Tải bản đầy đủ
Chương 2: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG MÂU THUẪN PHÁT SINH TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ LÝ LUẬN CỦA QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

Chương 2: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG MÂU THUẪN PHÁT SINH TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ LÝ LUẬN CỦA QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

Tải bản đầy đủ

34
“tiến hóa - tự nhiên” từng diễn ra trong lịch sử. Về nguyên tắc, nền kinh tế thị
trường hiện đại không thể ra đời tự phát như các thế kỷ trước. Đây phải là nền
kinh tế thị trường được định hướng cao về mặt xã hội và phát triển theo xu
hướng xã hội hóa - xã hội chủ nghĩa. Hơn nữa nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa còn đặc trưng bởi “thuộc tính kép” hay “quá độ bậc
hai”, kết hợp đồng thời giữa bước quá độ sang nền kinh tế thị trường mà nhân
loại đã đạt được với bước quá độ toàn nhân loại sang xã hội hậu công nghiệp,
hậu thị trường và nền kinh tế tri thức theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đây cũng là nền kinh tế thị trường kiểu mới, có tổ chức, có kế hoạch đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Nó hoạt động trên cơ sở kết hợp giữa sự nhận thức tính tất yếu khách
quan với việc phát huy vai trò năng động sáng tạo của chủ thể nhằm phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa và phát triển rút ngắn, đưa
nước ta vào hội nhập nền kinh tế thế giới và trở thành quốc gia phát triển
trong thế kỷ XXI.
2.1.2. Chuyển sang nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan
trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nước
Sự ra đời của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam gắn liền với công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề lý luận và thực tiễn
hết sức mới mẻ và phức tạp. Nó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa việc nhận
thức sâu sắc tính quy luật khách quan với việc phát huy tính chủ động, sáng
tạo của chủ thể là Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân lao động
trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây là sự lựa chọn con đường và mô
hình phát triển của Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế đáp ứng yêu
cầu “đi tắt, đón đầu” đang đặt ra như một yếu tố sống còn. Sự hình thành tư
duy, về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta là cả

35
một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, phát triển từ thấp đến cao, từ chưa đầy đủ
đến đầy đủ, hoàn thiện và sâu sắc.
Nếu như trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) và
Hội nghị Trung ương 6 khóa VI Đảng ta mới đề ra và quan tâm đến phát triển
nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã
hội, coi đây là vấn đề “có ý nghĩa chiến lược và mang tính quy luật từ sản
xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội”, thì đến Đại hội VII, Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991) của
Đảng đã xác định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước”. Tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), kinh tế thị
trường lại được khẳng định một cách sâu sắc, đầy đủ hơn như là mô hình kinh
tế tổng quát hay là mô hình mới của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam xuất phát từ
những cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc, bắt nguồn từ bối cảnh thời đại và
điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước. Như vậy, tính tất yếu của việc lựa chọn
mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được quy
định bởi những đặc điểm sau:
Thứ nhất, mô hình chủ nghĩa xã hội cổ điển, đặc trưng bởi hệ thống kinh
tế kế hoạch hóa tập trung. Sau gần 70 năm tồn tại với tất cả những ưu thế và
nhược điểm, rốt cuộc mô hình này đã tỏ ra không còn sức sống và khả năng tự
phát triển nội sinh về mặt kinh tế, bị va vấp nặng nề trong thực tiễn. Trong khi
đó chủ nghĩa tư bản với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận đã lợi dụng tối đa những
mặt mạnh kinh tế thị trường để tạo ra động cơ về lợi ích và sự cạnh tranh
mạnh mẽ, phát triển các lực lượng sản xuất cũng như tiềm năng kinh doanh.
Chủ nghĩa tư bản đã sử dụng vai trò Nhà nước như một chủ thể sáng tạo và
hùng mạnh để can thiệp và quản lý các quá trình kinh tế vĩ mô, nhằm hạn chế
những khuyết tật của thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển, xã hội hóa các
lực lượng sản xuất.

36
Thứ hai, mặc dù chủ nghĩa tư bản đã có những thành công nhất định
trong phát triển nền kinh tế thị trường, nhưng cần nhận thức sâu sắc rằng, phát
triển kinh tế thị trường theo con đường tư bản chủ nghĩa không phải là duy
nhất đúng mà trong đó còn chứa đựng nhiều cạm bẫy, rủi ro. Thực tế phát
triển ngày càng cho thấy rõ mặt trái cũng như nguy cơ thất bại ngay chính
trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường. Ngày nay, nhân loại đã nhận
thức được rằng, mô hình phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây
hay đi theo con đường phương Tây hóa không phải là cách tối ưu. Những
mô hình phát triển theo kiểu này đã tỏ ra mâu thuẫn sâu sắc với các giá trị
truyền thống, làm tăng tính bất ổn của xã hội, và khoét sâu hố ngăn cách
giàu - nghèo. Hơn nữa, nó còn có nguy cơ đối với các nước chậm phát triển,
đẩy các nước này vào tình trạng lệ thuộc và bị bóc lột theo kiểu quan hệ
“trung tâm - ngoại vi”.
Thứ ba, trong thực tế không có một mô hình kinh tế thị trường chung
cho mọi quốc gia, mà trái lại, mỗi quốc gia - dân tộc, tùy theo trình độ phát
triển, đặc điểm cơ cấu tổ chức và thể chế chính trị, kể cả yếu tố văn hóa – xã
hội truyền thống mà xây dựng những mô hình kinh tế thị trường đặc thù riêng
cho mình. Không thể phủ nhận những mâu thuẫn và hạn chế cố hữu của kinh
tế thị trường tư bản chủ nghĩa ngay tại quê hương của nó và việc khắc phục
những mâu thuẫn đó đang là vấn đề nan giải. Một số nước Tây Âu và Bắc Âu
với mong muốn tìm ra con đường cho riêng mình, nhằm khắc phục hạn chế
của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã chủ trương đi theo “con đường thứ
ba” hay nhấn mạnh “Nhà nước phúc lợi”; Nhà nước tư bản chủ nghĩa ở đây
được gắn thêm chức năng “sáng tạo” khi tham gia giải quyết các vấn đề xã
hội và phân phối lại thu nhập mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra
cái gọi là nền “kinh tế cho mọi người” hay “chủ nghĩa tư bản nhân dân”.
Nhưng trong phạm vi của quan hệ chủ nghĩa tư bản thì những nỗ lực trên rõ
ràng không mang lại kết quả như mong muốn.

37
Thứ tư, nền kinh tế hiện đại ngày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và
tiến hóa tất yếu để chuyển sang giai đoạn mới cao hơn - hậu thị trường, hậu
công nghiệp và kinh tế tri thức. Trong điều kiện hiện đại, con đường phát triển
rút ngắn như C.Mác đã từng dự báo trở thành một khả năng hiện thực xét cả
hai phương diện: tính tất yếu kinh tế - xã hội và tính tất yếu công nghệ - kỹ
thuật. Nếu như nền văn minh công nghiệp ra đời trên cơ sở phủ định nền văn
minh nông nghiệp, thì trái lại, nền văn minh hậu công nghiệp - kết quả của
làn sóng cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba lại có thể hàm chứa và
gần gũi với nền văn minh nông nghiệp. Thực tế cho thấy rằng, công nghệ
cao có thể áp dụng trong hoàn cảnh nông nghiệp và tương ứng, một nền
nông nghiệp truyền thống có thể đi tắt sang hậu công nghiệp mà không bắt
buộc phải trải qua tất các giai đoạn của quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ
nghĩa nặng nề, tốn kém.
Thứ năm, xét về mặt lịch sử thì quan hệ hàng hóa - thị trường chỉ là hình
thái đặc biệt, là nấc thang trung gian cần thiết để chuyển xã hội từ trình độ xã
hội nông nghiệp, phi thị trường lên xã hội hậu công nghiệp, hậu thị trường.
Nếu xét kỹ, ngay ở giai đoạn phát triển phồn thịnh, sung mãn của các quan hệ
thị trường thì sự xuất hiện của chúng cũng không có nghĩa là đồng nhất với
chủ nghĩa tư bản. Chính sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ra đời trên cơ sở
tách rời các yếu tố người và vật của sản xuất, các yếu tố này vốn không gắn
bó hữu cơ trong sở hữu tư nhân của kinh tế hàng hóa giản đơn.
Thứ sáu, lựa chọn mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam là một tất yếu nếu đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa; thế giới
đang bước vào giai đoạn quá độ sang trình độ xã hội hậu công nghiệp, hậu thị
trường và kinh tế tri thức; yêu cầu phát triển rút ngắn và hội nhập. Đây không
phải là sự gán ghép khiên cưỡng, chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ
nghĩa xã hội, mà là trên cơ sở nhận thức sâu sắc tính quy luật của thời đại, sự
khái quát hóa, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế giới và

38
đặc biệt, từ tổng kết thực tiễn mấy chục năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và
gần ba thập kỷ đổi mới ở Việt Nam.
Kinh tế thị trường như là một chế độ kinh tế hay phương thức sản xuất
có tính lịch sử, là thành quả của văn minh nhân loại, nó có thể được sử dụng
để phục vụ cho sự phát triển, thịnh vượng chung của mọi quốc gia, dân tộc mà
không phải là tài sản riêng của chủ nghĩa tư bản, chỉ phục vụ riêng cho chủ
nghĩa tư bản. Thoát khỏi giới hạn chỉ làm giàu cho tư bản, kinh tế thị trường
sẽ có những mục tiêu, và động lực xã hội mới, phù hợp với những đặc tính xã
hội hóa vốn có, để trở thành công cụ phát triển kinh tế, phục vụ đắc lực cho
việc tạo ra của cải và mang lại sự giàu có chung cho toàn xã hội.
Việc Việt Nam lựa chọn con đường phát triển kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn phù hợp với xu hướng phát triển
khách quan của thời đại, vừa là sự tiếp thu các giá trị truyền thống của đất
nước và những yếu tố tích cực trong giai đoạn phát triển đã qua của chủ nghĩa
xã hội kiểu cũ. Đây cũng là sự trùng hợp giữa quy luật khách quan với mong
muốn chủ quan, giữa tính tất yếu thời đại với logic tiến hóa nội sinh của dân
tộc, khi chúng ta chủ trương sử dụng hình thái kinh tế thị trường để thực hiện
mục tiêu phát triển, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nó cũng là con
đường để thực hiện chiến lược phát triển rút ngắn, để thu hẹp khoảng cách tụt
hậu và nhanh chóng hội nhập và phát triển.
2.1.3. Định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Chúng ta đang phấn đấu xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa đạt trình độ kinh tế thị trường phát triển với đặc trưng:
- Hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ: Thị trường hàng hóa và
dịch vụ; thị trường công nghệ, các dịch vụ thông tin, tư vấn, tiếp thị, pháp lý,
tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, bảo lãnh, thị trường sức lao động;
thị trường lao động, thị trường khoa học, kĩ thuật, công nghệ, thị trường bất
động sản, thị trường vốn, thị trường chứng khoán...Tất cả các loại thị trường

39
đó liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể hữu cơ. Hệ thống này
trở thành đầu mối mọi tác động qua lại của hoạt động kinh tế- xã hội.
- Mỗi thực thể kinh tế có lợi ích riêng (bao gồm xí nghiệp, tập đoàn xã
hội và cá nhân) và là chủ thể của thị trường, tham gia hoạt động của thị
trường và cạnh tranh với nhau.
- Việc vận hành kinh tế - xã hội được thực hiện trong sự kết hợp giữa
đường lối chủ trương, chính sách, kế hoạch...Với việc sử dụng các loại tín
hiệu kinh tế mà thị trường cung cấp, việc lưu thông tài nguyên được điều tiết
bởi thông tin thị trường và kế hoạch cân đối sản xuất.
- Dựa trên quy luật thị trường thống nhất mà hình thành một trật tự thị
trường, sản xuất xã hội lưu thông, phân phối và tiêu dùng với sự liên hệ và điều
tiết của đầu mối thị trường, hình thành mạng lưới sản xuất xã hội có trật tự.
- Dựa vào đường lối, hiến pháp, pháp luật và quy luật vận hành của
kinh tế thị trường, chính phủ thực hiện việc điều chỉnh và khống chế vĩ mô
cần thiết, hữu hiệu; vận hành chính sách kinh tế, pháp luật kinh tế, chỉ đạo kế
hoạch và phương pháp hành chính cần thiết để hướng dẫn sự phát triển của
kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội,
không vì thế mà “kinh tế thị trường” là tất cả, thực tế đổi mới gần 30 năm qua
cho thấy, bên cạnh tác động tích cực là cơ bản, những tác động tiêu cực do
mặt trái của kinh tế thị trường gây ra cũng hết sức nghiêm trọng, đặc biệt trên
phương diện tư tưởng, đạo đức, lối sống. Không xem trọng cuộc đấu tranh
nhằm hạn chế; khắc phục những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường,
không làm rõ giới hạn cần có của lĩnh vực có thể “thị trường hóa” cũng là
chệch hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ nội dung giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh
tế và nội dung khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay, có thể suy ra đặc điểm của nền kinh tế thị trường ở nước ta

40
là: mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật; nền kinh tế thị
trường lấy các thành phần kinh tế dựa trên sở hữu xã hội và sở hữu tập thể
làm nền tảng, lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo; lấy việc thực hiện mục tiêu
dân giàu nước mạnh xã hội công bằng và văn minh làm mục tiêu. Muốn vậy,
nền kinh tế thị trường phải đảm bảo:
- Có tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, ổn định;
- Giải quyết vấn đề công bằng xã hội phù hợp từng bước với sự tăng
trưởng kinh tế;
- Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dưới sự quản lý của một nhà
nước thực sự của dân;
- Lấy việc giải phóng sức sản xuất làm căn cứ chủ yếu để hoạch định cơ
cấu thành phần kinh tế, hình thức sở hữu;
- Làm cho kinh tế nhà nước phát triển trước hết là về chất để đóng vai trò
chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế hợp tác dần dần trở thành
nền tảng;
- Xác lập, củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trong
nền kinh tế thị trường, thực hiện công bằng xã hội ngày càng tốt hơn.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, điều chủ yếu
là tạo điều kiện công bằng trong sự phát triển con người; vừa không
bình quân, vừa phải chú trọng đến tầng lớp tổn thương, những vùng
khó khăn;
- Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế làm chủ yếu.
Hơn nữa nền kinh tế đó phải góp phần phát huy mọi tiềm năng, mọi sức
lực xã hội; tạo điều kiện cho mỗi cá nhân làm giàu cho mình và cho xã hội;
chấp hành mọi pháp luật, kinh doanh có văn hóa; cạnh tranh và hợp tác một
cách văn minh...
Qua nội dung trên cho thấy, tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự
phát triển kinh tế ở nước ta liên quan tới cả kiến trúc thượng tầng lẫn cơ sở hạ
tầng, liên quan tới cả quan hệ sản xuất lẫn lực lượng sản xuất...

41
Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển
kinh tế thị trường ở nước ta, một số ý kiến cho rằng phải lấy kinh tế nhà nước
làm yếu tố chủ đạo trong sự phát triển của kinh tế thị trường; bằng hệ thống pháp
luật, chính sách, hệ thống động lực kích thích mà nhà nước thực hiện vai trò chủ
đạo đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên trong giai đoạn
hiện nay, mọi nhà nước đều tham gia quản lý kinh tế, định hướng phát triển kinh
tế, cho nên nói vai trò chủ đạo của nhà nước là xóa nhòa ranh giới giữa kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Thiết nghĩ, phải tìm yếu tố chủ đạo trong sự phát triển chung của nền
kinh tế (có vai trò dẫn dắt sự phát triển của các thành phần kinh tế, định
hướng sự phát triển của chúng...) ngay trên lĩnh vực kinh tế. Bởi vì, trong khi
không phủ nhận vai trò tác động mạnh mẽ của nhà nước tới kinh tế, nhưng
suy cho cùng sức mạnh nhà nước cũng do sức mạnh của kinh tế quyết định.
Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, bộ phận chủ đạo đó là kinh tế nhà nước.
Vấn đề căn bản nhất, chủ chốt nhất và khó khăn nhất là làm sao kinh tế nhà
nước vươn lên nắm được vai trò chủ đạo? Điều đó được đặt ra trong khi kinh
tế nhà nước hiện nay vẫn còn yếu kém ngay cả trên những phương diện chủ
yếu nhất của nó: năng suất, chất lượng, hiệu quả. Để góp phần khắc phục tình
hình đó, kinh tế nhà nước phải làm sao kết hợp được trong bản thân mình cái
mạnh của tập thể, của cộng đồng và cái mạnh của cá nhân xét cả với tư cách
động lực lợi ích kinh tế, với cả tư cách thực thể - con người kinh tế. Then chốt
của vấn đề này là tìm một cơ chế thích hợp với nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và có một đội ngũ cán bộ có đủ đức đủ tài.
Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được hiểu là: Làm đòn bẩy nhanh
tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hướng dẫn,
hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để
nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế
độ xã hội mới.

42
2.1.4. Thực trạng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay
Nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay đang ở giai đoạn chuyển tiếp
từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị
trường. Thực chất của bước chuyển ấy trước hết là ở sự đổi mới các quan hệ
sở hữu. Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu tương
đối đồng nhất với hai hình thức nhà nước và tập thể, hiện nay cùng với hình
thức chủ đạo là sở hữu Nhà nước nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hình
thức sỡ hữu khác. Những hình thức đó trong thực tiễn vận hành của nền kinh
tế không hẳn đã đồng bộ với nhau, song về tổng thể, chúng là những bộ phận
khách quan của nền kinh tế có khả năng đáp ứng đầy đủ và năng động của
nền kinh tế thị trường. Điều đó có ý nghĩa đối với việc xác định đặc điểm của
nền kinh tế trong thời kỳ qúa độ ở nước ta có lẽ vẫn là sự thừa nhận xu hướng
trong sự vận động của nó. Tiếp tục đổi mới và hoạt động có hiệu quả kinh tế
nhà nước thực sự trong toàn bộ nền kinh tế để trên cơ sở đó, giải quyết các
vấn đề xã hội ở tầng vĩ mô sao cho tăng trưởng kinh tế không trở nên mâu
thuẫn gay gắt với trật tự bình thường của xã hội.
Đảng ta không coi cơ chế thị trường là liều thuốc vạn năng và vì vậy
không khuyến khích phát triển nó về mọi mặt. Bởi lẽ việc tuyệt đối hóa vai trò
của nền kinh tế thị trường sẽ rơi vào một sai lầm nguy hiểm từ phía khác.
Kinh tế thị trường tuy có điểm mạnh nhưng bản thân nó vốn có những giới
hạn, những khuyết tật, hơn thế nữa quan hệ thị trường còn là môi trường
thuận lợi để phát sinh những tiêu cực và tệ nạn xã hội. Thực tiễn gần 30 năm
tiến hành công cuộc đổi mới vừa qua cho thấy, bên cạnh những tác động tích
cực là cơ bản, những tác động tiêu cực do mặt trái của nền kinh tế thị trường
gây ra cũng hết sức nghiêm trọng, đặc biệt trên phương diện tư tưởng, đạo
đức, lối sống, do cách làm ăn thuần túy chạy theo lợi nhuận đã dẫn đến các
hình thức lừa đảo, hối lộ, trốn thuế, nợ nần khó trả do thương mại hóa một

43
cách tràn lan…đã làm cho giá trị đạo đức, tinh thần bị xuống cấp, đồng thời
chi phối quan hệ giữa người với người; sự phân hóa giàu nghèo và bất công
xã hội có chiều hướng tăng lên, lối sống ích kỷ, thực dụng có nguy cơ ngày
càng tăng. Bởi vậy, Đảng ta chỉ rõ: vận dụng các hình thức và phương pháp
quản lý nền kinh tế thị trường là để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ mục
đích xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Cũng phải thừa nhận rằng, các vấn đề nói trên dù ít hay nhiều cũng là
các vấn đề của bản thân cơ chế quản lý. Trong nền kinh tế hiện nay của nước
ta, cơ chế quản lý đang là giai đoạn hình thành nên thường là không đồng bộ và
thiếu hụt. Chúng ta chưa thực sự tạo ra môi trường an toàn và ổn định cho sản
xuất và kinh doanh. Cơ sở pháp lý của các hoạt động kinh tế còn nhiều bất cập,
các hoạt động tài chính, ngân hàng, phân cấp quản lý…còn nhiều bất hợp lý.
Cơ chế vận hành của nền kinh tế nước ta đang trong quá trình tiến tới
một cơ chế thị trường đích thực, văn minh, nhưng hiện tại vẫn còn mang dấu
ấn của cơ chế cũ. Cơ chế quản lý kinh tế mới bước đầu đã hình thành nhưng
chưa đồng bộ, đang ở giai đoạn sơ khai, mang nhiều yếu tố tự phát, đặc biệt
vẫn còn mang dấu ấn của cơ chế kinh tế cũ, đặc biệt vẫn còn yếu kém về cả
chính sách lẫn pháp lý hướng dẫn nền kinh tế, công tác tài chính, ngân hàng,
giá cả, xây dựng…đã đổi mới nhưng chưa theo kịp đòi hỏi trong thực tiễn.
Khác với cơ chế hành chính quan liêu bao cấp, cơ chế thị trường với
quy luật khách quan vốn có của nó, từng biểu hiện ra như một cơ chế tự phát
hơn, tự nhiên hơn và nằm xa sự chi phối của con người hơn. Bởi vậy, việc
nắm các yếu tố tự phát, tự giác của nền kinh tế, hiểu được phương thức và tìm
ra được phương pháp kiểm soát thích hợp là điều hết sức có ý nghĩa. Hiện
nay, chúng ta đã thực sự làm chủ được những động tác tự giác, cũng như
những động tác tự phát của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, bên cạnh đó
cũng có quá nhiều hiện tượng và quá trình mà chúng ta còn buông lỏng sự
kiểm soát hoặc chưa thực sự có khả năng kiểm soát sự vận động của chúng.
Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước việc chúng ta bắt đầu

44
sử dụng thị trường như là một công cụ, một phương thức để đảm bảo tăng
trưởng kinh tế, trên thực tế đã đem lại những kết quả tích cực về cả phương
diện thực tiễn lẫn phương diện nhận thức.
Trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, để tạo nên sức sống cho
nền kinh tế của mình, trong điều kiện thế giới đang bị cuốn vào xu thế toàn
cầu hóa lắm thuận lợi và nhiều khó khăn, Việt Nam ta đang áp dụng cơ chế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta áp dụng cơ chế kinh tế thị
trường với mục đích tận dụng ưu thế truyền thống của hình thái kinh tế này là
huy động mọi nguồn lực xã hội, phát huy mọi năng lực sản xuất để xây dựng
cơ sở căn bản bền chắc cho nền kinh tế nước nhà. Phát triển nền kinh tế thị
trường, chúng ta mới có khả năng tạo cho đất nước một sức mạnh vật chất
xứng đáng và điều kiện cải tạo một cách căn bản mức sống của nhân dân và vị
thế của quốc gia trong bản xếp hạng phát triển của thế giới, nhằm thực hiện
mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thực tiễn gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới cho chúng ta thấy,
sản xuất hàng hóa cùng với nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, là cơ hội để cộng đồng mở
cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị trường rõ ràng là xu thế phát triển
khách quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Như vậy, cơ chế thị trường ở nước ta tuy đã hình thành, nhưng còn ở
giai đoạn sơ khai, còn mang nhiều yếu tố tự phát. Cơ chế, chính sách kinh tế
chậm đổi mới, cải cách hành chính còn chậm chạp đang là trở ngại cho đổi
mới và phát triển kinh tế. Tại hội thảo Khoa học về kinh tế thị trường, Hội
đồng lý luận Trung ương nhấn mạnh rằng: chúng ta đã chuyển một bước quan
trọng sang kinh tế thị trường, nhưng chưa kết thúc bước chuyển đó. Do vậy,
còn đan xen những yếu tố của nền kinh tế chuyển đổi. Những yếu tố của nền
kinh tế thị trường văn minh còn ít hơn là những yếu tố sơ khai.