Tải bản đầy đủ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA VẬT CHẤT
1.1.

Một số quan niệm về vận động
Có thể khẳng định rằng, trong lịch sử triết học trước Mác, ở phương
Đông cũng như phương Tây, vấn đề về sự vận động của vật chất được xem
là trung tâm và được thảo luận hết sức rộng rãi. Các nhà triết học duy tâm
xem xét sự vận động của vật chất là phụ thuộc vào lực lượng siêu nhiên - cái
đầu tiên sinh ra thế giới vật chất. Trái lại các nhà triết học duy vật lại cho
rằng, thế giới vật chất tồn tại tự nó:tự vận động biến đổi, tự phát triển; nó là
nguyên nhân của chính nó và là nguyên nhân của mọi cái khác.
Chỉ đến triết học hiện đại, khái niệm vận động được giải thích theo
nghĩa hoàn chỉnh nhất, theo nghĩa rộng như là quan niệm về bất kỳ sự vận
động nói chung nào. Ăngghen viết rằng: “Vận động hiểu theo nghĩa chung
nhất bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong Thiên hà,
kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” [7;519]. Khi định nghĩa vận
động là sự biến đổi nói chung, thì vận động là “thuộc tính cố hữu của vật
chất”, “là phương thức tồn tại của vật chất” [7;89]. Điều này có nghĩa là vật
chất tồn tại bằng vận động. Trong vận động và thông qua vận động mà các
dạng vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình. Hiểu theo một nghĩa khác là
5

những biến đổi tồn tại một cách khách quan, nằm ngoài những lập luận của
chúng ta về những biến đổi đó.
Dựa trên những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ăngghen đã
chia vận động thành 5 hình thức cơ bản. Đó là: vận động cơ học, vận động
vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội.
Chính bằng sự phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ăngghen đã
đặt cơ sở cho sự phân loại các khoa học tương ứng với đối tượng nghiên cứu
của chúng và chỉ ra cơ sở của khuynh hướng phân ngành và hợp ngành của
các khoa học. Ngoài ra, tư tưởng về sự khác nhau về chất và thống nhất của
các hình thức vận động cơ bản còn là cơ sở để chống lại khuynh hướng sai
lầm trong nhận thức là quy hình thức vận động cao thành hình thức vận
động thấp và ngược lại.
Khi triết học Mác - Lênin khẳng định thế giới vật chất tồn tại trong sự
vận động vĩnh cửu của nó, thì điều đó không có nghĩa là phủ nhận hiện
tượng đứng im của thế giới vật chất. Trái lại triết học Mác - Lênin thừa nhận
rằng, quá trình vận động không ngừng của thế giới vật chất chẳng những
không ngoại trừ mà còn bao hàm trong nó hiện tượng đứng im. Đứng im,
theo quan điểm triết học Mác - Lênin, là một trạng thái đặc biệt của vận
động - trạng thái bất động của vật chất, nghĩa là những tính chất của vật chất
chưa có sự biến đổi về cơ bản. Đứng im chỉ là hiện tượng tương đối và tạm
thời.
1.2
1.2.1

Về tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” của Ph.Ăngghen
Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm
Hoàn cảnh ra đời: Cùng với tác phẩm “Chống Đuyrinh” (1878), tác
phẩm “Biện chứng của tự nhiên” ra đời khoảng từ năm 1873 - 1886, sau sự
thất bại của công xã Pari. Sau sự kiện này, tình hình thế giới có nhiều chuyển
biến cả về phương diện kinh tế, xã hội và khoa học. Nền công nghiệp tư bản
6

chủ nghĩa đã dẫn đến quá trình tập trung và tích tụ tư bản. Sự bộc lộ mâu
thuẫn vốn có bên trong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đặt ra
một yêu cầu cấp thiết là giải quyết mâu thuẫn. Biểu hiện về mặt xã hội là
cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân.
Hơn ai hết, Mác và Ăngghen là những người rất quan tâm đến từng
bước đi của phong trào đấu tranh giai cấp vô sản. Hai ông xác định nguyên
nhân có tính quyết định của sự thất bại này là thiếu một Đảng lãnh đạo Đảng công nhân, đồng nghĩa với việc thiếu một đường lối đúng đắn, một sự
lãnh đạo thống nhất. Năm 1873, Ăngghen bắt tay vào việc biên soạn cuốn
sách này. Tác phẩm đã khái quát theo quan điểm lịch sử cụ thể, trình bày
một cách đầy đủ, chứng minh một cách sâu sắc những thành tựu quan trọng
nhất của khoa học tự nhiên từ giữa thế kỉ XIX và phê phán những quan điểm
duy tâm và siêu hình trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Trong những năm
1875 - 1876, Ăngghen viết một cách có hệ thống cuốn sách này.
Mục đích: Ăngghen đã đưa ra luận điểm chủ yếu của cuốn “Biện
chứng của tự nhiên” đó là: Tư tưởng về mối tương quan giữa triết học và
khoa học tự nhiên, phân loại những hình thức vận động chủ yếu của vật chất
và tương ứng với nó là sự phân loại khoa học, phát hiện ra tác động của các
quy luật biện chứng và các phạm trù trong tự nhiên, chứng minh sự cần thiết
phải chứng minh lý luận về sự vận động của vật chất và phải có phương
pháp biện chứng duy vật cho khoa học tự nhiên. Những tư tưởng đầu tiên
đưa ra trong tác phẩm này đã chứng tỏ được vai trò to lớn của lý luận về sự
vận động và phương pháp biện chứng duy vật. Nhằm đối lặp lại quan điểm
duy tâm, bất khả tri I.Cantơ mới (Đức) và Hium (Anh) cũng đồng thời chống
lại những phần tử thuộc phái cơ hội chủ nghĩa. Trên cơ sở phê phán những
quan điểm sai lầm, Ph.Ăngghen đã khẳng định hơn nữa vai trò của lý luận
về sự vận động.
7

1.2.2 Vị trí vấn đề vận động của vật chất trong tác phẩm
Trong tác phẩm Ăngghen đã lần lượt đề cập đến những vấn đề như:
phạm trù vật chất và các hình thức vận động của nó, phép biện chứng duy
vật, mối tương quan thống nhất giữa triết học và khoa học tự nhiên, các quy
luật và phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật, cuối cùng là đề cập
đến những vấn đề triết học lịch sử như: phạm trù thực tiễn, vai trò của lao
động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người, đến sự hình thành ý
thức, tư duy và ngôn ngữ của con người.
Phải nói rằng, mặc dù về cơ bản chưa hoàn thành, nhưng xuyên suốt
cả tác phẩm là những nội dung bao quát về sự vận động của vật chất trong tự
nhiên, khẳng định rằng đây cũng là nội dung cốt lõi nhất vấn đề vận động
của vật chất trong triết học Mác - Lênin - một cống hiến tuyệt vời của
Ăngghen đối với khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội. Căn cứ vào
đó ông đã nghiên cứu những nguyên tắc phân loại các khoa học tự nhiên.
Trên cơ sở nghiên cứu về các hình thức vận động của thế giới vật
chất, coi đó là nội dung để phân định các khoa học tự nhiên, Ăngghen đặt ra
nhiệm vụ cho khoa học tự nhiên là vẽ lên một bức tranh về thế giới tự nhiên
với sự liên hệ qua lại giữa các bộ phận của nó, xoá bỏ đi những sự chia cắt
vẫn tồn tại giữa các ngành của khoa học tự nhiên. Từ đó, Ăngghen cũng đưa
ra những dự báo ở ranh giới giữa các ngành khoa học như vật lý học và hoá
học, hoá học và sinh vật học sẽ có những phát kiến to lớn. Việc xuất hiện
những khoa sinh - hoá học - sinh - lý học v.v… đã chứng minh tính chính
xác của dự báo thiên tài của Ăngghen. Ngày nay, sự phát triển của khoa học
tự nhiên đòi hỏi các ngành khoa học phải liên kết với nhau và đã xuất hiện
nhiều khoa học liên ngành.
Tóm lại, tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” được Ăngghen viết từ
năm 1873 - 1886. Tuy tác phẩm chưa hoàn thành, song nó vẫn có tính hệ
8

thống và thể hiện đầy đủ nội dung mang màu sắc triết học Mác. Tác phẩm ra
đời xuất phát từ cuộc đấu tranh chống trào lưu triết học đối lập và chứng
minh chỉ có lý luận về sự vận động của vật chất là phù hợp với quá trình
hình thành, biến đổi và phát triển của khoa học tự nhiên hiện đại. Đồng thời,
tác phẩm cũng dựa trên thành tựu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, để có
những khái quát mới về mặt triết học, bổ sung và phát triển lý luận về sự vận
động của vật chất, đồng thời vạch ra phương hướng cho khoa học tự nhiên
tiếp tục phát triển. Có thể khẳng định “Biện chứng của tự nhiên” là bức tranh
khái quát đến độ hoàn chỉnh các nguyên lý triết học Mác - đây là tư tưởng
thiên tài của Ăngghen.

CHƯƠNG 2
NỘI DUNG CĂN BẢN VỀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA VẬT CHẤT TRONG
TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA PH.ĂNGGHEN
2.1.

Vận động là tự thân, là thuộc tính cố hữu của vật chất
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, vận động tồn tại cùng với sự tồn tại của vật chất và chỉ khi

nào vật chất mất đi thì vận động mới mất đi. Nếu vật chất là một cái gì đã có
sẵn đối với chúng ta, là một cái gì không thể sáng tạo, cũng không thể tiêu
diệt được, thì do đó có thể kết luận rằng bản thân sự vận động cũng không
thể sáng tạo hoặc tiêu diệt được. Như vậy, vật chất luôn luôn vận động: vật
chất chỉ có thể tồn tại bằng vận động, thông qua vận động mà các dạng vật
chất biểu hiện, bộc lộ sự tồn tại của mình, chỉ rõ mình là cái gì. Nhận thức
9

được sự vật là nhận thức trong quá trình vận động chứ không phải là trạng
thái tĩnh.
Vận động là một thuộc tính của vật chất, đó là đặc tính mà thiếu nó
khách thể không tồn tại được. Không thể nghĩ về tư duy thiếu sự vận động,
song cũng không thể nghĩ đến vận động mà thiếu vật chất, bởi vì thừa nhận
sự vận động phi vật chất sẽ dẫn đến chỗ thần bí. Sự vận động của vật chất là
nguồn gốc duy nhất của tính đa dạng vô cùng của các sự vật và quá trình.
Thứ hai, vật chất không mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng
khác, do đó vận động cũng không mất đi. Ăngghen nêu các hình thức vận
động từ dạng này sang dạng khác, từ vận động cơ học sang vận động sinh
học. Theo dõi và trình bày sự phát triển đó từng bước là mục đích của tác
phẩm “Biện chứng của tự nhiên”. Ở phần cuối cùng của bài tiểu luận “Quan
niệm cơ giới về giới tự nhiên” Ăngghen đã trình bày quá trình của hình thức
vận động từ thấp đến cao. Hình thức vận động cơ học sinh ra hình thức vận
động vật lý học, hình thức vận động vật lý học lại tạo ra hình thức vận động
hoá học và theo trật tự thì hình thức vận động hoá học, sẽ tạo ra hình thức
vận động sinh vật học.
Thứ ba, vật chất là tự thân vận động. Nguồn gốc của vận động là quá
trình giải quyết mâu thuẫn vận động. Giải thích rằng: vật chất có kết cấu, các
thành phần liên kết với nhau, ràng buộc với nhau, tạo thành quá trình vận
động. Tuy nhiên do có các yếu tố cấu thành bên trong sự vật, mà có những
hiện tượng thúc đẩy, phát triển cùng nhau, đồng thời cũng có những mặt đối
lập.
Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ăngghen luôn chứng minh
được mọi hình thức vận động của vật chất đều liên quan đến nhau và
Ăngghen xem bản thân vận động là một mâu thuẫn và sự chuyển biến từ một
hình thức vận động này sang một hình thức vận động khác bao giờ cũng là
10

một bước nhảy vọt. Ăngghen còn khẳng định tính chất của vận động là
không thể hiểu được, chính bản thân nó thừa nhận một cách miễn cưỡng sự
tồn tại của mâu thuẫn đó; tức là thừa nhận rằng trong bản thân các sự vật và
các quá trình, có một mâu thuẫn giữa các lực lượng có thực. Nếu bản thân sự
di động một cách máy móc đơn giản chứa đựng mâu thuẫn, thì tất nhiên
những hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt là sự sống hữu cơ
và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó phải chứa đựng mâu thuẫn như vậy.
Thứ tư, vận động là vận động của vật chất và vận động là tuyệt đối.
Như vậy là ý thức không phải là không vận động, mà ý thức chỉ là một sản
phẩm của thế giới vật chất, sự vận động của ý thức phụ thuộc vào sự vận
động của thế giới vật chất.
Tính chất không thể tiêu diệt được của vận động đã được Ăngghen
trình bày rõ ràng trong tác phẩm qua mệnh đề của Descartes, theo mệnh đề
này thì trong vũ trụ, số lượng vận động vẫn tồn tại không thay đổi. vật chất
gắn liền với vận động. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và tuyệt đối thì vận động
cũng là vĩnh viễn và tuyệt đối, không thể bị sáng tạo ra và cũng không thể bị
tiêu diệt. Chỉ có thông qua sự vận động, người ta mới biết được các trạng
thái của vật chất; thuộc tính của vật thể chỉ có thể xuất hiện ra trong vận
động. Một khi đã biết được những trạng thái vận động của vật chất thì chúng
ta biết được bản thân vật chất. Và do đó, nhận thức của chúng ta được hoàn
thiện.
2.2.

Vận động là cơ sở để phân loại khoa học
Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ăngghen vận dụng phép

biện chứng để giải thích những vấn đề cụ thể của khoa học tự nhiên và một
số bộ môn của khoa học tự nhiên. Trong những năm 70 của thế kỉ XIX,
Ăngghen dựa vào các hình thức vận động của vật chất phân ra làm bốn loại
khoa học: cơ học, vật lý học, hoá học và sinh vật học.
11

Ăngghen coi từng ngành khoa học là sự phản ánh từng hình thức vận
động, do đó mối liên hệ và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các ngành khoa học
là phản ánh mối liên hệ và sự chuyển hóa của các hình thức vận động của
vật chất. Quan điểm của Ăngghen về phân loại các khoa học tự nhiên đã
trở thành những nguyên tắc phân loại các khoa học tự nhiên đương thời
và có ý nghĩa đối với cả khoa học tự nhiên hiện đại.
Trên cơ sở nghiên cứu về các hình thức vận động của thế giới vật
chất, coi đó là nội dung để phân định các khoa học tự nhiên, Ăngghen đặt ra
nhiệm vụ cho khoa học tự nhiên là vẽ lên một bức tranh về thế giới tự nhiên
với sự liên hệ qua lại giữa các bộ phận của nó, xoá bỏ đi những sự chia cắt
vẫn tồn tại giữa các ngành của khoa học tự nhiên.
Trong toán học, Ăngghen chỉ ra: “Toán học là khoa học về các đại
lượng” [7;755]. Ăngghen cũng nêu ra những định đề trong toán học “chưa
được chứng minh và dĩ nhiên là cũng không thể chứng minh được về mặt
toán học” [7;755].
Trong cơ học: Ăngghen chú ý nhiều đến sự vận hành của các thiên
thể. Lúc đó xuất hiện giả thuyết về thiên văn học của Cantơ và La Plaxơ, coi
các thiên thể có một quá trình lịch sử.
Trong vật lý học: Ăngghen bàn về “thuyết bảo toàn và chuyển hoá
năng lượng”, đây chính là thực chất của sự chuyển hoá giữa các hình thức
vận động.
Trong hoá học: Ăngghen quan tâm đến thuyết nguyên tử, kết cấu
nguyên từ của vật chất và tính phân chia của vật chất ở đây, Ăngghen đã có
dự báo về tính chất phức tạp của nguyên tố. Ngày nay, khoa học tự nhiên đã
chứng thực tư tưởng đó của Ăngghen, người ta đã tìm thấy gần 400 hạt cơ
bản cấu tạo thành nguyên tử và khác nhau về chất.

12

Trong sinh vật học, Ăngghen bàn đến ba vấn đề: nguồn gốc sự sống,
thuyết tế bào và học thuyết Đácuyn. Ăngghen đặc biệt chú ý những kết luận
triết học rút ra từ học thuyết của Đácuyn, kết hợp với tất cả các phát hiện
khoa học tự nhiên, Ăngghen nhận định học thuyết của Đácuyn trên quan
điểm duy vật biện chứng. Ông đánh giá rất cao học thuyết này ở chỗ, nó
vạch rõ sự liên hệ phổ biến và sự phát triển trong giới tự nhiên hữu sinh.
Đồng thời, Ăngghen cũng kịch liệt phê phán những nhược điểm của thuyết
Đácuyn mà các học giả tư sản ra sức lợi dụng để chống lại quan điểm duy
vật biện chứng về tự nhiên.
Như vậy, tư tưởng chủ đạo xuyên qua toàn bộ sự phân loại các hình
thức vận động của Ăngghen là tư tưởng phát triển. Một khi vật chất chuyển
từ hình thức đơn giản đến hình thức phức tạp thì các hình thức vận động của
nó cũng chuyển từ hình thức tấp lên hình thức cao hơn. Sự chuyển hóa này
là một bước nhảy vọt, một bước ngoặt quyết định, điều này thể hiện rõ trong
bước chuyển tự nhiên từ vật chất vô sinh sang sự sống trên trái đất. Hình
thức vận động chủ yếu được Ăngghen dành nhiều thời gian để phân tích là
hình thức vận động sinh học: con đường hình thành sự sống và sự tiến hóa
của nó; sự hình thành con người và việc bước bào lịch sử của con người;
mối quan hệ giữa con người, xã hội và thiên nhiên.
2.3.

Ý nghĩa của quan điểm của Ph.Ăngghen về sự vận động của vật

chất
Khi viết tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ăngghen có ý định tổng
kết, khái quát về mặt triết học trên lập trường biện chứng duy vật, toàn bộ
lịch sử cùng những thành tựu mới nhất là những vấn đề lý luận của khoa học
tự nhiên thời ông, từ đó phê phán các trào lưu triết học duy tâm, siêu hình
đang thống trị trong khoa học tự nhiên và qua đó chống lại việc các nhà triết
học tư sản đang lợi dụng khoa học tự nhiên để tấn công vào chủ nghĩa Mác.
13

Tác phẩm thực sự thành công khi Ăngghen chứng minh được rằng giới tự
nhiên vận động và phát triển một cách biện chứng; rằng, các quy luật biện
chứng là những quy luật thật sự của giới tự nhiên. Thông qua tác phẩm,
Ăngghen đã giải thích rõ vì sao ông không đề cập ngay cả mối liên hệ lẫn
nhau của các quy luật cơ bản của phép biện chứng. Ăngghen viết: “Ở đây,
chúng tôi không có ý định viết một cuốn sách phổ thông về phép biện
chứng, mà chúng tôi chỉ muốn chứng minh rằng những quy luật biện chứng
là những quy luật thật sự của sự phát triển của giới tự nhiên, tức là quy luật
đó cũng có giá trị đối với khoa học tự nhiên lý thuyết. Vì thế cho nên chúng
tôi không thể xem xét một cách chi tiết mối quan hệ bên trong giữa những
quy luật ấy với nhau” [7;511].
Tác phẩm đã khẳng định sự ảnh hưởng của những quan điểm về vận
động đến sự phân loại các ngành khoa học, đến sự phát triển của khoa học tự
nhiên và đến quá trình đấu tranh thay đổi của cái hiện tồn. Hơn nữa, quan
điểm về sự vận động của vật chất là cơ sở cho sự biến đổi của sự vật, hiện
tượng. Giới tự nhiên phải vận động thì mới xóa bỏ được cái cũ và chỉ với
vận động những sự vật, hiện tượng ấy mới phát sinh, biến đổi, tồn tại được
lâu dài. Trong lời tựa ở tập 1 “Bộ Tư Bản”, Mác nhấn mạnh về sự vận động
của vũ trụ khi bàn tới phép biện chứng rằng sự vận động là nội dung không
thể tách rời của phép biện chứng: “phép biện chứng không khuất phục trước
một cái gì, thực chất nó có tính phê phán cách mạng. Nghiên cứu sự vận
động là nghiên cứu nội dung căn bản của phép biện chứng. Nó phản ánh sự
thừa nhận cái hiện tồn, phản ánh cái hiện tồn đang thay đổi, khẳng định cái
hiện tồn đồng thời phủ định cái hiện tồn”.
KẾT LUẬN

14

“Biện chứng của tự nhiên” tác phẩm chưa hoàn thành của Ph.Ănghen
lần đầu tiên được xuất bản bằng tiếng Nga và tiếng Đức tại Liên Xô năm
1925, gồm những bài bút kí viết từ 1873 đến 1886, chủ yếu là từ 1873 đến
1882. Tư tưởng trung tâm của tác phẩm là tư tưởng về các hình thái vận
động của vật chất. Chính dựa trên tư tưởng này, Ănghen dự định xây dựng
một tác phẩm - về con đường phát triển biện chứng khách quan của tự nhiên
tiến đến sự phát triển kinh tế của xã hội loài người - tiếp nối bộ “Tư bản”
của Mác để cùng với “Tư bản” tạo nên một công trình hoàn chỉnh về học
thuyết macxit.
Trong tác phẩm, Ăngghen đã nghiên cứu sự vận động của vật chất qua
việc phân tích biện chứng trong giới tự nhiên. Bên cạnh đó, Ăngghen còn
đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng để phê phán các quan
điểm tư sản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên nhằm bảo vệ phát triển chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
Xuất phát từ quan điểm vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất,
Ăngghen đã chỉ ra cơ sở của sự phân loại khoa học, rằng sự khác nhau giữa
các khoa học thực chất là sự khác nhau về các hình thái vận động của vật
chất. Như vậy Ăngghen đã dựa vào sự tương tác giữa các hính thái vận động
để lý giải sự phụ thuộc lẫn nhau của các khoa học, và cũng là nguyên tắc
chung để phân loại chúng.
Tác phẩm cũng mang một ý nghĩa hết sức to lớn đối với nhiệm vụ bảo
vệ và phát triển triết học Mác trước đây, định hướng cho quá trình phát triển
của đất nước ta hiện nay - đặc biệt là trong thời đại cách mạng khoa học
công nghệ hiện đại. Không quán triệt quan điểm vận động là thuộc tính cố
hữu của vật chất, vận động là tự thân thì không những không tin tưởng vào
sự vận động đi lên trong quá trình xoá đói giảm nghèo, từng bước công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước được. Mỗi ngày có hàng loạt những
15