Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1. NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG 1. NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Tải bản đầy đủ

Lênin con đường giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân các nước
thuộc địa. Người nói: 'Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản'. Để chuẩn bị cho việc thành
lập Đảng của những người cộng sản Việt Nam, năm 1925, Người thành lập
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức
Cộng sản Đoàn làm nòng cốt, đào tạo cán bộ cộng sản để lãnh đạo Hội và
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Năm 1929, nhiều tổ chức
cộng sản đã ra đời ở Việt Nam: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng
sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ
trì Hội nghị thống nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Ngày 3/2/1930 Đảng
Cộng sản Việt Nam được thành lập.
Từ năm 1930 - 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động cho
sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức khác
trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ.
Năm 1941, Người về nước triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, xác định đường lối đấu tranh
giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Việt Nam độc lập đồng minh Hội (Việt
Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách
mạng, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và tổng khởi nghĩa giành
chính quyền trong cả nước.
Cách mạng Tháng Tám năm l945 thắng lợi. Ngày 2/9/1945 tại Quảng
trường Ba Đình, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu
Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội
khoá I (1946) đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta đã đập tan âm mưu đen tối của các thế lực thù địch, phản động,
bảo vệ và giữ vững chính quyền cách mạng.

4

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch
Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ
Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp
xâm lược đã giành thắng lợi vẻ vang, kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ chấn động địa cầuuuu (1954).
Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch tiếp
tục lãnh đạo nhân dân ta thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược của
cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ
quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí
Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Quốc hội khóa II, khóa III bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa.
Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đề ra đường lối đúng đắn lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt
Nam chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ lãnh đạo sự nghiệp cải tạo
xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác đặt nền móng và không ngừng vun đắp tình hữu nghị giữa
dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên thế giới, giữa Đảng Cộng sản Việt Nam
với các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần ngày 2/9/1969, hưởng thọ 79 tuổi.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng vĩ đại.
Dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990), tổ chức Giáo
dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp quốc (UNESCO) đã phong tặng Chủ tịch
Hồ Chí Minh danh hiệu: Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất.

5

CHƯƠNG 2. NHỮNG KIẾN THỨC MỚI SAU KHI HỌC MÔN HỌC
2.1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhằm nâng cao đời sống
nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại và là nhà lý luận thiên tài
của cách mạng Việt Nam. Trong suốt hơn 30 năm bôn ba khắp năm châu tìm
đường cứu nước và 24 năm trực tiếp lãnh đạo cách mạng trong nước, Người
đã giành hết sức lực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát triển kinh tế.
Theo Người, phát triển kinh tế là nội dung quan trọng nhất, Người cho rằng:
đất nước được độc lập mà dân còn đói rách thì độc lập không có nghĩa gì. Vì
vậy, những tư tưởng kinh tế của Người đều chứa đựng những nội dung thiết
thực và gắn với lịch sử đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và vì
cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta. Trong suốt cả quá trình lãnh đạo
cách mạng Việt Nam, bên cạnh việc quan tâm đến sự nghiệp giải phóng dân
tộc, Người luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp phát triển sản xuất để nâng cao
đời sống cho nhân dân.
Tư tưởng phát triển kinh tế ở Hồ Chí Minh bao giờ cũng cũng mang
tính giai cấp, nghĩa là phải theo lập trường giai cấp công nhân, phục vụ cho
lợi ích giai cấp công nhân. Vì lợi ích giai cấp công nhân là phù hợp với lợi ích
toàn dân tộc và lợi ích của toàn thể nhân dân lao động, cho nên nó phải phục
vụ cho lợi ích của nhân dân lao động.
Hồ Chí Minh nhiều lần nói rằng mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội
là để không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Với chủ tịch Hồ Chí
Minh, mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của phát triển kinh tế là nâng
cao đời sống của nhân dân mà trước hết là nhân dân lao động; làm cho đời
sống của nhân dân ngày càng đầy đủ và sung sướng. Người chỉ rõ: “Mục
đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là
nhân dân lao động” .
6

+ Đời sống vật chất, theo Hồ Chí Minh là đảm bảo cho mọi người dân
được ăn no, mặc ấm, có nhà ở, có thuốc chữa bệnh khi ốm đau. Người đã nói:
“Dân sinh là cái gì? Là cái ăn, cái mặc, cái ở. Ba cái đó đều quan trọng” .
+ Đời sống tinh thần: Theo Hồ Chí Minh, trước hết là đảm bảo việc
học hành cho mọi người. Người nói: “Chúng ta phải ra sức đấu tranh làm cho
nhân dân ta ai cũng ăn no, mặc ấm, có việc làm, có giờ nghỉ, được học tập” .
Đời sống tinh thần còn bao hàm nội dung tự do tín ngưỡng, mọi người trong
xã hội có cuộc sống tinh thần phong phú, mọi tập tục hủ lậu của xã hội cũ bị
xóa bỏ.
Về con đường phát triển kinh tế của nước ta sau khi giành được độc
lập, Hồ chí Minh đã khẳng định, đó là con đường cải tạo và xây dựng nền
kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội: “Biến nền kinh tế lạc hậu thành một
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa
học và kỹ thuật tiên tiến” . Người cho rằng, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội
thì trước tiên phải cải tạo nền kinh tế cũ, làm cho nó phục vụ đắc lực cho quốc
kế dân sinh. Người chỉ rõ việc cải tạo nền kinh tế cũ theo hướng xã hội chủ
nghĩa không thể làm một bước mà xong ngay được, phải làm từng bước với
từng hình thức thích hợp. Trước hết là phải khôi phục nông nghiệp để tạo tiền
đề kinh tế đưa nông dân đi dần vào con đường xã hội chủ nghĩa, thông qua
việc vận động nông dân vào làm ăn hợp tác. Người viết: “Nông dân muốn
giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã” . Tuy vậy, phải đi
dần từng bước, Người nói: “Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà
phải làm dần dần. Ở nông thôn phải có tổ đổi công để tăng gia sản xuất rồi
tiến lên hợp tác xã” .
Như vậy, về bản chất, nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phải được tạo lập
trên nền tảng chế độ công hữu, song ở thời kỳ quá độ nó vẫn tồn tại 4 hình
thức sở hữu chính: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu người lao động
riêng lẻ và sở hữu của nhà tư bản, không thể nôn nóng xóa bỏ ngay một lúc
được. Tư tưởng đó là cơ sở để xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, khai
7