khó kiểm soát. Hàng nhập lậu chủ yếu là hàng tiêu dùng như quần áo, vải, giày dép, đồ chơi
trẻ em, rượu, bia và các loại nước giải khát, hàng điện máy gia dụng, điện lạnh, thực phẩm… Sau
8