Tải bản đầy đủ
2 Truyền thống gia đình

2 Truyền thống gia đình

Tải bản đầy đủ

Nguyễn Sinh Sắc (1862 – 1929). Ông là con của ông Nguyễn Sinh Nhậm và bà Hà
Thị Hy, lớn lên trong một môi trường Nho học dưới sự nuôi dạy của nhà Nho và cha
vợ của mình là cụ Hoàng Xuân Đường, ông đỗ cử nhân năm 1894 và Phó bảng
năm 1901. Năm 1906, ông được triều đình bổ nhiệm chức Thừa biện bộ Lễ; năm
1909, ông nhậm chức Tri huyện Bình Khê tỉnh Bình Định. Làm quan được ít lâu thì
bị triều đình thải hồi vì một "tên cường hào" bị ông bắt giam rồi chết sau khi thả ra
hai tháng. Cụ quyết định chu du vùng đất Nam kỳ để truyền bá tư tưởng yêu nước,
chống ngoại xâm. Sau đó ông đi vào miền Nam và sống một cuộc đời thanh bạch tại
Đồng Tháp Mười cho đến cuối đời.

Bà Hoàng Thị Loan (1868-1901) là con gái của cụ Hoàng Xuân Đường. Bà là một
hình mẫu cho hình ảnh người Việt Nam hiền hậu và hết lòng vì chồng con. Bà đã
gởi con gái đầu lòng của mình lại Nghệ An và cùng chồng vào Huế. Ở đây bà đã
lao động dệt vải vất vả một tay nuôi sống cả gia đình. Năm 1900 sau khi sinh
người con thứ tư là Nguyễn Sinh Xin, cộng với sự vất vả khó nhọc trước đó bà
Hoàng Thị Loan sinh bệnh rồi qua đời vào ngày 10 tháng 2 năm 1901. Năm 1922,
hài cốt của bà được cô Nguyễn Thị Thanh đưa về an táng tại vườn nhà mình ở
Làng Sen, Kim Liên. Năm 1942, cải táng tại núi núi Động Tranh thấp, thuộc dãy núi
Đại Huệ. 1985, nhân dân và chính quyền địa phương xây dựng tại đây một khu
lăng mộ dành cho bà.

Bà Nguyễn Thị Thanh (1884 - 1954) là người chị cả, bà hoạt động tích cực chống
Pháp dưới ngọn cờ yêu nước của chí sĩ Phan Bội Châu. Năm 1918 bà Nguyễn Thị
Thanh phối hợp với Nguyễn Kiên tổ chức lấy trộm súng trong doanh trại lính khố
xanh đóng tại thành phố Vinh. Bị phát giác nên Nguyễn Thị Thanh bị bắt và nhốt
vào nhà tù tra tấn dã man. Vào năm 1918, thực dân Pháp chỉ thị cho quan lại địa
phương mở phiên tòa số 80 xử phạt bà Nguyễn Thị Thanh 100 trượng và 9 năm
khổ sai. Ngày 2 tháng 12 năm 1918, Nguyễn Thị Thanh bị đày vào giam tại nhà lao
Quảng Ngãi.

Nghe tin Anh Cả mất, lòng tôi buồn rầu. Vì
việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc
Anh đau yếu tôi không thể chăm nom, lúc
Anh tạ thế, tôi không thể lo liệu. Than ôi! Tôi
chịu tội bất đễ (không trọn tình anh em) trước
linh hồn Anh và xin bà con nguyên lượng (tha
thứ) cho một người con đã hy sinh tình nhà
vì phải lo việc nước

Nguyễn Sinh Khiêm (1888–1950) là con thứ hai của trong gia đình cụ Phó Bảng,
sau chị cả Nguyễn Thị Thanh và là anh trai của Nguyễn Sinh Cung và Nguyễn
Sinh Xin.
Ông còn được gọi là Cả Khiêm, tên tự là Tất Đạt. Thời thanh niên, ông tham gia
các hoạt động yêu nước chống thực dân và phong kiến nên từng bị tù đày nhiều
năm.

“Núi cõng con đường mòn
Cha thì cõng theo con
Núi nằm ì một chỗ
Cha đi cúi lom khom
Đường bám lì lưng núi
Con tập chạy lon ton
Cha siêng hơn hòn núi
Con đường lười hơn con”

“Biển là ao lớn
Thuyền là con bò
Bò ăn gió no
Lội trên mặt nước
Em nhìn thấy trước
Anh trông thấy sau
Ta lớn mau mau
Vượt qua ao lớn”

“Kìa ba ông lão bé con con”
“Biết có tình gì với nước non”
“Trương mắt làm chi ngồi mãi đó
Hỏi xem non nước mất hay còn ?”