Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2. NHỮNG KIẾN THỨC MỚI SAU KHI HỌC MÔN HỌC

CHƯƠNG 2. NHỮNG KIẾN THỨC MỚI SAU KHI HỌC MÔN HỌC

Tải bản đầy đủ

+ Đời sống vật chất, theo Hồ Chí Minh là đảm bảo cho mọi người dân
được ăn no, mặc ấm, có nhà ở, có thuốc chữa bệnh khi ốm đau. Người đã nói:
“Dân sinh là cái gì? Là cái ăn, cái mặc, cái ở. Ba cái đó đều quan trọng” .
+ Đời sống tinh thần: Theo Hồ Chí Minh, trước hết là đảm bảo việc
học hành cho mọi người. Người nói: “Chúng ta phải ra sức đấu tranh làm cho
nhân dân ta ai cũng ăn no, mặc ấm, có việc làm, có giờ nghỉ, được học tập” .
Đời sống tinh thần còn bao hàm nội dung tự do tín ngưỡng, mọi người trong
xã hội có cuộc sống tinh thần phong phú, mọi tập tục hủ lậu của xã hội cũ bị
xóa bỏ.
Về con đường phát triển kinh tế của nước ta sau khi giành được độc
lập, Hồ chí Minh đã khẳng định, đó là con đường cải tạo và xây dựng nền
kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội: “Biến nền kinh tế lạc hậu thành một
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa
học và kỹ thuật tiên tiến” . Người cho rằng, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội
thì trước tiên phải cải tạo nền kinh tế cũ, làm cho nó phục vụ đắc lực cho quốc
kế dân sinh. Người chỉ rõ việc cải tạo nền kinh tế cũ theo hướng xã hội chủ
nghĩa không thể làm một bước mà xong ngay được, phải làm từng bước với
từng hình thức thích hợp. Trước hết là phải khôi phục nông nghiệp để tạo tiền
đề kinh tế đưa nông dân đi dần vào con đường xã hội chủ nghĩa, thông qua
việc vận động nông dân vào làm ăn hợp tác. Người viết: “Nông dân muốn
giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã” . Tuy vậy, phải đi
dần từng bước, Người nói: “Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà
phải làm dần dần. Ở nông thôn phải có tổ đổi công để tăng gia sản xuất rồi
tiến lên hợp tác xã” .
Như vậy, về bản chất, nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phải được tạo lập
trên nền tảng chế độ công hữu, song ở thời kỳ quá độ nó vẫn tồn tại 4 hình
thức sở hữu chính: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu người lao động
riêng lẻ và sở hữu của nhà tư bản, không thể nôn nóng xóa bỏ ngay một lúc
được. Tư tưởng đó là cơ sở để xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, khai
7

thác và phát huy được mọi tiềm năng để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống
nhân dân.
Đồng thời, để nâng cao đời sống nhân dân, Nhà nước phải có chính
sách đúng đắn. Người cho rằng muốn nâng cao đời sống nhân dân thì phải
phát triển kinh tế. Nhưng kinh tế chỉ phát triển được khi quan hệ sản xuất phải
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí
Minh xác định đặc điểm lớn nhất của nước ta là quá độ từ một nước nông
nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, để khai thác và phát huy được mọi tiềm
năng để phát triển kinh tế thì phải xóa bỏ các hình thức sở hữu không xã hội
chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên
chế độ sở hữu toàn dân và tập thể với nhiều thành phần kinh tế. Như vậy,
Người đã nhìn thấy toàn bộ sự vận động đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước
nông nghiệp lạc hậu trong thời kỳ quá độ là phải phát triển sản xuất, đồng thời
cải tạo quan hệ sản xuất. Người vạch rõ: “ nhiệm vụ phát triển sản xuất gắn
chặt với nhiệm vụ cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa”
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra mục tiêu của phát triển kinh tế
mà còn chỉ ra biện pháp để đạt được mục tiêu. Nhiều biện pháp cụ thể Hồ Chí
Minh đã chỉ ra, có thể trực tiếp, có thể gián tiếp, có thể cụ thể, có biện pháp
chung … Lợi dụng mọi cơ hội, mọi điều kiện để hướng mọi người với việc
thực hiện mục tiêu, không cao xa mà gần gũi với đời sống hiện thực của mỗi
con người. Đó là:
- Xây dựng dần, xây dựng từng bước nền móng kinh tế của chủ nghĩa
xã hội để từng bước nâng cao đời sống nhân dân.
- Lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lý
- Cán bộ, đảng viên phải biết giáo dục, tổ chức, lãnh đạo, giúp đỡ,
hướng dẫn nhân dân tăng gia sản xuất.
- Nhà nước phải tẩy sạch các căn bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí.
8

Hồ Chí Minh xác định mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trước hết là nhằm
làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có được
công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc. Vì vậy, mục đích
của mọi đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước là để nâng cao
đời sống nhân dân. Người cho rằng: Muốn nâng cao được đời sống của nhân
dân thì phải tăng gia sản xuất.
Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói về quan hệ chặt chẽ, gắn bó giữa đẩy
mạnh sản xuất với nâng cao đời sống của nhân dân. Đời sống chỉ có thể nâng
lên khi sản xuất phát triển. Bởi lẽ, sản xuất phát triển mới có nhiều của cải vật
chất để nâng cao đời sống nhân dân. Sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ thì đời
sống mới được cải thiện. Ngược lại, đời sống được cải thiện mới động viên,
khuyến khích nhân dân tích cực sản xuất. Vì vậy, chỉ có trên cơ sở đẩy mạnh
sản xuất, phát triển kinh tế, cuộc sống của nhân dân mới dần dần được cải
thiện. Người viết: “Chúng ta thi đua làm nhiều, làm nhanh là cốt tăng nhanh
mức sống của nhân dân lao động và tăng nhanh tích lũy để xây dựng công
nghiệp, mở mang kinh tế” .
2.2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
nền kinh tế quốc dân
Theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội,
chúng ta phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, gian khổ để biến nước ta từ
một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp. Người nhấn
mạnh, “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật
chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”. Người đi đến kết luận, muốn xây dựng
chủ nghĩa xã hội, tất yếu phải công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Muốn đảm
bảo đời sống sung sướng mãi mãi, phải công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù nhiều lần nhắc đến phát triển nông nghiệp làm gốc, nông nghiệp là
chính, nhưng Người vẫn nhấn mạnh công nghiệp hóa mới là con đường cơ
bản để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.

9

Khi nói về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh nhấn mạnh
đến vai trò của công nghiệp nặng. Người nói: “Để xây dựng thắng lợi chủ
nghĩa xã hội, chúng ta phải quyết tâm phát triển tốt công nghiệp nặng”. Trong
nhận thức của Hồ Chí Minh, tuy không đồng nhất công nghiệp nặng với công
nghiệp nhưng Người luôn đặt hai khái niệm này cạnh nhau. Chẳng hạn, khi
Người nói: “Muốn đảm bảo đời sống sung sướng mãi mãi, phải công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng công nghiệp nặng”. “Muốn có nhiều
máy, thì phải mở mang các ngành công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép,
than, dầu… Đó là con đường phải đi của chúng ta, con đường công nghiệp
hóa nước nhà”.
Tại Hội nghị ngành công nghiệp nhẹ ngày 16 tháng 1 năm 1965, Hồ
Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của công nghiệp nhẹ: “Mọi chính sách của
Đảng và Chính phủ ta đều nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và không ngừng
nâng cao đời sống của nhân dân. Ngành công nghiệp nhẹ quan hệ rất khăng
khít với đời sống hang ngày của nhân dân. Vì vậy, nhiệm vụ của công nghiệp
nhẹ là rất quan trọng”. Người cũng rất coi trọng ngành tiểu thủ công nghiệp
và công nghiệp địa phương. Tại Hội nghị tổng kết công tác của Bộ Công
nghiệp ngày 22 tháng 1 năm 1960, Người đã nói về cách thức phát triển công
nghiệp địa phương như sau: “Đối với công nghiệp địa phương còn mới, các xí
nghiệp quốc doanh phải chú ý giúp đỡ làm cho công nghiệp địa phương ngày
một phát triển. Nhưng các địa phương không nên ỷ lại vào Trung ương mà
phải chú ý làm cho đúng phương châm: vốn, nguyên liệu, vật liệu, người địa
phương là chính; sản xuất hàng ra chủ yếu bán ở địa phương”.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, bị chiến tranh tàn phá
nặng nề, Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa, lựa chọn cơ cấu kinh tế nào cho hợp lý cho chặng đường đầu là một
vấn đề hết sức nan giải.
Ngay từ đầu, Hồ Chí Minh xác định, đó là cơ cấu công - nông nghiệp
hiện đại và đưa ra quan niệm hết sức độc đáo về cơ cấu kinh tế công - nông
10

nghiệp và vai trò của thương nghiệp trong phát triển kinh tế, xã hội ở thời kỳ
quá độ. Theo Hồ Chí Minh, trong cơ cấu toàn bộ nền kinh tế quốc dân, công
nghiệp và nông nghiệp có vai trò, vị trí riêng. Đây là hai ngành sản xuất ra
những sản phẩm, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của nền kinh tế, của toàn
xã hội.
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
nền kinh tế nước nhà, Hồ Chí Minh rất chú ý đến công nghiệp hóa nông
nghiệp, nông thôn. Người nhiều lần nói đến việc sử dụng máy móc trong sản
xuất nông nghiệp.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đi liền với xây dựng cơ sở
vật chất - kỹ thuật là công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học, kỹ thuật phục
vụ sản xuất. Để tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật,
Người rất coi trọng việc nâng cao trình độ văn hoá cho người lao động, cũng
như rất coi trọng lao động trí óc. Người nói: “Lao động trí óc có quý không?
Quý. Lao động chân tay có quý không? Quý. Người lao động trí óc mà không
liên hệ với lao động chân tay thì chỉ là trí thức một nửa. Còn người lao động
chân tay mà văn hoá kém, không biết lao động trí óc thì cũng là người không
hoàn toàn, cũng chỉ được một nửa”. Người còn căn dặn những cán bộ khoa
học, kỹ thuật: “Phải ra sức đem hiểu biết khoa học, kỹ thuật của mình truyền
bá rộng rãi trong nhân dân lao động, để nhân dân đẩy mạnh sản xuất nhiều,
nhanh, tốt, rẻ”.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đi liền với xây dựng cơ sở
vật chất - kỹ thuật là công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học, kỹ thuật phục
vụ sản xuất. Để tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật,
Người rất coi trọng việc nâng cao trình độ văn hoá cho người lao động, cũng
như rất coi trọng lao động trí óc. Người nói: “Lao động trí óc có quý không?
Quý. Lao động chân tay có quý không? Quý. Người lao động trí óc mà không
liên hệ với lao động chân tay thì chỉ là trí thức một nửa. Còn người lao động
chân tay mà văn hoá kém, không biết lao động trí óc thì cũng là người không
11

hoàn toàn, cũng chỉ được một nửa”. Người còn căn dặn những cán bộ khoa
học, kỹ thuật: “Phải ra sức đem hiểu biết khoa học, kỹ thuật của mình truyền
bá rộng rãi trong nhân dân lao động, để nhân dân đẩy mạnh sản xuất nhiều,
nhanh, tốt, rẻ”.
Theo Hồ Chí Minh, bước đi cụ thể của quá trình công nghiệp hóa ở
nước ta là:
1. “Ta cho nông nghiệp là quan trọng và ưu tiên”;
2. “Rồi đến thủ công nghiệp và công nghiệp nhẹ”,
3. “Sau mới đến công nghiệp nặng”.
Từ những nhận thức đúng đắn đó, Hồ Chí Minh nêu lên một số quan
điểm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Thứ nhất, công nghiệp hóa là sự nghiệp của toàn dân.
Thứ hai, công nghiệp hóa và nông nghiệp luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa công nghiệp và
nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa là sự thể hiện tư duy sáng tạo
của Người. Tiếc rằng, một thời gian dài trước đây, ta chưa nhận thức thấu đáo
nên trong triển khai thực hiện còn gặp nhiều vấp váp.
2.3.Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp và
nông thôn
* Về vai trò của nông nghiệp, nông thôn
- Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu
đảm bảo nhu cầu ăn, mặc, ở cho toàn xã hội
- Nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế
quốc dân khác.
- Nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ hàng hóa của công nghiệp.
* Về các giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
- Phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động trong
nông nghiệp
- Xây dựng quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp, nông thôn
12

Thứ nhất, đa dạng hóa các hình thức sở hữu ruộng đất trong nông nghiệp
Thứ hai, quản lý và phân phối phải được tiến hành dân chủ, công khai,
minh bạch.
- Phát triển một nền nông nghiệp toàn diện
Với tư duy lô gic biện chứng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến xây
dựng một nền nông nghiệp toàn diện. Chỉ phát triển nền nông nghiệp toàn
diện mới khai thác một cách có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, đáp ứng
được nhu cầu ngày càng tăng và càng đa dạng của sản xuất cũng như tiêu
dùng. Ở nông thôn phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, nghĩa là phải
phát triển cả nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Trong nông nghiệp lại
phải phát triển toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ.v.v.
Theo Hồ Chí Minh, nền nông nghiệp toàn diện là một nền nông nghiệp:
- Có ngành trồng trọt phát triển toàn diện. Trong nghành trồng trọt cũng
phải phát triển toàn diện cả cây lương thực, cây hoa màu, cây công nghiệp,
cây ăn quả, cây lấy gỗ v.v. Người nói: “Phải hết sức phát triển hoa màu. Chỉ
có thóc, không có hoa màu thì không được. Hoa màu không những là lương
thực quý của người, mà còn dùng để chăn nuôi. Ngoài lương thực, hoa màu
Người thường xuyên nhắc nhở bà con nông dân ở các tỉnh mỗi khi có dịp về
thăm là phải dựa vào thế mạnh và điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng ở mỗi nơi
mà trồng các lợi cây cho phù hợp như trồng bông, chè, cà phê, lạc, vừng,
trồng dâu nuôi tằm, trồng mía, thuốc lá, cây ăn quả, cây lấy gỗ v.v. Người rất
chú trọng đến phong trào trồng cây gây rừng và phát động tết trồng cây hàng
năm mỗi khi tết đến xuân về. Về lợi ích của việc trồng cây, Bác viết: “Mỗi tết
trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến năm 1965…chúng ta sẽ có 90
triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong mười
năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ
đầy đủ hơn”.
- Có ngành chăn nuôi phát triển toàn diện.

13

Nói về lợi ích của phát triển chăn nuôi, Người chỉ rõ: “Phải phát triển
mạnh chăn nuôi để đảm bảo có thêm thịt ăn, thêm sức kéo, thêm phân bón.”.
“Vì chăn nuôi kém mà phân bón ít, lại vì phân bón ít mà sản lượng lúa và hoa
màu giảm sút”. Trong chăn nuôi, Người cũng thường nhắc nhở phải chú trọng
chăn nuôi trâu, bò, lợn. Bên cạnh đó phải chú ý chăn nuôi dê, thỏ, gà, vịt v.v.
- Có ngành lâm nghiệp phát triển toàn diện
Không chỉ quan tâm đến trồng cây lấy gỗ ở vùng đồng bằng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh còn luôn quan tâm, khuyến khích nhân dân ở các vùng dân tộc
miền núi trồng rừng và bảo vệ rừng. Người nhấn mạnh: “Đồng bào phải chú ý
bảo vệ rừng và trồng cây gây rừng. Tục ngữ có câu “rừng vàng, biển bạc”.
Chúng ta chớ lãng phí vàng mà phải bảo vệ vàng của chúng ta”. Người còn
nhắc nhở: “Phá rừng thì dễ, nhưng gây lại rừng thì phải mất hàng chục năm.
Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất,
đời sống rất nhiều”.
- Có ngành ngư nghiệp phát triển toàn diện
Nước ta có diện tích biển rất lớn, với trên 3.000 km bờ biển, bên cạnh
đó là hệ thống sông ngòi, ao hồ dày đặc rất thuận lợi cho việc nuôi, trồng,
đánh bắt và chế biến thủy hải sản cũng như những tài nguyên khác được khai
thác từ biển. Bởi vậy, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến phát triển kinh tế biển,
nhất là phát triển ngư nghiệp và nghề làm muối. Khi nói chuyện với nhân dân
huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Người nhấn mạnh: “Cần đẩy mạnh nghề
đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng và bảo vệ các thứ hải sản, trân châu
v.v.”. Nói chuyện với nhân dân xã Đại Nghĩa (Hà Đông), Người lại khuyến
khích bà con nuôi thả cá: “Cần đẩy mạnh thả cá để cung cấp thêm thực phẩm
bổ sung cho thịt, cải thiện đời sống nhân dân. Nuôi cá cũng dễ, có nước và có
công thì cá phát triển”.
- Có các ngành nghề phụ phát triển
Đặc điểm của canh tác nông nghiệp là có tính chất thời vụ nên còn
nhiều thời gian rảnh rỗi. Hơn nữa Người Việt Nam vốn cần cù, yêu lao động
14

lại có bàn tay khéo léo nên việc mở mang, phát triển các nghành, nghề phụ
trong nông thôn là cực kỳ cần thiết. Nó vừa góp phần giải quyết công ăn, việc
làm tăng thu nhập cải thiện đời sống nhân dân, vừa tạo ra nhiều hàng hóa tiêu
dùng đáp ứng cho nhu cầu của xã hội và xuất khẩu. Ở nông thôn có rất nhiều
nghề phụ như nghề mộc, rèn, dệt, may, thêu, mây tre đan, đúc đồng, các nghề
làm bánh trái, giò chả.v.v. Vì vậy Hồ Chí Minh thường động viên nhân dân
các địa phương phát triển nghề phụ và kinh tế phụ gia đình. Người nói:
“Miếng vườn của mỗi gia đình xã viên và các loại nghề phụ là nguồn lợi để
tăng thu nhập” và Người nhắc nhở: “Phát triển thích đáng kinh tế phụ gia đình
của xã viên”.
- Có quy hoạch, kế hoạch phát triển
Theo Người, nền nông nghiệp phát triển toàn diện không thể là nền
nông nghiệp phát triển một cách tự phát, nhỏ lẻ, manh mún mà phải là nền
nông nghiệp phát triển theo quy hoạch, kế hoạch được xây dựng trên cơ sở
khoa học. Đó là nền nông nghiệp phải được chuyên môn hóa, hợp tác hóa
trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất. Người viết: “Trong kế hoạch 5
năm còn nói đến việc bắt đầu khoanh vùng nông nghiệp. Như nơi nào sản
xuất lúa nhiều và tốt thì nơi đó sẽ thành vùng sản xuất lúa là chính, nơi nào
sản xuất chè nhiều và tốt thì nơi đó sẽ thành vùng sản xuất chè là
chính,v.v.Làm như vậy thì sẽ sử dụng một cách hợp lý và có lợi nhất của cải
giàu có của đất nước ta và sức lao động dồi dào của nhân dân ta. Làm như vậy
thì sau này dùng máy móc cũng dễ và tiện”.
- Phải xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn
+Trước hết, phải quan tâm đến phát triển thủy lợi đảm bảo việc tưới,
tiêu nước kịp thời.
+ Phải quan tâm đến phát triển điện và giao thông nông thôn
+ Phải quan tâm đến xây dựng nhà ở cho nhân dân
+ Phải quan tâm đến phát triển giáo dục, y tế, nâng cao trình độ dân trí
và sức khỏe cho nhân dân.
15

- Phải tăng cường sự giúp đỡ, hỗ trợ của Nhà nước đối với nông
nghiệp, nông thôn và nông dân.
Thứ nhất, ban hành hệ thống các chính sách hỗ trợ nông nghiệp.
+ Chính sách giá cả: Người nêu ra phương châm định giá: “Giá cả quy
định là phải chăng, vừa lợi cho nhân dân, vừa lợi cho chính phủ”; “Mua, bán
phải theo giá cả thích đáng …Giá cả phải bảo đảm cho Nhà nước, hợp tác xã
và xã viên cùng có lợi để xây dựng nước nhà”. Tuy nhiên do ảnh hưởng của
cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp và hoàn cảnh chiến tranh nên việc
định giá của chúng ta còn nhiều thiếu sót, chưa đúng quy luật, giá cả không
phản ánh đúng giá trị, dẫn tới người nông dân chịu thiệt thòi nhiều trong sản
xuất kinh doanh, kém niềm phấn khởi.
+ Chính sách thuế nông nghiệp
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở việc thực hiện chính sách thuế là
phải nhằm khuyến khích sản xuất, khuyến khích tăng năng suất lao động .
Người nói: “Thuế phải khuyến khích sản xuất. Cho nên Nhà nước chỉ thu thuế
những cây trồng chính. Trồng xen kẽ được miễn thuế. Tăng vụ chưa quá 3
năm, vỡ hoang chưa quá 5 năm, đều chưa phải nộp thuế”. Người còn chủ
trương, sau khi kết thúc chiến tranh phải thực hiện miễn thuế nông nghiệp
một số năm cho nông dân để họ thêm niềm phấn khởi, mát dạ, mát lòng.
+ Một số chính sách giúp đỡ, hỗ trợ khác của Nhà nước như: hỗ trợ về
vốn, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, thị trường v.v.
Chẳng hạn Nhà nước cần phải giúp vốn để xây dựng kết cấu hạ tầng
cho nông nghiệp. Bác nói: “Chính phủ phải xuất tiền xây dựng những trường
học, mời thầy để đào tạo cán bộ các ngành về nông nghiệp. Chính phủ có
trách nhiệm xây dựng những công trình thủy lợi lớn và cùng nông dân, hợp
tác xã làm những công trình thủy lợi vừa. Để phát triển nông nghiệp, hợp tác
xã phải tậu trâu bò, sắm nông cụ, mua phâ hóa học v.v. Hợp tác xã còn nghèo,
thường thường Chính phủ phải giúp đỡ, phải cho vay vốn”. Người còn thường

16

xuyên nhắc nhở các ban nghành của Đảng và Chính phủ từ Trung ương đến
địa phương phải luôn quan tâm, giúp đỡ nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
2.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sở hữu tư liệu sản xuất và thành
phần kinh tế ở Việt Nam
quan niệm của Hồ Chí Minh về vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất được thể
hiện ở những vấn đề sau:
Trước hết, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Từ cộng sản nguyên thuỷ đến chế độ
nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng
sản) - nói chung loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy”. Sự
phát triển tất yếu đó là do trong quá trình sản xuất vật chất con người đã làm
cho lực lượng sản xuất biến đổi không ngừng và do đó quan hệ sản xuất cũng
không ngừng biến đổi để phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất. Người viết: “Lịch sử loài người là do người lao động sáng tạo ra. Người
lao động sáng tạo ra của cải, luôn nâng cao sức sản xuất. Sản xuất phát triển
tức là xã hội phát triển. Chế độ nào hợp với sức sản xuất thì đứng vững. Nếu
không hợp thì giai cấp đại biểu của sức sản xuất mới sẽ nổi lên cách mạng lật
đổ chế độ cũ”.
Thứ hai, sở hữu là một mặt của quan hệ sản xuất. Nó phản ánh mối
quan hệ giữa các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội đối với vấn đề chiếm hữu
những tư liệu sản xuất . Khi xuất hiện chế độ tư hữu thì xã hội cũng phân
thành giai cấp. Trong tác phẩm “Thường thức chính trị”, Hồ Chí Minh viết:
“Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm
ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn và phát
triển. Song những người lao động thì suốt đời nghèo khó, mà có một số người
không lao động thì lại “ngồi mát ăn bát vàng”.Vì đâu có nỗi chẳng công bằng
này? Vì một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã
hội. Tư liệu sản xuất tức là ruộng đất, hầm mỏ, công cụ và nguyên liệu. Họ
có tư liệu sản xuất nhưng họ không làm lụng, họ bắt buộc người khác làm
lụng cho họ hưởng. Do đó mà có giai cấp”.
17