Tải bản đầy đủ
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN

Tải bản đầy đủ

7
thịnh thì dương suy, bĩ cực thái lai, như vậy là khai thác khía cạnh thời gian
của việc phát sinh và giải quyết mâu thuẫn chứ không nhìn vào khía cạnh biến
đổi của chủ thể khi giải quyết mâu thuẫn.
Mâu thuẫn là phạm trù của phép biện chứng, biểu hiện nguồn gốc bên
trong của mọi sự vận động, gốc rễ của sự sống, nguyên lý của sự phát triển.
Mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong cả tự nhiên lẫn trong xã hội và tư
duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện
thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức, của tư duy trên con đường
vươn tới chân lý khách quan, chân lý tuyệt đối về hiện thực.
Cần phân biệt mâu thuẫn biện chứng được phản ánh vào trong tư duy,
trong các khái niệm, lý luận với cái gọi là những mâu thuẫn logic biểu hiện sự
mơ hồ tính chất không triệt để của tư tưởng.
Những mâu thuẫn logic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, nó xuất hiện
do sai lầm trong tư duy. Mâu thuẫn logic hình thức là mâu thuẫn được tạo
thành từ hai phán đoán phủ định nhau về cùng một quan hệ cùng một thời
điểm; trong hai phán đoán đối lập đó, chỉ có một là chân lý.
Quy luật mâu thuẫn là sự phản ánh vào tư duy tính xác định về vật chất
của các khách thể, là sự phản ánh cái sự thật giản đơn là nếu không nói đến sự
biến đổi của khách thể, thì nó không thể đồng thời có được những đặc tính bài
trừ lẫn nhau.
Mọi sự vật đều chứa đựng mâu thuẫn bên trong, bởi vì bản chất của mọi
sự vật là động chứ không tĩnh, khi sự vật vận động thì mâu thuẫn phát sinh.
Như vậy, chúng ta nên hiểu rằng mâu thuẫn là đương nhiên tồn tại và là
tốt chứ không phải xấu, vì nó giúp cho sự phát triển.
1.1.2. Quan niệm trước triết học Mác về mâu thuẫn
Có thể nói, sự vận động và phát triển của mọi sự vật hiện tượng bao giờ
cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập quy định tính ổn định và thay đổi của sự vật. Do

8
vậy, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Vấn đề này
sớm được các nhà triết học trước Mác quan tâm nghiên cứu, và có những
phỏng đoán thiên tài về sự tương tác giữa các mặt đối lập, xem nó là nguyên
nhân của sự hình thành, vận động và biến đổi của vũ trụ, vạn vật.
Những nhận định ban đầu của các nhà triết học Trung Quốc cổ đại, tuy
mới dừng lại ở phỏng đoán, cảm tính của các triết gia thuộc trường phái Âm
Dương – Ngũ Hành về bản chất của sự vật, hiện tượng nhưng phần nào đã
biểu lộ thế giới quan duy vật, không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của sự
vật, hiện tượng mà còn khẳng định các sự vật, hiện tượng vận động và phát triển
là do chính sự tác động của các yếu tố đối lập chứa đựng trong bản thân chúng.
Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là một trong chín trường phái triết học
của Trung Quốc thời cổ đại. Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là thuyết thể hiện
quan niệm duy vật chất phác về tự nhiên, và ở đó cũng thể hiện tư tưởng biện
chứng sơ khai về tự nhiên, con người và xã hội của người Trung Quốc thời cổ
đại. Nó giải thích nguồn gốc của quá trình biến hóa của vạn vật. Các triết gia
trong trường phái này cho rằng thế giới các hiện tượng và sự vật vẫn chứa
đựng hai yếu tố vừa đối lập nhau, vừa thống nhất với nhau, vừa bao hàm
tương tác lẫn nhau. Âm - Dương là hai thế lực đối chọi nhau nhưng lại thống
nhất với nhau trong vạn vật, là khởi nguyên của mọi sinh thành biến hóa. Âm
- Dương không phải là hủy thể của nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau,
động lực của mọi vận động, phát triển.
Các triết gia thuộc trường phái này cho rằng, hai mặt đối lập vốn tồn tại
trong tất cả các sự vật, hiện tượng, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất, từ cái đơn
giản đến phức tạp, từ giới tự nhiên đến xã hội, từ thể chất đến tinh thần con
người. Nó vừa biến dịch mà bất dịch, mâu thuẫn và thống nhất, đối lập mà
vẫn hài hòa với nhau. Biểu hiện cụ thể của Âm - Dương là các mặt đối lập
như: mặt trời - mặt trăng; cao - thấp; nóng - lạnh; quân tử - tiểu nhân; cha mẹ; nhanh - chậm.

9
Âm - Dương tuy đối lập, mâu thuẫn, song không tách rời nhau mà xâm
nhập vào nhau, quấn quýt lấy nhau nói lên tính toàn vẹn, tính chỉnh thể, cân
bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất
giữa cái bất biến và biến đổi. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm - Dương đã bao hàm trong mỗi
mặt đối lập của Thái cực.
Lão Tử - người sáng lập ra Đạo gia, một trong những trường phái triết
học lớn của Trung Quốc thời cổ đại, là nhà biện chứng số một của triết học
phương Đông. Ông đã đưa ra nhiều tư tưởng có giá trị về mâu thuẫn. Ông cho
rằng mọi sự sinh thành, biến hóa của vạn vật đều từ “Đạo” mà ra. Đạo không
chỉ là khởi nguyên mà còn là động lực cho sự vận động và biến đổi của muôn
loài, muôn vật trong vũ trụ. Quan niệm về biến động là sự tương tác giữa hai
cực đối lập, đã đưa Lão Tử đến sự khám phá tính đối lập và tính thống nhất
giữa hai cực của mâu thuẫn. Theo Lão Tử, mọi sự vận động, biến đổi đều có
nguồn gốc từ trong bản thân sự vật. Mỗi vật đều là thể thống nhất của hai mặt
đối lập vừa tương hòa, vừa xung khắc, vừa đối lập lại vừa liên hệ, ràng buộc
bao hàm nhau. Tuy nhiên, ông chưa nắm thực chất của sự chuyển hóa, hiểu
chuyển hóa một cách máy móc. Không nhấn mạnh đấu tranh với tư cách là
phương thức giải quyết mâu thuẫn, nhằm thực hiện sự phát triển, trái lại đề
cao tư tưởng điều hòa mâu thuẫn.
Nền triết học Trung Quốc là nền triết học có lịch sử lâu đời. Nhìn chung,
các nhà triết học Trung Quốc cổ đại khi luận giải những vấn đề về tự nhiên và
xã hội đã thừa nhận mâu thuẫn và sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong
các sự vật, hiện tượng. Tuy vậy, do bị hạn chế về thế giới quan và nhân sinh
quan, do địa vị giai cấp của mình nên các triết gia đã không thoát khỏi lập
trường duy tâm trong việc giải thích về sự vận động và biến đổi của lịch sử xã
hội, đã làm mất đi tính duy vật, làm nghèo đi tính biện chứng ban đầu của nó.
Tuy có thừa nhận mâu thuẫn và tính phổ biến của nó song lại chủ trương điều
hòa mâu thuẫn.

10
Các hệ thống triết học Ấn Độ đã thừa nhận thế giới vũ trụ vạn vật luôn
luôn vận động, phát triển và biến đổi không ngừng. Trong triết học Phật giáo,
thế giới tự nhiên và nhân sinh đều được nhìn nhận qua sự phân tích nhân quả.
Nhân quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, một kết
quả của một nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác.
Triết học Phật giáo đã tìm thấy sự đối lập của các mặt trong sự đồng nhất của
chúng, vạch ra được những mâu thuẫn nội tại của chúng như bản thể tuyệt đối
trong thế giới hiện tượng, ý thức và vô thức, niết bàn và vô minh. Họ cho rằng
thế giới vũ trụ không phải là cái gì đó thuần nhất, đơn giản mà là bao trùm
trong đó hai mặt đối lập vừa bất biến vừa biến đổi, vừa đứng im vừa vận
động, vừa trong trạng thái thăng bằng, ổn định, vừa trong trạng thái không cân
bằng, không ổn định. Các trường phái này đều xem xét các yếu tố khởi
nguyên của thế giới là bất biến, tồn tại vĩnh viễn còn các sự vật hiện tượng cụ
thể thì biến đổi, chuyển hóa không ngừng.
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời từ xã hội chiếm hữu nô lệ với những mâu
thuẫn gay gắt giữa tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc. Triết học Hy
Lạp cổ đại là triết học của giai cấp chủ nô, cho nên nó mang tính đảng, tính
giai cấp sâu sắc. Điều này thể hiện ở cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa duy tâm; giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.
Một trong những đặc trưng quan trọng của triết học Hy Lạp cổ đại là
những mối liên hệ của nó với thần thoại và các hình thức sinh hoạt tôn giáo
nguyên thủy. Từ đó phép biện chứng mang tính nhân hình trong truyện thần
thoại, mọi hình thức và dạng cơ bản tư tưởng biện chứng được phác họa rõ
nét trong lịch sử phát triển của phép biện chứng cổ đại. “Theo nghĩa đen, phép
biện chứng là sự nghiên cứu mâu thuẫn trong ngay bản chất của các đối
tượng” [23;429].
Mâu thuẫn được coi là hạt nhân của phép biện chứng và ngay từ đầu đã
được Hêraclit bàn đến. Hêraclit là nhà biện chứng lỗi lạc nổi tiếng ở Hy Lạp

11
cổ đại - người được Lênin coi là nhà sáng lập ra phép biện chứng. Ông không
những nổi tiếng với học thuyết dòng chảy mà còn trở nên bất hủ trong quan
niệm độc đáo về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống
nhất của vũ trụ. Ông cho rằng mọi sự vật đều là sự thống nhất của các mặt đối
lập, mọi cái đồng nhất luôn luôn tồn tại trong sự khác biệt đó, cái hài hòa của
những cái căng thẳng, đối lập: đối lập giữa thiện và ác, giữa trẻ và già, sống
và chết… Ông coi đó là sự “tương phản”, “tương hành” trong vũ trụ. Khi tồn
tại trong một sự vật thì các mặt đối lập luôn có sự ràng buộc với nhau. Hêraclit
khẳng định đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ và đó
là một mặt trong “sự sống” của mọi sự vật đang biến đổi. Ông cũng coi vận
động và đứng im là một sự thống nhất của của các mặt đối lập, giống như đấu
tranh và hài hòa chúng tồn tại thông qua nhau và là điều kiện tồn tại của nhau.
Ông thừa nhận sự thống nhất của vận động và đứng im có tính phổ biến.
Hêraclit thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập nhưng
trong các mối quan hệ khác nhau. Bản thân logos là sự thống nhất của các mặt
đối lập. Vũ trụ là thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra các
cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau. Nhờ các cuộc đấu
tranh đó mà mới có hiện tượng sự vật này chết đi, sự vật khác ra đời. Điều đó
làm cho vũ trụ thường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng. Bản thân
cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập luôn diễn ra trong sự hài hòa nhất định,
dựa trên sự quy định của logos. Như vậy, Hêraclit đã thừa nhận tính phổ biến
của vận động, đồng thời ông đã tìm ra nguyên nhân của sự vận động ngay
trong bản thân sự vật.
Đóng góp của Hêraclit là cách trình bày đầu tiên về quy luật thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập. Hêraclit cho rằng, logos vũ trụ là cái tạo ra
“dòng chảy” liên tục của vạn vật thông qua sự đấu tranh hài hòa của các mặt
đối lập, logos vũ trụ chính là chân lý, là tri thức khách quan về vạn vật trong
quá trình thường xuyên, liên tục “trôi đi, chảy đi theo dòng chảy của chúng”.

12
Tuy Hêraclit đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫn của các sự vật trong logos chủ
quan, song đã gặp trở ngại về vấn đề khả năng phản ánh bản chất mâu thuẫn
của các sự vật, kể cả bản chất mâu thuẫn vận động vào logos của khái niệm.
Đóng góp cho nền triết học Hy Lạp còn phải kể đến Đêmôcrit với
khuynh hướng nguyên tử luận. Trong các công trình của mình tư tưởng của
ông phản ánh về mâu thuẫn, về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập, đó là sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tập hợp và phân tán
trong quá trình vận động của nguyên tử. Ông diễn tả sự vận động của thế giới
vật chất như là một quá trình vĩnh viễn, vô tận từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, vận động là thuộc tính của các nguyên tử, “các nguyên tử bản
chất là bất động, đã vận động được là nhờ va chạm”.
Như vậy, trong quan niệm về mâu thuẫn, triết học Hy Lạp cổ đại chỉ
dừng lại ở giới hạn nêu vấn đề. Nhiều nhà triết học đã nhận thức được sự tồn
tại của các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng. Thừa nhận có mâu thuẫn, có
các mặt đối lập nhưng chỉ là những phỏng đoán thiên tài, chưa được chứng
minh một cách khoa học, cũng như chưa được nghiên cứu một cách tự giác.
Tuy nhiên những quan niệm về mâu thuẫn của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
là mầm mống cho sự phát triển của các quan niệm sau này, đặc biệt là quan
niệm của triết học Mác.
Đỉnh cao của triết học phương Tây là triết học cổ điển Đức, đây được
xem là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng phương Tây,
đồng thời có ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại. Trong triết học cổ điển
Đức, phép biện chứng đã trở thành một lý luận được xây dựng một cách có hệ
thống. Hêghen là đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học cổ điển Đức. Theo
nhận xét của Ănghen: “Hêghen không chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn
là nhà triết học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo
thành thời đại” [22;422]. Cống hiến lớn nhất của Hêghen là phép biện chứng,
mặc dù đó là phép biện chứng duy tâm.

13
Hêghen đã xây dựng lý luận mâu thuẫn và đưa ra cách thức giải quyết
mâu thuẫn. Trong “học thuyết về bản chất” của “khoa học logic”, Hêghen đã
triển khai mâu thuẫn: đồng nhất - khác nhau - đối lập - căn cứ và coi đó là quy
luật bên trong của bản chất. Theo Hêghen, lúc đầu bản chất là sự đồng nhất
giữa những sự quy định khác nhau, rồi sau, trong sự đồng nhất, phát hiện ra
sự khác biệt, khác biệt lại chuyển thành mặt đối lập, và cuối cùng là xuất hiện
mâu thuẫn. Mâu thuẫn bao hàm trong ngẫu nhiên, thể hiện ra ở chỗ cái ngẫu
nhiên có cơ sở lại vừa không có cơ sở, và do đó ngẫu nhiên biểu hiện tính
chất hai mặt của bản thân hiện thực trong sự thống nhất giữa hiện thực với
khả năng và trong sự đối lập của nó với khả năng.
Hêghen nhấn mạnh, bất kỳ sự đồng nhất nào cũng bao hàm sự khác biệt
và mâu thuẫn. Ông coi mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động, là nguyên lý
của phát triển. Ông khẳng định: Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận
động và của tất cả mọi sự sống, chỉ trong chừng mực một vật chứa đựng trong
bản thân nó một mâu thuẫn thì nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt
động, tất cả mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó. Chính sự
không ngừng nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa những quan hệ xã hội là
một trong những động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Đây là một khám phá vĩ
đại của Hêghen về vai trò nền tảng của mâu thuẫn trong sự phát triển của thế
giới khách quan và trong sự nhận thức nó của con người.
Vì là nhà triết học duy tâm nên Hêghen không tránh khỏi những hạn chế
nhất định trong lý luận về mâu thuẫn. Hêghen đã có tư tưởng biện chứng về
mâu thuẫn, dự đoán được mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động, phát triển
của sự vật. Tuy nhiên, mâu thuẫn trong hệ thống triết học của ông không phải
là mâu thuẫn của hiện thực khách quan mà là của tinh thần thế giới, ý niệm
tuyệt đối. Hơn nữa, do bị chi phối bởi quan niệm dân tộc và lợi ích giai cấp
mà ông đại diện nên ông có quan điểm thỏa hiệp khi giải quyết mâu thuẫn. Vì
thế dẫn đến kết cục hệ thống triết học của ông mâu thuẫn với phép biện chứng

14
của ông. C.Mác và Ph.Ănghen đã phê phán một cách triệt để các hạn chế
trong triết học Hêghen, đồng thời hai ông đã tiếp nhận “hạt nhân hợp lý” của
phép biện chứng của Hêghen - học thuyết phát triển thông qua mâu thuẫn để
xây dựng và phát triển học thuyết về phép biện chứng duy vật của mình.
Cantơ là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng
phương Tây trước Mác. Cantơ với học thuyết về mâu thuẫn cũng đã góp phần
quan trọng trong sự phát triển phép biện chứng với tư cách là logic và phương
pháp luận. Ông cho rằng lý tính con người có khát vọng xâm nhập vào lĩnh
vực “vật tự nó” để đạt tới tri thức tuyệt đối vượt ra ngoài giới hạn của kinh
nghiệm cảm tính. Điều đó nảy sinh những mâu thuẫn (antinômia). Cantơ nêu
lên bốn mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn được cấu tạo từ hai luận đề đối lập nhau.
Cantơ có đóng góp cho phép biện chứng là ông xem mâu thuẫn là thuộc về
bản chất, cái tính quy định của tư duy. Việc tìm ra các atinômia - mâu thuẫn
của Cantơ được xem là một thành tựu quan trọng của nhận thức triết học, bởi
vì bằng điều đó vận động biện chứng của tư duy được đề cao. Tuy vậy, Cantơ
cũng đã bộc lộ những hạn chế: ông mới chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư
tưởng, trong lý tính con người, chưa nhìn thấy được mâu thuẫn có trong toàn
bộ đời sống hiện thực khách quan. Cantơ cũng mới dừng lại ở việc phân tích
các mặt đối lập để kết luận đúng sai, chứ chưa đề xuất các giải pháp để giải
quyết mâu thuẫn, và vì thế chưa thấy động lực của việc nảy sinh và giải quyết
mâu thuẫn. Trên thực tế tất cả các sự vật, hiện tượng đều chứa đựng mâu
thuẫn nhưng ở Cantơ - ông đã hạn chế số lượng các Antinômia - mâu thuẫn.
Triết học cổ điển Đức dù chỉ trải qua một giai đoạn lịch sử tương đối
ngắn nhưng nó đã tạo ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết học. Mác
đã kế thừa những tư tưởng biện chứng, nâng lên ở trình độ mới của chủ nghĩa
duy vật hiện đại.

15

1.1.3. Quan niệm về mâu thuẫn trong triết học Mác - Lênin
Triết học Mác - Lênin ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Nó ra
đời do đòi hỏi thực tiễn chính trị - xã hội và là quá trình phát triển hợp quy
luật của triết học và của nhận thức khoa học. Triết học Mác là sự kế thừa tất
cả những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại từ thời cổ đại đến thời
đại các ông, dựa trên những thành tựu mới nhất của khoa học hiện đại, khái
khát thực tiễn thời đại mình, C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển học thuyết
mâu thuẫn biện chứng lên một tầm cao mới.
Các nhà triết học trước Mác tuy đã đề xuất những tư tưởng biện chứng,
song nhìn chung còn mang tính chất siêu hình và duy tâm, đặc biệt là nhà triết
học duy tâm người Đức Hêghen. Hêghen có tư tưởng biện chứng về quy luật
lượng - chất. Tuy nhiên, sự thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất
và ngược lại trong hệ thống triết học của ông chỉ là sự thay đổi thuần túy của
các khái niệm: chất, lượng, độ. Ông cũng có tư tưởng biện chứng về quy luật
phủ định của phủ định. Tuy nhiên phủ định trong triết học của ông là hiện
thân của tinh thần thế giới chứ không phải của hiện thực khách quan. Hêghen
cũng có tư tưởng biện chứng về các phạm trù: riêng - chung; bản chất - hiện
tượng; nguyên nhân - kết quả…. Tuy nhiên, những cặp phạm trù này cũng chỉ
là kết quả tha hóa của tinh thần thế giới.
Mác và Ănghen đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm
của Hêghen sau khi tách “hạt nhân hợp lý” vốn có của nó, vứt bỏ lối giải thích
duy tâm về các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Các ông cũng đã phê phán và
kế thừa sáng tạo tri thức nhân loại để tạo nên sự thống nhất giữa chủ nghĩa
duy vật và phép biện chứng. Khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật
và phương pháp biện chứng trong lịch sử triết học, C.Mác và Ănghen đã tạo

16
nên sự thống nhất hữu cơ không thể tách rời giữa chúng là chủ nghĩa duy vật
biện chứng.
Trong phép biện chứng duy vật, các quy luật cơ bản có quan hệ chặt chẽ
với nhau. Trong đó, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
được xem là hạt nhân của phép biện chứng. Triết học Mác đã quan niệm về
mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc động lực của vận động và phát triển trong
giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
C.Mác và Ph.Ănghen trong khi xây dựng phép biện chứng duy vật khoa
học triết học về sự phát triển phổ biến và tính quy luật của việc cải tạo cách
mạng thế giới đã luôn dựa vào thước đo là thực tiễn, đã tiến hành trên lập
trường chính đảng vô sản, một cuộc đấu tranh không mệt mỏi và triệt để với
hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản. Phép biện chứng đã gạt bỏ sự thỏa hiệp với
hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Thực ra chỉ đứng trên lập trường của giai
cấp vô sản, giai cấp mang sứ mệnh phá vỡ xã hội cũ bóc lột, xây dựng xã hội
mới cộng sản chủ nghĩa mới có khả năng xây dựng thế giới khoa học triết
học duy vật biện chứng.
Triết học Mác đã quan niệm về mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc động
lực của vận động và phát triển trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
C.Mác và Ph.Ănghen trong khi xây dựng phép biện chứng duy vật khoa
học triết học về sự phát triển phổ biến và tính quy luật của việc cải tạo cách
mạng thế giới đã luôn dựa vào thước đo là thực tiễn, đã tiến hành trên lập
trường chính đảng vô sản, một cuộc đấu tranh không mệt mỏi và triệt để với
hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản. Phép biện chứng đã gạt bỏ sự thỏa hiệp với
hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. C.Mác đã phân tích trước hết cái đơn giản
nhất, quen thuộc nhất, thông thường nhất, cái thường gặp, mối quan hệ của xã
hội tư sản: sự trao đổi hàng hóa. Sự phân tích, phát hiện trong cái hiện tượng
đơn giản ấy mầm mống của tất cả những mâu thuẫn của xã hội hiện đại.
C.Mác đã nghiên cứu các hiện tượng kinh tế trong mối liên hệ lẫn nhau và

17
trong trạng thái vận động, tức là trong tình trạng mâu thuẫn luôn luôn phát
sinh và được giải quyết. Hàng hóa đã được xem xét như là tế bào kinh tế của
xã hội tư sản, tức không xem nó một cách biệt lập mà xem đó là điểm xuất
phát của một chỉnh thể. Đồng thời nghiên cứu mâu thuẫn của hàng hóa, mâu
thuẫn giữa giá trị và giá trị sử dụng, trong trao đổi giá trị chuyển từ mâu thuẫn
bên trong thành mâu thuẫn bên ngoài, thành mâu thuẫn giữa hình thái giá trị
tương đối và hình thái ngang giá, nhờ có tiền tệ mà mâu thuẫn này đã tìm
được lối giải quyết.
Mác đã phát hiện ra những mâu thuẫn bên trong của hệ thống tư bản chủ
nghĩa và coi đó là bản tính tồn tại của nó, là nguồn gốc của sự vận động, phát
triển và tiêu vong của nó. Những mâu thuẫn của hệ thống tư bản chủ nghĩa
trước hết là những antinomia (mâu thuẫn trong quy luật, sự xung đột của quy
luật với bản thân nó) trong bản chất, tương ứng với những điều đó ông phát
hiện ra những antinomi gay gắt khách quan trong khái niệm chân chính về
mỗi quá trình thực hiện của nó. Mác đã đề cập đến khía cạnh giải quyết mâu
thuẫn. Sự xung đột định đề và phản đề (antinomi) chẳng qua chỉ là hình thức
logic có nội dung mang tính phạm trù của việc đặt bất cứ vấn đề nào nói
chung, của việc đặt và diễn giải vấn đề bằng ngôn ngữ của bản thân đối
tượng. Ta thấy rằng thực chất của mâu thuẫn biện chứng chỉ được vạch ra với
điều kiện tất yếu là hiểu được toàn bộ chức năng đặc thù của nó trong quá
trình nhận thức, cụ thể là chức năng của nó với tư cách là cái hình thức logic
chứa đựng nội dung của chân lý.
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ănghen đã đề cập đến mâu thuẫn.
Khi xem xét các sự vật trong sự vận động sự biến đổi, sự sống sự tác động lẫn
nhau của chúng, lúc đó chúng ta sẽ lập tức rơi vào những mâu thuẫn, bản thân
sự vận động đã là một mâu thuẫn, đó là ở chỗ mâu thuẫn đó cứ luôn luôn sản
sinh ra và đồng thời cũng tự giải quyết lấy. Như vậy, đã có một mâu thuẫn tồn
tại một cách khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình.