Tải bản đầy đủ
PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY KẾT QUẢ

PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY KẾT QUẢ

Tải bản đầy đủ

17
2
3
4

Công ty giống cây
trồng Miền Nam

0,0281074406

0,2221521810

Công ty cổ phần
Hàng Hải Hà Nội
Công ty cổ phần Hóa
An

0,0646969109

0,0995797782

0,1211999723

0,2089945454

Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty niêm yết năm 2004 đều
có biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh qua các năm đều lớn hơn
(>) 0, điều này chứng tỏ các công ty này đều có điều chỉnh tăng lợi
nhuận trong 2 năm đầu sau niêm yết
3.1.2. Đối với các công ty niêm yết năm 2005
Biến kế toán dồn tích2005

=

LNST2005 -

Biến kế toán dồn tích2006

=

LNST2006 -

Biến kế toán dồn tích2007

=

LNST2007 -

Biến kế toán
dồn tích có
thể điều

dồn tích có
thể điều

HĐKD2005
Dòng tiền thuần từ
HĐKD2006
Dòng tiền thuần từ
HĐKD2007

Biến kế toán dồn
=

chỉnh2006
Biến kế toán

Dòng tiền thuần từ

=

tích2006

Biến kế toán dồn
-

tích2005

Doanh thu2006

Doanh thu2005

Biến kế toán dồn

Biến kế toán dồn

tích2007

-

tích2006

18
chỉnh2007

Doanh thu2007

Doanh thu2006

BẢNG 3.3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BIẾN KẾ TOÁN DỒN TÍCH
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT NĂM 2005
S
T

Tên công ty

T
1
2
3
4
5

Công ty cổ phần vận tải
Hà Tiên
Công ty cổ phần Sữa
Việt Nam
Công ty cổ phần Kinh
Đô
Công ty cổ phần dây và
cáp điện Taya
Công ty cổ phần văn hóa
Phương Nam

Biến kế toán

Biến kế toán

dồn tích

dồn tích

có thể điều

có thể điều

chỉnh 2006

chỉnh 2007

0,1088127717

0,0043731109

0,0121317174

0.0898774418

0,4354987828

0,2294910663

0, 0085661388

0,1107788251

0,0548985729

0,0923653464

Từ kết quả phân tích ta thấy các biến kế toán dồn tích có thể điều
chỉnh của các công ty đều >0, chứng tỏ các công ty đều có điều
chỉnh tăng lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp. Tuy nhiên mức độ điều chỉnh là khác nhau giữa các công ty.

19

3.1.3. Đối với các công ty niêm yết năm 2006
Biến kế toán dồn tích2006

=

LNST2006 -

Biến kế toán dồn tích2007

=

LNST2007 -

Biến kế toán dồn tích2008

=

LNST2008 -

Biến kế toán
dồn tích có
thể điều

Dòng tiền thuần từ
HĐKD2006
Dòng tiền thuần từ
HĐKD2007
Dòng tiền thuần từ

Biến kế toán dồn
tích2006

=

HĐKD2008
Biến kế toán dồn
tích2005

-

chỉnh2006

Doanh thu2006

Doanh thu2005

Biến kế toán

Biến kế toán dồn

Biến kế toán dồn

dồn tích có
thể điều

tích2007

=

chỉnh2007

-

Doanh thu2007

tích2006
Doanh thu2006

BẢNG 3.5
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BIẾN KẾ TOÁN DỒN TÍCH
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT NĂM 2006
Biến kế toán

S
T

Tên công ty

T
1
2

dồn tích có
thể điều
chỉnh 2007

Công ty cổ phần Bao bì
dầu thực vật
Công ty cổ phần điện tử

Biến kế toán
dồn tích có thể
điều chỉnh 2008

0,1652435629

0,1107936377

0,0121317174

-0.0742132024

20
Tân Bình
3
4
5
6
7

Công ty cổ phần thép Việt
Ý
Công ty cổ phần cao su
Hòa Bình
Công ty cổ phần cao su Đa
Nẵng
Công ty cổ phần đường
Biên Hòa
Công ty cổ phần thủy sản
Bến Tre

0,0748797946

0,0814638266

0,0320373229

0,3189028073

1.3333041149

-0.6054862033

0,1307088782

0,0685882912

0,0064792414

0,0353266805

8

Công ty cổ phần FPT

0,0363727430

0,3577463648

9

Công ty cổ phần Cát Lợi

0,0085542271

0,0013206049

0,1283540864

0,3448655701

0,1506575328

0,0093218910

0,1187415160

0,0556682761

0,0391904011

0,0003255873

0,0227596771

0,1718041866

0,0039721803

0,1235700018

0,1787802657

-0,0090847848

10
11
12
13
14
15
16

Công ty CP thực phẩm
Quốc Tế
Công

ty

cổ

phần

Imexpharm
Công ty CP nước giải khát
Chương Dương
Công ty CP thương mại
SMC
Công ty CP Phát triển nhà
Thủ Đức
Công ty CP Pin Ắc quy
Miền Nam
Công ty CP dịch vụ ôtô
Hàng Xanh

21

Kết quả tính toán cho thấy trong 16 công ty niêm yết lần đầu
năm 2006 được lựa chọn thì tất cả đều có biến kế toán dồn tích năm
2007 >0, điều đó có nghĩa là trong năm này tất cả các công ty đều
điều chỉnh tăng lợi nhuận. Nhưng năm 2008 các biến kế toán của 13
công ty >0, nghĩa là 13 công ty này có điều chỉnh tăng lợi nhuận
trong năm, còn lại 3 công ty có biến kế toán dồn tích có thể điều
chỉnh có giá trị <0, tức là 3 công ty này có điều chỉnh giảm lợi
nhuận. Vậy trong 16 công ty được lựa chọn để nghiên cứu thì có 13
công ty thỏa mãn giả thuyết H1, còn lại 3 công ty không thỏa mãn
giả thuyết H1. Đồng thời kết quả biến kế toán dồn tích của các công
ty khác nhau, tức là các công ty thỏa mãn giả thuyết H2
3.2. Một số ý kiến nhận xét
Đối với các công ty cổ phần niêm yết tại sở giao dịch chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2004, dựa vào kết quả kiểm
nghiệm 4 công ty được lựa chọn ngẫu nhiên (bảng 3.1) ta thấy Biến
kế toán dồn tích có thể điều chỉnh2005 và Biến kế toán dồn tích có thể
điều chỉnh2006 đều cho kết quả >0 chứng tỏ cả 4 công ty đều có điều
chỉnh tăng lợi nhuận trong 2 năm đầu sau niêm yết. Vậy chấp nhận
giả thuyết H1: Các công ty niêm yết có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận
trong 2 năm đầu niêm yết để tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đối với các công ty cổ phần niêm yết tại sở giao dịch chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2005, dựa vào kết quả kiểm
nghiệm 5 công ty được lựa chọn ngẫu nhiên (bảng 3.3) ta thấy Biến
kế toán dồn tích có thể điều chỉnh2006 và Biến kế toán dồn tích có thể
điều chỉnh2007 đều cho kết quả >0 chứng tỏ cả 5 công ty đều có điều
chỉnh tăng lợi nhuận trong 2 năm đầu sau niêm yết. Vậy chấp nhận

22

giả thuyết H1: Các công ty niêm yết có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận
trong 2 năm đầu niêm yết để tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đối với các công ty cổ phần niêm yết tại sở giao dịch chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2006, dựa vào kết quả kiểm
nghiệm 16 công ty được lựa chọn ngẫu nhiên (bảng 3.5) trong đó
Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh 2007 của các công ty đều > 0 và
Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh 2008 của 13 công ty cho kết quả
>0.Vậy chấp nhận giả thuyết H 1: Các công ty niêm yết có thể điều
chỉnh tăng lợi nhuận trong 2 năm đầu niêm yết để tiết kiệm thuế thu
nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong đó có Biến kế toán dồn tích có
thể điều chỉnh2008 của 3 công ty có kết quả < 0. Như vậy giả thuyết
H1: Các công ty niêm yết có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận trong 2
năm đầu niêm yết để tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp không
được chấp nhận đối các công ty này.
Cũng dựa vào kết quả kiểm nghiệm ta thấy rằng mức độ điều
chỉnh lợi nhuận của các công ty khác nhau. Như vậy giả thuyết H 2:
Tùy theo mục tiêu mà mức độ điều chỉnh lợi nhuận của các công ty
niêm yết là khác nhau.
3.3. Kết luận
Qua phân tích và đánh giá hành động quản trị lợi nhuận của các
công ty niêm yết xin đưa ra một số ý kiến như sau:
- Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh cần tổ chức
kiểm tra, giám sát đảm bảo thông tin được thông báo kịp thời theo
đúng quy định của pháp luật.
- Các thông tin trong báo cáo tài chính trước khi công bố phải
được kiểm toán.

23

- Khuyến cáo để các công ty niêm yết thực hiện tốt công tác
quản trị, điều hành công ty và xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ
đảm bảo các minh bạch từ trong doanh nghiệp
- Học tập kinh nghiệm xây dựng thị trường chứng khoán ở các
nước có thị trường chứng khoán phát triển.
- Kiến thức về chứng khoán nói riêng và kiến thức kinh tế nói
chung của các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán.
- Tăng cường sự hỗ trợ của các cơ quan kiểm tra, kiểm soát,
quản lý như hiệp hội kiểm toán, kế toán, hiệp hội chứng khoán,…
- Các thông tin công bố trong báo cáo tài chính cần được trình
bày chi tiết trong thuyết minh báo cáo tài chính.

24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Kết quả nghiên cứu dựa vào mô hình The Friedlan cho thấy có
25 công ty được lựa chọn để nghiên cứu thì tất cả các công ty đều có
điều chỉnh lợi nhuận. Trong đó có 22 công ty điều chỉnh tăng lợi
nhuận trong 2 năm đầu niêm yết tức là 22 công ty này thỏa mãn giả
thuyết H1. Còn 3 công ty có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu
nhưng lại điều chỉnh giảm lợi nhuận của năm sau đó như vậy 3 công
ty này không thỏa mãn giả thuyết H1, nguyên nhân có thể do các
công ty này đã điều chỉnh tăng lợi nhuận của năm trước năm niêm
yết để tạo ra một báo có đẹp để thu hút nhà đầu tư.
Và kết quả kiểm nghiệm cũng cho thấy mức độ điều chỉnh lợi
nhuận của các công ty là không giống nhau được thể hiện thông qua
biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh của các năm. Mục tiêu của
các doanh nghiệp là không giống nhau và trong một doanh nghiệp
cũng không giống nhau qua các thời kỳ. Mục tiêu ở đay có thể điều
chỉnh lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp,
cũng có thể doanh nghiệp điều chỉnh lợi nhuận để tránh bị áp đặt các
chính sách bất lợi, hoặc cũng có thể do chế độ lương thưởng,…. Vậy
giả thuyết H2 cũng được thỏa mãn.

25
KẾT LUẬN
Mặt dù không thể so sánh với thị trường chứng khoán các nước
phát triển nhưng những thành quả mà thị trường chứng khoán Việt
Nam đạt được là đáng khích lệ. Bên cạnh mặt tích cực còn nhiều mặt
hạn chế, trong đó có việc cung cấp các thông tin trên báo cáo tài
chính chưa phản ánh trung thực thực trạng của doanh nghiệp.
Nguyên nhân là do mục tiêu khác nhau nên các nhà quản trị lợi
nhuận có điều chỉnh lợi nhuận làm cho các chỉ tiêu trên báo cáo tài
chính thiếu trung thực. Luận văn sử dụng dựa vào các mô hình đã có
sẵn để xem xét có hay không việc điều chỉnh lợi nhuận của các công
ty niêm yết trong bối cảnh được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và
đưa ra một số ý kiến về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận của các
công ty niêm yết.
Tuy nhiên, do hạn chế về phạm vi nghiên cứu hạn chế nên nguồn
số liệu chưa phong phú, đề tài nghiên cứu một sự việc đã kết thúc
trong quá khứ.

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Thầy
giáo Nguyễn Công Phương cùng sự giúp đỡ của các Thầy – Cô
khoa Kế toán.