Tải bản đầy đủ
2 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN

2 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN

Tải bản đầy đủ

4
người bán được đơn vị bao thanh toán cung cấp ít nhất một trong bốn
chức năng chủ yếu của bao thanh toán như sau:


Theo dõi sổ sách bán hàng của người bán



Tài trợ dưới dạng tạm ứng cho người bán hàng dựa trên
giá trị các khoản phải thu

1.2.1.2



Thu nợ hộ



Bảo hiểm rủi ro tín dụng các khoản phải thu.
Chức năng của bao thanh toán

Bao thanh toán có 04 chức năng cơ bản sau: Chức năng quản lý
sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, chức năng tài trợ thuần
tuý, chức năng thu hộ nợ và chức năng bảo hiểm rủi ro trong thanh
toán.
1.2.1.3


Các hình thức bao thanh toán chủ yếu
Căn cứ vào chức năng của bao thanh toán: Bao thanh toán

đầy đủ các chức năng và bao thanh toán thực hiện một số chức năng.


Căn cứ vào tính chất truy đòi: Bao thanh toán có quyền truy

đòi và bao thanh toán miễn truy đòi.


Căn cứ theo phạm vi hoạt động địa lý: Bao thanh toán trong

nước và bao thanh toán quốc tế.


Căn cứ theo số lượng đơn vị bao thanh toán tham gia: Bao

thanh toán trực tiếp (01 đại lý) và bao thanh toán 02 đại lý.


Căn cứ theo phạm vi giao dịch với người mua hàng: Bao

thanh toán kín và bao thanh toán công khai.


Căn cứ theo phạm vi bao thanh toán đối với số lượng hoá

đơn của người bán: Bao thanh toán toàn bộ và bao thanh toán một
phần.

5
1.2.2

Quy trình thực hiện bao thanh toán

1.2.2.1

Hệ thống một đơn vị bao thanh toán

1.2.2.2

Hệ thống hai đơn vị bao thanh toán

Về cơ bản, trình tự của dịch vụ bao thanh toán quốc tế cũng
tương tự như trình tự bao thanh toán trong nước. Điểm khác biệt là
khả năng có sự tham gia của hệ thống hai đại lý (hai đơn vị bao
thanh toán đứng ra làm đại lý cho nhau để cung cấp dịch vụ cho
người xuất và người nhập). Các đại lý thường có trụ sở tại nước của
người xuất và nước của người nhập. Bao thanh toán quốc tế thường
được chia làm hai loại: Bao thanh toán xuất khẩu và Bao thanh toán
nhập khẩu.
1.2.3

Rủi ro phát sinh từ hoạt động bao thanh toán

Trong hoạt động bao thanh toán đơn vị bao thanh toán có thể đối
mặt với các loại rủi ro sau: Rủi ro tín dụng, rủi ro gian lận, rủi ro tác
nghiệp, rủi ro thu nợ, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối, rủi ro pháp
lý. Rủi ro phát sinh phụ thuộc vào vai trò của đơn vị bao thanh toán
và vào các thời điểm khác nhau.

1.2.4 Lợi ích của bao thanh toán và lợi thế so với các sản phẩm
khác
1.2.4.1


Lợi ích của bao thanh toán
Đối với người bán: Có nguồn vốn ứng trước của đơn vị bao

thanh toán để hoạt động, giảm rủi ro trong thanh toán, giảm chi phí
quản lý, thời gian và sức lực trong việc thu hồi nợ, nâng cao sức cạnh
tranh và phá bỏ những rào cản trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên
điểm hạn chế là phí bao thanh toán tương đối cao, mối quan hệ giữa

6
doanh nghiệp với các khách hàng có thể bị ảnh hưởng bởi đơn vị bao
thanh toán.


Đối với người mua: Không mất phí và thời gian để mở L/C

cho từng đơn hàng mua tại từng thị trường và thường không phải ký
quỹ, được nhận hàng và sử dụng hàng mà chưa cần phải thanh toán
tiền hàng ngay, chỉ thanh toán hàng khi hàng hóa đáp ứng được các
yêu cầu của hợp đồng mua bán và được đơn vị bao thanh toán san sẻ
những khó khăn về bất đồng ngôn ngữ với người xuất khẩu. Tuy
nhiên điểm hạn chế là giá hàng thanh toán bằng phương thức bao
thanh toán có thể cao hơn so với giá hàng thanh toán bằng phương
thức L/C.


Đối với đơn vị bao thanh toán: Bao thanh toán giúp tăng

các thu nhập cho ngân hàng thông qua các khoản thu từ phí, lãi suất
và các chi phí khác từ khách hàng, cho phép đa dạng hóa hệ sản
phẩm và giúp ngân hàng duy trì và mở rộng thị phần, nâng cao uy tín
thanh toán trong nước và quốc tế. Tuy nhiên điểm hạn chế là đơn vị
bao thanh toán có thể gặp các rủi ro khi quá hạn khoản phải thu mà
người mua không thanh toán hoặc mất khả năng thanhh toán, khi có
tranh chấp giữa người mua và người bán.


Đối với nền kinh tế: Bao thanh toán giúp đẩy mạnh hoạt

động thương mại, sản xuất, tạo ra môi trương kinh doanh ổn định cho
doanh nghiệp và nền kinh tế…
1.2.4.2

Lợi thế của bao thanh toán so với một số sản phẩm khác

Để thấy được lợi thế của bao thanh toán, luận văn đã tiến hành so
sánh bao thanh toán với các phương thức tài trợ khác. Đó là:


So sánh bao thanh toán với các phương thức tài trợ và quản

lý tín dụng thương mại khác

7


So sánh bao thanh toán với các sản phẩm tín dụng thông

thường


So sánh bao thanh toán với tài trợ các khoản phải thu.

1.2.5

Các điều kiện triển khai dịch vụ bao thanh toán



Điều kiện bên ngoài: Hệ thống pháp luật, nhu cầu của thị

trường.


Điều kiện bên trong: Quy trình nghiệp vụ của ngân hàng,

bộ máy tổ chức triển khai, nhân sự, các điều kiện khác về công nghệ,
mạng lưới cung cấp dịch vụ, tổ chức tiếp thị quảng bá…
1.2.6

Hoạt động bao thanh toán trên thế giới và kinh nghiệm

phát triển
1.2.6.1

Hoạt động bao thanh toán trên thế giới

Hoạt động bao thanh toán đã xuất hiện từ lâu và trở thành
phương thức thanh toán phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Nhìn
chung, doanh thu bao thanh toán trên thế giới đều tăng trong những
năm vừa qua. Điều này chứng tỏ hoạt động bao thanh toán ngày càng
phát triển và trở thành sản phẩm tài chính không thể thiếu đối với
doanh nghiệp và ngân hàng.
1.2.6.2

Kinh nghiệm phát triển hoạt động bao thanh toán trên

thế giới
Để có cơ sở triển khai dịch vụ bao thanh toán thì việc rút kinh
nghiệm hoạt động của các nước đã triển khai dịch vụ này là rất quan
trọng. Kinh nghiệm phát triển hoạt động bao thanh toán trên thế giới
được rút ra trên các mặt sau:


Về thị trường



Vấn đề nhận thức của đơn vị bao thanh toán và khách hàng.

8


Về môi trường pháp lý



Về hình thức tổ chức của các đơn vị cung cấp dịch vụ bao
thanh toán



Xác định loại sản phẩm bao thanh toán cung cấp cho khách
hàng



Về nguồn nhân lực



Xây dựng Hiệp hội bao thanh toán quốc gia
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương một của đề tài đề cập đến các vấn đề lý luận liên
quan đến dịch vụ bao thanh toán. Bên cạnh các vấn đề lý luận cơ bản
về dịch vụ bao thanh toán như khái niệm, chức năng, các hình thức
bao thanh toán, qui trình thực hiện bao thanh toán… đề tài cũng tiến
hành phân tích những lợi ích của bao thanh toán so với các phương
thức tài trợ khác, các điều kiện để triển khai dịch vụ bao thanh toán
cũng như trình bày những kinh nghiệm về hoạt động bao thanh toán
trên thế giới. Từ những nhận định và tìm hiểu của tác giả trong
chương này sẽ tạo cơ sở về mặt lý luận cho tác giả trong quá trình
nghiên cứu và phát triển đề tài này ở chương 2 và chương 3.

9
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẢNG NAM
2.1 GIỚI THIỆU VỀ VIETCOMBANK QUẢNG NAM
2.1.1

Vài nét về Vietcombank Quảng Nam

Vietcombank Quảng Nam được thành lập theo Quyết định số
216/QĐ-NHNT-TCCB-ĐT và chính thức khai trương đi vào hoạt
động vào ngày 03/07/2006 trên cơ sở nâng cấp chi nhánh cấp 2 Tam
Kỳ. Tính đến ngày 31/12/2009, Vietcombank gồm Trụ sở chính, 05
Phòng giao dịch.
2.1.2

Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh của

Vietcombank Quảng Nam
2.1.2.1 Địa bàn hoạt động


Tình hình kinh tế và hoạt động của các doanh nghiệp

trên địa bàn: Nền kinh tế tỉnh Quảng Nam trong những năm qua có
sự tăng trưởng cao và ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tích cực. Về hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn, số
lượng các doanh nghiệp không ngừng tăng lên qua các năm trong đó
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất. Đây sẽ
là tiền đề thúc đẩy các dịch vụ ngân hàng phát triển trong đó có dịch
vụ bao thanh toán.


Tình hình hoạt động của các ngân hàng trên địa bàn:

Tính đến cuối năm 2009 có 20 ngân hàng thương mại được thành lập
trong đó có 4 ngân hàng thương mại quốc doanh và 16 ngân hàng
thương mại cổ phần tư nhân. Các dịch vụ do các ngân hàng cung cấp

10
ngày càng đa dạng. Hoạt động cho vay của các ngân hàng chủ yếu
phục vụ cho các doanh nghiệp trong khi đó khả năng tiếp cận nguồn
vốn thông các kênh tín dụng truyền thống còn gặp nhiều khó khăn
đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dịch vụ bao thanh toán với
những ưu việt của nó sẽ là một kênh mới để đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của doanh nghiệp.
2.1.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Vietcombank Quảng
Nam
Mặc dù là Chi nhánh còn non trẻ nhưng đã có sự phát triển rất
mạnh mẽ, các chỉ tiêu về tín dụng, huy động vốn, thanh toán xuất
nhập khẩu… luôn đạt kế hoạch được giao, mạng lưới hoạt động
không ngừng được mở rộng. Nhìn chung hiện nay Vietcombank
Quảng Nam đã tạo dựng được thương hiệu khá tốt trên địa bàn.
2.2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI DỊCH VỤ BAO THANH
TOÁN TẠI VIETCOMBANK QUẢNG NAM
2.2.1

Khái quát quá trình triển khai dịch vụ bao thanh toán tại

Vietcombank Quảng Nam
2.2.1.1 Quá trình triển khai của Vietcombank:
Dịch vụ bao thanh toán của Vietcombank được Ngân hàng Nhà
nước cấp phép hoạt động từ ngày 06/12/2005. Do đây là dịch vụ còn
mới mẻ đối với khách hàng, quá trình triển khai còn gặp nhiều khó
khăn nên nhìn chung kết quả đạt được thời gian qua còn thấp, chưa
tương xứng với kỳ vọng của Ban lãnh đạo Vietcombank.
2.2.1.2 Quá trình triển khai của Vietcombank Quảng nam
Vietcombank Quảng Nam bắt đầu triển khai cung cấp cho
khách hàng từ năm 2009 nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau vẫn

11
không đạt được kết quả. Việc triển khai dịch vụ bao thanh toán tại
Vietcombank Quảng Nam còn nhiều bất cập, hạn chế nên cần phải có
các giải pháp triển khai hiệu quả hơn.
2.2.2

Một số quy định về hoạt động bao thanh toán của

Vietcombank Quảng Nam
Bao gồm các quy định về loại hình bao thanh toán, điều kiện các
khoản phải thu, mức bao thanh toán, phương thức bao thanh toán,
thời hạn bao thanh toán, lãi suất bao thanh toán, phí bao thanh toán.
2.2.3

Quy trình nghiệp vụ bao thanh toán tại Vietcombank

Quảng Nam
Hiện nay, Vietcombank đã ban hành quy trình hoạt động bao
thanh toán trong hệ thống, bao gồm quy trình bao thanh toán xuất
khẩu, quy trình bao thanh toán nhập khẩu và quy trình bao thanh toán
trong nước.
2.2.4

Cơ cấu tổ chức hoạt động bao thanh toán tại

Vietcombank Quảng Nam
Theo quy định của Vietcombank thì Phòng Quan hệ khách hàng
và bộ phận tác nghiệp bao thanh toán là 02 bộ phận tác nghiệp trực
tiếp ở Chi nhánh. Tuy nhiên hiện nay tại Vietcombank Quảng Nam
vẫn chưa thành lập bộ phận bao thanh toán mà chức năng của bộ
phận này được nhập chung với phòng Quan hệ khách hàng.
2.2.5

Nguồn nhân lực, công nghệ, mạng lưới cung cấp dịch vụ

bao thanh toán
 Nguồn nhân lực: Chi nhánh chưa có cán bộ chuyên trách về
dịch vụ bao thanh toán.

12
 Công nghệ: Sử dụng phần mềm quản lý bao thanh toán
HPD (Anh) và đã được tích hợp vào hệ thống chung của ngân hàng.
 Mạng lưới cung cấp dịch vụ: Mạng lưới cung cấp dịch vụ
của Vietcombank Quảng Nam bao gồm các Chi nhánh trong cùng hệ
thống, các đại lý bao thanh toán trong tổ chức FCI và Chi nhánh.
2.2.6

Về mặt khách hàng
Khách hàng của Vietcombank Quảng Nam bao gồm các doanh

nghiệp, các chi nhánh khác cùng hệ thống và các đại lý bao thanh
toán quốc tế. Đối với khách hàng là doanh nghiệp đến nay Chi nhánh
vẫn chưa xây dựng cho mình các khách hàng tiềm năng.
2.2.7

Về công tác quảng bá tiếp thị dịch vụ bao thanh toán
Năm 2009 Chi nhánh đã một lần tiến hành tiếp thị dịch vụ bao

thanh toán đến với các khách hàng đang có quan hệ Vietcombank
Quảng Nam thông qua hình thức đưa cán bộ tiếp thị trực tiếp đến
doanh nghiệp. Tuy nhiên vẫn không đạt được kết quả.
2.3 MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA CÁC
DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM VỀ
SỬ DỤNG DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN
Để triển khai dịch vụ bao thanh toán - một dịch vụ mới ở
Vietcombank Quảng nam thì công tác đánh giá, điều tra nhu cầu
khách hàng về nhận thức đối với sản phẩm này là hết sức cần thiết.
Thông qua cách điều tra chọn mẫu, một số kết quả phân tích được rút
ra như sau:
2.3.1

Sự hiểu biết về dịch vụ bao thanh toán của các doanh

nghiệp tại tỉnh Quảng Nam

13
Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hầu hết là
chưa có hiểu biết về dịch vụ này, còn mới mẻ đối với họ, thậm chí
nhiều khách hàng không biết ngân hàng mình đang giao dịch có cung
cấp dịch vụ này hay không.
2.3.2

Phương thức thanh toán và khoản phải thu của doanh

nghiệp
Phương thức thanh toán của doanh nghiệp xuất nhập khẩu chủ
yếu là trả chậm và tín dụng chứng từ. Mức độ bán hàng trả chậm của
doanh nghiệp diễn ra thường xuyên. Hầu hết các doanh nghiệp muốn
chuyển những khoản phải thu chưa đến hạn thành tiền ngay để đáp
ứng nhu cầu vốn kinh doanh và hạn chế rủi ro trong thanh toán thông
qua sử dụng dịch vụ của NH.
2.3.3

Nhu cầu sử dụng dịch vụ bao thanh toán của doanh

nghiệp
Số lượng khách hàng từ chối sử dụng ngay lập tức rất ít trong
khi số khách hàng có nhu cầu và muốn tìm hiểu thêm chiếm tỷ lệ rất
cao trong tổng số khách hàng điều tra. Có lẽ do ít hiểu biết về dịch
vụ này nên khách hàng còn phân vân, muốn tìm hiểu rõ hơn về dịch
vụ này. Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với Vietcombank Quảng
Nam trong quá trình triển khai dịch vụ bao thanh toán là làm sao
giúp các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiểu rõ về dịch
vụ này, từ đó thấy được lợi ích mà doanh nghiệp thu được khi sử
dụng dịch vụ này.
2.4 NHỮNG NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC
TRIỂN

KHAI

DỊCH

VỤ

BAO

VIETCOMBANK QUẢNG NAM
2.4.1

Về phía nhà nước

THANH

TOÁN

TẠI

14


Các văn bản luật qui định về hoạt động bao thanh toán còn

chồng chéo và chưa đề cập đầy đủ hết các nội dung của nghiệp vụ
bao thanh toán.


Luật các công cụ chuyển nhượng chưa có qui định cho phép

thực hiện việc chuyển nhượng các khoản phải thu trong thương mại.
2.4.2


Về phía Vietcombank Hội sở
Qui định về tổ chức tác nghiệp bao thanh toán tại Chi nhánh

chưa phù hợp.


Công tác quảng bá sản phẩm bao thanh toán còn nhiều hạn



Các nguyên nhân khác như chưa có chính sách ưu đãi khách

chế.
hàng sử dụng dịch vụ, công tác đào tạo cán bộ bất cập, chưa thường
xuyên, chưa giao chỉ tiêu cụ thể về dịch vụ bao thanh toán cho các
chi nhánh thực hiện…
2.4.3

Về phía Vietcombank Quảng Nam



Vietcombank Quảng Nam chưa có bộ phận bao thanh toán



Công tác tiếp thị quảng bá sản phẩm chưa được quan tâm

đúng mức


Đội ngũ nhân viên phục vụ cho hoạt động bao thanh toán

còn ít và ít hiểu biết về sản phẩm này


Đối tượng mà khách hàng Vietcombank Quảng Nam nhắm

đến đều là khách hàng lớn

2.4.4


Phí và lãi suất bao thanh toán cao, kém linh hoạt.
Về phía doanh nghiệp
Sự hiểu biết về dịch vụ bao thanh toán của các doanh nghiệp

trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn hạn chế.