Tải bản đầy đủ
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách.

Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách.

Tải bản đầy đủ

6
Minh bạch là làm cho mọi việc trở nên rõ ràng, dể hiểu, sáng sủa, không
thể nhầm lẫn được
c. Nguyên tắc đảm bảo cân đối
Cân đối NSNN ngoài sự cân bằng về thu, chi còn là sự hài hòa,
hợp lý trong cơ cấu thu, chi giữa các khoản thu, chi; các lĩnh vực; các
ngành; các cấp chính quyền.
1.1.3. Ngân sách địa phương
Qua nghiên cứu về ngân sách nhà nước, ta có thể rút ra khái
niệm, đặc điểm, vai trò của ngân sách địa phương như sau:
1.1.3.1 Khái niệm ngân sách địa phương
Ngân sách địa phương là toàn bộ các khoản thu, chi của địa
phương theo phân cấp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định và được tổ chức thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương đó.
1.1.3.2 Đặc điểm của ngân sách địa phương
- Ngân sách địa phương là một bộ phận cấu thành của ngân sách
nhà nước, do đó ngân sách địa phương đều có những đặc điểm của ngân
sách nhà nước. - Ngân sách địa phương là một bộ phận của bộ luật tài
chính đặc biệt, vì ngân sách địa phương là bộ phận của ngân sách nhà
nước. - Ngân sách địa phương là một bản dự toán thu, chi (yếu tố vật
chất). - Ngân sách địa phương là một công cụ quản lý.
1.1.3.3 Vai trò của ngân sách địa phương
- Bảo đảm các nhu cầu chi tiêu của địa phương để duy trì sự tồn
tại của bộ máy Nhà nước, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội của địa
phương, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. - Ngân sách địa phương góp phần quan trọng trong ổn định thị
trường, kiểm soát lạm phát… - Giải quyết các vấn đề xã hội như: điều
tiết thu nhập của người có thu nhập cao, thông qua quá trình phân phối
để người có thu nhập thấp cũng được hưởng lợi.
1.1.3.4 Tổ chức hệ thống ngân sách địa phương
- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi
chung là ngân sách tỉnh). - Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện). - Ngân sách các xã, phường,

7
thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã); Qua nghiên cứu về ngân sách
nhà nước và ngân sách địa phương ta có thể tóm tắt hệ thống ngân sách
nhà nước Việt Nam theo sơ đồ 1.1
1.1.4. Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
1.1.4.1 Khái niệm phân cấp quản lý NSNN
Phân cấp quản lý ngân sách là quá trình Nhà nước trung ương
phân giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền
địa phương trong hoạt động quản lý ngân sách. Phân cấp quản lý NSNN
là việc phân giao nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp chính quyền.
1.1.4.2 Các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN
Để đảm bảo phân cấp quản lý ngân sách đem lại kết quả tốt cần
phải quán triệt các nguyên tắc: Thứ nhất: Phù hợp với phân cấp quản lý
kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh của nhà nước và năng lực quản lý
của mỗi cấp trên địa bàn. Thứ hai: Đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân
sách trung ương và vị trí độc lập của ngân sách địa phương trong hệ
thống NSNN thống nhất. Thứ ba: Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong
phân cấp NSNN
1.1.4.3 Nội dung phân cấp quản lý NSNN
a. Quan hệ giữa các cấp chính quyền về chính sách, chế độ
Về cơ bản Nhà nước trung ương vẫn giữ vai trò quyết định các
loại thu như thuế, phí, lệ phí, vay nợ và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức
chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
quyết định một số chế độ thu phí gắn với quản lý đất đai, tài nguyên
thiên nhiên, gắn với chức năng quản lý hành chính nhà nước của chính
quyền địa phương và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định
của pháp luật.
b. Quan hệ các cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi
Trong luật ngân sách quy định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi
giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được ổn định từ 3
đến 5 năm. Bao gồm các khoản thu mà từng cấp được hưởng 100%; các
khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) cũng như nhiệm vụ chi của
từng cấp trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc phân cấp nói trên. Ngân
sách cấp trên thực hiện nhiệm vụ bổ sung ngân sách cho ngân sách cấp
dưới dưới hai hình thức: bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu.

8
c. Quan hệ giữa các cấp về quản lý chu trình NSNN
Mặc dù, ngân sách Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng ngân
sách lồng ghép giữa các cấp chính quyền trong chu trình ngân sách
nhưng quyền hạn, trách nhiệm Hội đồng nhân dân các cấp trong việc
quyết định dự toán, phân bổ ngân sách đã được tăng lên đáng kể.
1.2. Lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách địa phương
1.2.1. Lập dự toán ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương
1.2.1.1 Căn cứ và yêu cầu đối với lập dự toán
Để dự toán NSNN thực sự trở thành công cụ hữu ích trong điều
hành ngân sách, lập dự toán NSNN phải căn cứ vào các nhân tố chủ yếu
như: Nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc
phòng, an ninh nói chung và nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan ở trung
ương, ở địa phương. Chính sách phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi
NSNN. Chính sách, chế độ thu ngân sách; định mức phân bổ ngân sách,
chế độ, tiêu chuẩn … Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách. Thông tư hướng
dẫn của Bộ Tài chính về lập dự toán ngân sách. Số kiểm tra về dự toán
thu, chi NSNN. Lập ngân sách phải tính đến các kết quả phân tích, đánh
giá tình hình thực hiện ngân sách các năm trước đặc biệt là năm báo cáo.
Việc lập dự toán ngân sách nhà nước được đánh giá là tốt khi
đáp ứng được những yêu cầu như: Đảm bảo quán triệt đầy đủ, đúng đắn
các quan điểm của chính sách tài chính quốc gia trong từng thời kỳ. Dự
toán ngân sách của các đơn vị dự toán các cấp phải lập theo đúng quy
định và rõ ràng cơ sở, căn cứ tính toán. Dự toán NSNN phải bảo đảm
tổng số thu thuế và phí, lệ phí phải lớn hơn chi thường xuyên và các
khoản chi trả nợ; bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển.
1.2.1.2 Vai trò của khâu lập dự toán
Vai trò của khâu lập dự toán được thể hiện tổng hòa quan điểm,
đường lối, chiến lược và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của nhà nước;
phản ánh sự thiết lập kỷ luật tài chính cho hoạt động của khu vực công
thông qua việc xác lập các chỉ tiêu tài chính cơ bản: tổng thu NSNN,
tổng chi NSNN, mức thâm hụt NSNN/GDP. Phản ánh mối quan hệ giữa
tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng,...; tạo khuôn khổ cho việc chấp hành

9
NSNN; quyết định việc thực thi ngân sách được hiệu quả; là công cụ để
Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương kiểm soát hoạt động tài
chính trong năm tài khóa.
1.2.1.3 Phương pháp lập dự toán
Lập ngân sách hàng năm thường được tổ chức như sau: Tiếp
cận từ trên xuống, Tiếp cận từ dưới lên, Trao đổi, đàm phán, thương
lượng
1.2.1.4 Quy trình lập dự toán ngân sách
Để việc lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự
toán thu, chi ngân sách địa phương tại các địa phương đảm bảo trình tự,
thời gian thì quy trình lập được thực hiện theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Hướng dẫn lập dự toán ngân sách và thông báo số
kiểm tra.. Giai đoạn 2: Lập và thảo luận dự toán ngân sách.Giai đoạn 3:
Quyết định, giao dự toán ngân sách
Quy trình lập dự toán ngân sách địa phương được thể hiện qua
sơ đồ 1.2.
1.2.2. Phân bổ, giao dự toán ngân sách địa phương
1.2.2.1 Căn cứ để thực hiện
Ngoài những căn cứ pháp lý theo quy định chung đối với ngân
sách nhà nước, thì việc phân bổ dự toán ngân sách địa phương còn phải
căn cứ vào các yếu tố liên quan đến địa phương như: nhiệm vụ, mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội, định mức phân bổ ngân sách của địa phương...
1.2.2.2 Tiêu chí và phương pháp thực hiện
a. Về dự toán thu: Theo quy định về phân cấp nguồn thu thì
việc phân bổ dự toán thu ngân sách được thực hiện trên cơ sở nguồn
thu được phân cấp cho từng cấp chính quyền và đơn vị quản lý tổ
chức thu và phân bổ theo từng lĩnh vực thu, nguồn thu, sắc thuế.
Tổng dự toán thu được phân bổ tối thiểu đảm bảo bằng với dự toán
thu do Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính giao hằng năm.
b. Về dự toán chi:
Đối với chi đầu tư phát triển: Việc lập, phân bổ dự toán chi
đầu tư phát triển thuộc ngân sách địa phương được quy định: nguồn
vốn xây dựng cơ bản tập trung được lập và phân bổ tổi thiểu hàng năm

10
là 30% tổng chi cân đối ngân sách địa phương (không kể tiền sử dụng
đất và nguồn vốn huy động), và bằng với dự toán trung ương giao.
Đối với chi thường xuyên:
Để phù hợp với khả năng ngân sách và đặc điểm tình hình ở
địa phương, HĐND thành phố đã ban hành định mức phân bổ chi
ngân sách địa phương và hệ thống tiêu chí theo từng lĩnh vực (kể cả
quy đổi từ định mức theo dân số sang định mức theo tiêu chí khác
cho phù hợp) một số để làm căn cứ lập, phân bổ dự toán trong thời kỳ
ổn định gồm 17 lĩnh vực chi thường xuyên. Ngoài ra, tùy tính chất
hầu hết các lĩnh vực, sự nghiệp đều được phân bổ ngân sách để thực
các nhiệm vụ ngoài tiêu chí dân số và tiêu chí quy đổi ở trên.
1.2.2.3 Quy trình phân bổ, quyết định và giao dự toán:
Quy trình phân bổ và giao dự toán ngân sách địa phương được
thể hiện tại sơ đồ 1.3
Chương 2
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC LẬP, PHÂN BỔ VÀ GIAO DỰ
TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
GIAI ĐOẠN 2007 – 2010
Để phù hợp cho việc nghiên cứu và thuận lợi cho công tác đánh
giá, Tác giả tiến hành nghiên cứu và trình bày các nội dung liên quan về
thực trạng trong thời kỳ ổn định thứ 2 từ năm 2007-2010.
2.1 Thực trạng về quản lý ngân sách và phân cấp ngân sách nhà
nước tại địa phương
2.1.1. Thực trạng về quản lý, điều hành ngân sách tại địa phương
Trong thời gian qua công tác quản lý, điều hành ngân sách tại
thành phố Đà Nẵng được quan tâm đúng mức, trong điều hành luôn đảm
bảo các nguyên tắc, quy định của Luật NSNN và các quy định của thành
phố. Đặc biệt trong công tác tham mưu quản lý điều hành của cơ quan
Tài chính luôn thể hiện tính tích cực, chủ động linh hoạt trong việc sử
dụng các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Ưu tiên kinh phí cho việc thực
hiện các chính sách, chế độ của nhà nước và của thành phố, nhất là các
chính sách an sinh xã hội... đảm bảo kinh kinh phí cho công tác giữ gìn
an ninh quốc phòng, thực hiện bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu. Dự

11
phòng ngân sách để ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn
xảy ra.
2.1.2. Thực trạng về phân cấp ngân sách nhà nước tại địa phương
Việc thực hiện phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi tại thành phố được
thể hiện qua các nội dung sau:
- Nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức,
địa phương và cá nhân trong việc quản lý, điều hành và sử dụng ngân
sách theo Luật NSNN; phù hợp với yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn
thành phố; đảm bảo nguồn thu đáp ứng kịp thời cho các nhiệm vụ chi
phát triển kinh tế xã hội và giữ gìn an ninh trật tự.
- Thực hiện phân cấp nguồn thu theo hướng tập trung các nguồn thu
lớn cho cấp thành phố quản lý thu, nguồn thu thuộc lĩnh vực ngoài quốc
doanh được phân cấp chủ yếu cho cấp quận, huyện quản lý thu, nguồn
thu nhỏ từ các hộ kinh doanh cá thể được phân cấp cho cấp phường, xã
quản lý thu. Nhiệm vụ chi được phân cấp theo hướng những nhiệm vụ
có liên quan, tác động trên phạm vi tòan thành phố được phân cấp cho
ngân sách cấp thành phố đảm nhận, ngân sách quận, huyện đảm nhận
những nhiệm vụ chi liên quan trong phạm vi địa bàn mình.
Như vậy, việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi trong thời gian qua
đã góp phần tăng cường công tác quản lý thu, chi ngân sách; tập trung
được nhiều nguồn lực cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chỉnh
trang đô thị, cải thiện môi trường để thu hút đầu tư; tạo điều kiện cho các
quận, huyện trong thành phố tích cực khai thác nguồn thu, chủ động thực
hiện các nhiệm vụ chi.
2.2 Thực trạng công tác lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách địa
phương
2.2.1. Những cơ sở pháp lý về lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách địa
phương
2.2.1.1 Những cơ sở pháp lý do trung ương ban hành
Ngoài những cơ sở pháp lý chính như: Chỉ thị của Thủ tướng,
Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính, định mức phân bổ ngân sách
của Chính phủ, quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước…