Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

Thành phố Hà Nội được chọn làm địa điểm nghiên cứu vì là địa bàn
có nhiều người TMCT nhiễm HIV cao thứ hai cả nước (chỉ sau Thành phố Hồ
Chí Minh) [31].
- Thời gian nghiên cứu
Thời gian thu thập số liệu từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2016; thời
gian xử lý phân tích và viết luận văn từ tháng 1/2017 đến tháng 5/2017.
2.2. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng, thiết kế mô tả cắt ngang
2.3. Cỡ mẫu và đối tượng tham gia nghiên cứu
- Cỡ mẫu
Nghiên cứu sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ trong
quần thể, cụ thể như sau:

n = Z2(1-α/2) . = 1,962. = 129
o n là cỡ mẫu cho nghiên cứu
o p = 0,479 là tỷ lệ có biểu hiện dấu hiệu vấn đề sức khỏe tâm thần ở
thành viên gia đình người TCMT nhiễm HIV ở một nghiên cứu
năm 2013 tại Trung Quốc [12].
o ε là sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể (chọn
0,18)
o Z(1-α/2) là giá trị tra được ở bảng Z, với α= 0,05 thì Z(1-α/2)=1,96
Vậy cỡ mẫu tối thiểu là 129 người, cộng thêm 10% đề phòng từ chối
tham gia nghiên cứu, vậy cỡ mẫu cần thiết là 142 người. Thực tế, nghiên cứu
đã tuyển chọn được 146 người tham gia.
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
• Định nghĩa “thành viên gia đình” trong nghiên cứu là một trong số những
người sau đây:

+ Người sống chung cùng nhà (có hoặc không cùng huyết thống) có hỗ trợ
trực tiếp và thường xuyên (về vật chất, tinh thần và chăm sóc trực tiếp) với
nam TCMT nhiễm HIV
+ Người có quan hệ huyết thống không sống cùng, nhưng có hỗ trợ trực tiếp
và thường xuyên cho người nam TCMT nhiễm HIV
+ Người không có quan hệ huyết thống nhưng được nam TCMT nhiễm HIV
tự đánh giá là có hỗ trợ trực tiếp và thường xuyên.
• Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu:
+ Người trên 18 tuổi
+ Được nam TCMT xác định là “thành viên gia đình” theo các tiêu chí trên
+ Có tên trong danh sách của Bảng nhận diện gia đình (xem dưới đây) của
đối tượng nam TCMT nhiễm HIV
+ Có khả năng hiểu và ký vào bản thỏa thuận tham gia nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào nhóm nam giới TCMT nhiễm HIV mà
chưa mở rộng sang nhóm nữ giới một phần là do trong số nhiễm mới HIV
chiếm đa số vẫn là nam giới và tại nhiều báo cáo cũng cho thấy vai trò lây
truyền HIV từ nam giới TCMT sang các nhóm ít nguy cơ hơn (vợ/ bạn tình
không nhiễm HIV) trong cộng đồng vẫn cần được chú ý đến [7], [31].
- Quy trình chọn mẫu
+ Tuyển chọn nam TCMT nhiễm HIV dựa theo phương pháp “hòn tuyết lăn”
– đối tượng giới thiệu đối tượng. Việc sàng lọc đối tượng nam TCMT được
tiến hành ở cộng đồng hoặc ở tại cơ sở nghiên cứu đặt tại Trường Đại học
Y Hà Nội
+ Sau bước sàng lọc đủ tiêu chuẩn và ký thỏa thuận tham gia nghiên cứu:
o Nam TCMT trả lời phỏng vấn (một nghiên cứu khác) trong đó có việc liệt
kê các “thành viên gia đình” trong Bảng nhận diện gia đình. Bảng nhận
diện này yêu cầu nam TCMT liệt kê: Tất cả những người sống chung có

hoặc không cùng huyết thống, tất cả con ruột dù có sống chung hay không,
tất cả vợ/ bạn tình dù có sống chung hay không, và những người không
sống chung hoặc không phải có quan hệ huyết thống nhưng có hỗ trợ trực
tiếp và thường xuyên.
o Mỗi nam TCMT sau khi kết thúc phỏng vấn được phát một thẻ mời gia
đình để mời một “thành viên gia đình” trong Bảng nhận diện gia đình vào
tham gia nghiên cứu.
Tiếp đón
Kiểm tra coupon IDU

PV sàng lọc IDU
-

XN sàng lọc HIV

- XN sàng lọc sử dụng chất

Đủ tiêu chuẩn

Không đủ tiêu chuẩn

Tiến hành phỏng vấn

Dừng tuyển chọn

Mời gia đình

Tiếp đón người nhà

Phát coupon cho IDU

Phỏng vấn

Sơ đồ 2: Quy trình chọn mẫu và thu thập thông tin
2.4. Biến số và chỉ số trong nghiên cứu
Nội dung
Đặc điểm
chung của
đối tượng
nghiên cứu

Biến số
Tuổi
Giới
Quan hệ với nam TCMT
Trình độ học vấn
Tình trạng hôn nhân
Nghề nghiệp
Thu nhập

Chỉ số
Trung bình, % nhóm tuổi
% theo giới tính khi sinh
% theo mối quan hệ
% theo cấp độ học vấn
% tình trạng hôn nhân
% theo nhóm nghề
Thu nhập trung
bình/tháng cả gia đình 12
tháng qua

Công cụ
Phần A
của Bộ
câu hỏi
phỏng
vấn

Mô tả đặc
điểm trầm
cảm – lo âu
– stress của
thành viên
gia đình
nam TCMT
nhiễm HIV

Mô tả yếu
tố liên
quan trầm
cảm – lo âu
– stress của
thành viên
gia đình

Nhiễm HIV
% tình trạng nhiễm HIV
Nhận thức về khả năng tiếp cận dịch vụ y tế
Nhận thức tiếp cận dịch Điểm trung bình của nhận
vụ theo thang 0 – 100 thức tiếp cận dịch vụ
Trải nghiệm về sự kỳ thị của thành viên gia đình
Trải nghiệm về sự kỳ thị Điểm trung bình trải
theo thang 0 – 9
nghiệm về sự kỳ thị
Sức khỏe tâm thần
Điểm trung bình trầm
cảm, lo âu, stress
Tương quan tuyến tính
Sức khỏe tâm thần theo
theo cặp của 3 thành tố
thang DASS-21
% theo mức độ trầm cảm,
lo âu, stress
% có/không cả 3 thành tố
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Sử dụng mô hình SEM
Đặc điểm nhân khẩu học
xác định yếu tố liên quan
Tình trạng nhiễm HIV
đến sức khỏe tâm thần
Gánh nặng chăm sóc
Điểm trung bình gánh
Gánh nặng chăm sóc
nặng chăm sóc chung của
theo thang điểm 0 – 100
mẫu và của từng miền
Mối quan hệ gia đình
Điểm trung bình quan hệ
Mối quan hệ gia đình
gia đình chung của mẫu
theo thang điểm 0 – 100
và của từng miền
Hỗ trợ xã hội
Điểm trung bình hỗ trợ xã
Hỗ trợ xã hội theo thang
hội chung của mẫu và của
điểm 0 – 100
từng miền
Đặc điểm nam TCMT nhiễm HIV
Thời gian lệ thuộc chất Sử dụng mô hình SEM
Tình trạng điều trị (điều xác định yếu tố liên quan
trị ARV và/ hoặc MMT) đến sức khỏe tâm thần

2.5. Công cụ thu thập thông tin
1.3.3. Công cụ thu thập thông tin

Phần G
Phần F

Phần B

Phần A

Phần C

Phần D

Phần E

Phần H

Thông tin được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối
tượng trong 45-60 phút với công cụ là bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (phụ lục).
1.3.4. Các thang đo sử dụng trong nghiên cứu
- Trầm cảm – lo âu – stress (Depression Anxiety Stress Scale – 21)
• Nghiên cứu sử dụng Thang đo Trầm cảm – Lo âu – Stress 21 (DASS-21)
được phát triển bởi Lovibond năm 1995 [24], nhiều nghiên cứu trên thế
giới đã chứng minh giá trị độ tin cậy nội tại của thang đo này [72], [73].
Thang đo đã được đánh giá tính giá trị, độ tin cậy và khẳng định có thể áp
dụng tại Việt Nam [25].
• Các câu hỏi tập trung mô tả triệu chứng/cảm xúc của người trả lời gặp phải
trong vòng một tuần trước thời điểm phỏng vấn.
• Thang đo bao gồm 21 câu hỏi thuộc ba cấu phần: (D) Trầm cảm, (A) Lo âu
và (S) Stress; mỗi nhóm gồm 7 câu hỏi. Mỗi câu hỏi có 4 phương án lựa
chọn tương ứng với 4 mức độ điểm từ “0 – Không đúng chút nào” cho đến
“3 – Hoàn toàn đúng”.
• Với mỗi một nhóm (D), (A) và (S) đều được phân chia thành 5 mức độ từ
Rất nhẹ, Nhẹ, Vừa, Nặng và Rất nặng như sau:
Trầm cảm
Lo âu
Stress
Bình thường/rất nhẹ
0–4
0–3
0–7
Nhẹ
5–6
4–5
8–9
Vừa
7 – 10
6–7
10 – 12
Nặng
11 – 13
8–9
13 – 16
Rất nặng
≥ 14
≥ 10
≥ 17
- Gánh nặng chăm sóc (Caregiver Burden Scale)
• Nghiên cứu sử dụng Bộ câu hỏi sàng lọc Gánh nặng chăm sóc được phát
triển từ Thang đo Gánh nặng chăm sóc [62]. Câu hỏi liên quan tới những
thay đổi thành viên gia đình phải đối mặt trong cuộc sống.
• Công cụ bao gồm 19 câu hỏi, chia thành 3 cấu phần: (1) Gánh nặng tài
chính, (2) Gánh nặng sức khỏe, (3) Gánh nặng cảm xúc. Mỗi câu có 5
phương án tương ứng 5 mức độ điểm từ “1 – Hoàn toàn không đồng ý”
đến “5 – Hoàn toàn đồng ý”.

• Gánh nặng chăm sóc được đánh giá bằng tổng điểm của cả ba cấu phần,
điểm càng cao càng thể hiện mức độ của gánh nặng.
- Mối quan hệ gia đình (Family Function Scale)
• Mối quan hệ gia đình sử dụng Thang đo quan hệ gia đình [74].
• Công cụ bao gồm 15 câu hỏi, chia đều trong 3 cấu phần: (1) Sự gắn kết,
(2) Sự mâu thuẫn, (3) Mối quan hệ xã hội của gia đình. Mỗi câu có 4
phương án tương ứng 4 mức độ điểm từ “1 – Không đúng chút nào” đến
“4 – Rất đúng”.
• Mối quan hệ gia đình được đánh giá bằng tổng điểm cấu phần “Sự gắn
kết” và “Mối quan hệ xã hội”, sau đó trừ đi điểm cấu phần “Sự mâu
thuẫn”. Điểm càng cao thể hiện mối quan hệ trong gia đình càng tích cực.
- Hỗ trợ xã hội (Medical Outcome Study Social Support Survey)
• Hỗ trợ xã hội được đo lường bằng sử dụng Thang đo hỗ trợ xã hội đo
lường trong các nghiên cứu y học [75].
• Bộ câu hỏi bao gồm 19 câu hỏi, chia thành 4 cấu phần: (1) Hỗ trợ chia sẻ
cảm xúc hoặc thông tin; (2) Hỗ trợ nhu cầu cụ thể trong cuộc sống; (3) Hỗ
trợ thông qua tương tác tích cực; (4) Hỗ trợ thể hiện tình cảm. Mỗi câu có
5 phương án tương ứng 5 mức độ điểm từ “1 – Luôn luôn” đến “5 –
Không bao giờ”.
• Khi sử dụng để phân tích số liệu, chuyển mức độ điểm theo chiều hướng
càng cao càng tích cực. Mức độ hộ trợ xã hội được đánh giá bằng tổng
điểm của 4 cấu phần và so với thang 100 điểm, điểm càng cao càng thể
hiện sự hỗ trợ xã hội tích cực.
2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu




Xử lý số liệu
Số liệu được làm sạch ngay sau mỗi phiếu thu thập.
Thông tin sau khi thu thập được nhập bằng phần mềm Epi info 7.
Phân tích số liệu trên phần mềm Stata 14 và Mplus version 7.4
Sử dụng trung bình, độ lệch chuẩn, trung vị để mô tả biến định lượng; tỷ lệ

phần trăm để mô tả biến định tính.
• Thuật toán và test thống kê:

+ Sử dụng t test hoặc Mann-Whitney test để tìm sự khác biệt trung bình giữa
hai nhóm.
+ Phân tích tương quan tuyến tính xác định mối tương quan giữa các cặp
biến định lượng trong nghiên cứu.
+ Phân tích mô hình phương trình cấu trúc (Structural Equation Model –
SEM) bằng phần mềm Mplus 7.31 [76], phân tích dựa trên mô hình lý
thuyết ban đầu và số liệu thực tế để kiểm tra tính liên quan của một số biến
dự báo đối với trầm cảm, lo âu và stress của thành viên gia đình nam
TCMT nhiễm HIV. Kỹ thuật và các bước phân tích sẽ trình bày kỹ hơn ở
phần Kết quả nghiên cứu và Bàn luận.
- Số liệu sau khi phân tích được trình bày bằng phần mềm Excel, Word.
2.7. Sai số và cách khắc phục
2.7.1. Các sai số có thể gặp trong nghiên cứu
- Sai số chọn mẫu:
• Nam TCMT xác định dựa trên phương pháp chọn mẫu “hòn tuyết lăn” đối
tượng giới thiệu đối tượng, các hạt giống được lựa chọn từ các phòng
khám HIV/MMT và từ các nhóm cộng đồng, việc này hạn chế tuyển chọn
được các đối tượng từ các nhóm khác như TCMT trẻ tuổi. Bên cạnh đó,
việc tuyển chọn đối tượng tiếp theo của các hạt giống được thực hiện với
mức độ khác nhau, có thể khó lấy được nhóm khó tiếp cận.
• Lựa chọn đối tượng nghiên cứu dựa trên sự đánh giá chủ quan của nam
TCMT về người hỗ trợ chính, từ đó phát phiếu mời thành viên gia đình
vào nghiên cứu, trong nhiều trường hợp chỉ mời được thành viên gia đình
có mối quan hệ tốt và các hỗ trợ tinh thần với người bệnh mà bỏ sót những
người có những hỗ trợ khác.
- Sai số nhớ lại:
Nghiên cứu sử dụng các thang đo yêu cầu nhớ những khoảng thời gian
trong quá khứ có thể khiến đối tượng nghiên cứu nhớ nhầm về sự việc.
- Sai số thu thập thông tin:

Đối tượng khai báo sai thông tin, đôi khi xảy ra cường điệu hóa trải
nghiệm và những gánh nặng trong cuộc sống với mong muốn nhận được
nhiều sự quan tâm hơn.
2.7.2. Cách khắc phục sai số
- Tập huấn điều tra viên trong 3 ngày về cách thức sử dụng Bộ câu hỏi và kỹ
năng thu thập được thông tin một cách chính xác.
- Giải thích rõ ràng, tỉ mỉ cho các nam TCMT nhiễm HIV về khái niệm gia
đình được sử dụng trong nghiên cứu để có thể mời được người có nhiều hỗ
trợ nhất cho nam TCMT nhiễm HIV trong chăm sóc và điều trị HIV
và/hoặc ma túy.
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của
trường Đại học Y Hà Nội xem xét và phê duyệt (QĐ 144/HĐĐĐĐHYHN)
ngày 18/7/2014.
- Việc tham gia của đối tượng nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện, trước khi
tham gia đối tượng được phát một giấy mời trong đó có giới thiệu mục
đích và ý nghĩa của nghiên cứu, các đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
sẽ ký vào bản thỏa thuận trước khi trả lời phỏng vấn và được mời sang
phòng riêng tại nhà A5 – Đại học Y Hà Nội để phỏng vấn.
- Thông tin của đối tượng hoàn toàn được bảo mật, chỉ sử dụng Mã nghiên
cứu trong các phiếu điều tra. Các thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục
đích nghiên cứu.
- Sau khi hoàn thành phỏng vấn, nghiên cứu có khoản thù lao 150.000 VNĐ
cho đối tượng vì đã sắp xếp thời gian tham gia nghiên cứu.
CHƯƠNG 3.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu của thành viên gia đình nam TCMT nhiễm HIV

Nhận xét:
Trong 146 người tham gia nghiên cứu là “thành viên gia đình” có tới 60
người (41,1%) là vợ/ bạn tình đang sống chung cùng nam TCMT nhiễm HIV.
Có 40 người (27,4%) người tham gia nghiên cứu là bố/ mẹ trong đó có 35
người là mẹ và 5 người là bố của nam TCMT nhiễm HIV. Điều này cũng giải
thích cho việc mẫu nghiên cứu có tỷ lệ cao là nữ giới.
Kết quả nghiên cứu cũng có đến 25 người (17,1%) là anh/ chị/ em ruột
của nam TCMT nhiễm HIV, nhóm này cũng được đánh giá là có nhiều sự hỗ
trợ quan trọng.
Bảng 1: Đặc điểm chung của người tham gia nghiên cứu (N = 146)
Đặc điểm

n

Tuổi
< 30
30 – 39
40 – 49
≥ 50

19
52
24
51

% hoặc ± SD
44,6 ± 14,7
Median = 40,9
Range: 18 – 83,4
13%
35,6%
16,4%
35%

Giới
Nữ
Nam
Trình độ học vấn
Dưới tiểu học/Tiểu học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông trở lên
Hôn nhân
Kết hôn/sống cùng bạn tình
Ly dị/ly thân/góa
Độc thân
Nghề nghiệp
Ổn định (nhà nước, văn phòng,…)

108
38

74%
26%

16
54
76

11%
37%
52%

112
22
12

76,7%
15,1%
8,2%

9

6,2%