Tải bản đầy đủ
b. Cách thức tiến hành

b. Cách thức tiến hành

Tải bản đầy đủ

lời hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, làm các bài tập luyện tập trong sách
giáo khoa, hoặc thầy, cô đưa thêm nên hướng dẫn các em về xem lại kiến thức lí
thuyết ở lớp dưới, tìm thêm các ví dụ trong các văn bản đọc hiểu.
Khi soạn giáo án, các thầy cô nên chú trọng đến tính thực tế trong những
ví dụ, trong các bài tập sao cho vừa gần gũi với học sinh, vừa đảm bảo tính “đồng
dạng” về “chất” và “đồng đẳng” ở việc liên môn, liên nghành mới giúp các em
lĩnh hội được các vấn đề mà tác giả đề ra trong tác phẩm, mà sách giáo khoa đưa
ra. Đồng thời cũng cần linh động thực hiện cách chia nhóm để học sinh thực
hành, liên tục điều chỉnh các nhóm khi cần thiết Gv nên chủ động giao việc cho
những hs có khả năng cảm thụ tốt soạn thảo hệ thống câu hỏi về vấn đề gv đưa ra
khiến cho tất cả các học sinh đều làm việc, tránh tình trạng độc giảng, nặng nề,
ít hiệu quả và gây nhàm chán.
Trước khi lên lớp, giáo viên cần dự tính trước và cố gắng tinh gọn lượng
kiến thức cần trình chiếu lên máy, tránh trường hợp lượng câu chữ trên máy quá
dài dòng khiến học sinh quá chú tâm ghi chép mà không kịp theo dõi lời giáo
viên giảng giải hay ý kiến của các bạn. Và sẽ rất sai lầm nếu như ai đó lạm dụng
máy chiếu để phô bày hết những tư liệu mà mình tìm được về bài học. Trong vốn
tư liệu mình có, giáo viên cần chọn lọc những tư liệu cơ bản nhất, không nên đưa
ra nhiều tranh ảnh hay đoạn phim làm phân tán sự chú ý của học sinh. Khi soạn
bài, cần chú ý hệ thống đề mục, ý lớn, ý nhỏ phải thống nhất với nhau về cỡ chữ,
màu chữ và hiệu ứng trình chiếu để tạo tính mạch lạc, logíc cho bài và học sinh
tiện theo dõi. Khi sử dụng các phầm mềm thiết kế giáo án điện tử phải thận
trọng, cân nhắc để lựa chọn các hiệu ứng phù hợp về màu sắc, kiểu chữ, cỡ chữ,
cách chạy chữ, thiết kế màn hình, âm thanh phải phù hợp. Tuy nhiên, cần chú ý
không làm cho học sinh vì quá chú ý vào sự “trình diễn” của câu chữ mà mất tập
trung, lãng phí thời gian. Số lượng slide không nên quá ít hoặc quá nhiều (ví dụ
một tiết dạy chỉ dùng có vài ba slide hoặc ngược lại dùng đến ba bốn chục slide).
Trong tiến trình lên lớp với bài giảng điện tử, giáo viên tránh thao tác quá nhanh,
14

học sinh không kịp chép bài, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiến thức
và mức độ hiểu bài của các em không cao.
Ngoài ra, qua phiếu điều tra từ các học sinh đã học bài thực hành các phép tu
từ với giáo án điện tử, chúng tôi còn nhận thấy một số nguyện vọng của học sinh có
thể gợi ý cho giáo viên trong cách soạn giáo án và chuẩn bị tiết học như sau:
Vì năng lực tiếp thu bài ở học sinh trong một lớp khác nhau nên thái độ và
cách thích nghi của các em với giờ học có ứng dụng công nghệ thông tin khác
nhau. Nếu giáo viên ý thức rõ điều này và trong quá trình soạn bài, giảng dạy có
cách tổ chức phù hợp, điều chỉnh tiến độ giờ học một cách hợp lí thì sẽ đáp ứng
được mong muốn của từng học sinh và hiệu quả giờ học sẽ cao hơn hẳn. Tất
nhiên, để làm được điều này, mỗi người cần có năng lực chuyên môn, hiểu học
sinh và đặc biệt làm chủ giờ dạy, thành thục trong việc sử dụng công nghệ thông
tin. Trong khuôn khổ một tiết học, đặc biệt là các bài thực hành, cần cố gắng đa
dạng hoá các hoạt động học tập, khai thác tối đa năng lực của học sinh. Ngoài
các bài tập yêu cầu học sinh hoạt động cá nhân, trao đổi cặp, hoạt động nhóm, rất
nên có các trò chơi nhỏ có sự thi đua giữa các đội (ví dụ thi kể chuyện, thi đối
chữ, đối các thành ngữ, tục ngữ điển tích, điển cố trong văn bản của Việt Nam,
hoặc của nước ngoài ... ). Tác dụng của hoạt động này rất lớn, vừa giúp học sinh
củng cố kiến thức lí thuyết, cung cấp nhiều ngữ liệu về b ài học và khiến các em
hứng thú với bài học, gợi hướng cho các em tìm tòi mở rộng hiểu biết về tác
phẩm, tác giả mà các em đang học.
Mặc dù đa phần các em thích học giờ học đọc hiểu văn bản có ứng dụng
công nghệ thông tin nhưng không có nghĩa là các em đã hoàn toàn hài lòng, thoả
mãn với những gì đã có. Nhiều em bày tỏ nguyện vọng có thêm nhiều giờ học
như thế nữa, rồi mong muốn được tiếp cận với nhiều ngữ liệu phong phú hơn, các
trang được thiết kế đẹp hơn, đặc biệt nhiều em muốn được tham gia các trò chơi
liên quan đến bài học. Đây chính là những gợi ý quý báu cho bản thân tôi và các

15

đồng nghiệp trong quá trình thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
2.4.1. Kết quả vận dụng của bản thân
Thứ nhất: Năng lực nhận xét, đánh giá bài văn của học sinh có tiến bộ rõ
rệt sau khi chúng tôi yêu cầu các em thực hiện việc đánh giá, nhận xét bài văn
trên phiếu.
Thứ hai: Học sinh khá hào hứng khi tham gia thực hiện hoạt động nhận
xét đánh giá bài văn của mình và của bạn trên lớp.
Thứ ba: Quan hệ thầy - trò, trò - trò dân chủ hơn.
Thứ tư: Học sinh có sự nỗ lực hơn trong việc rèn luyện chữ viết, cách
dùng từ, đặt câu, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Thứ năm: Thông qua phiếu tự nhận xét đánh giá bài văn của học sinh, cả
học sinh lẫn giáo viên đều đánh giá được quá trình học tập, mức độ tiến bộ trong
học tập, rèn luyện của người học.
Thứ sáu: Trong các giờ trả bài ở trên lớp, học sinh được thực hành, được nói,
được trao đổi với bạn bè nhiều hơn so với các giờ trả bài truyền thống. Cho nên,
tính tích cực, tự giác, chủ động, sự sáng tạo của người học được phát huy cao độ.
- Sau 4 tiết dạy thể nghiệm ở các lớp 10A3, 10A6, và tiến hành kiểm tra
khảo sát bằng 2 bài kiểm tra ngắn, tôi thu được một số kết quả như sau:
Bảng 1: Kết quả với lớp học không vận dụng SKKN
Tên Lớp Tổng
bài
số HS
Trao 10A3 47

Giỏi
SL
9

Khá

%
19.1

SL
15

%
31.9

Trung bình
SL
%
13 27.66

Yếu
SL
10

%
21.34

duyên
Bảng 2: Kết quả với lớp học có vận dụng SKKN
Tên

Lớp

Tổng

bài
số HS
Trao 10A6 50

Giỏi

Khá

SL

%

SL

%

20

40.0

27

54.0

Trung bình
SL
%
3

6.0

Yếu
SL

%

0

0

duyên
16

Bảng 3: So sánh giữa hai nhóm tương quan kết quả được thể hiện bằng
biểu đồ như sau:

2.4.2. Hiệu quả đối với đồng nghiệp
- Hướng dẫn tốt cách thức tổ chức hoạt động nhận xét, đánh giá bài văn
cho học sinh: Cách sử dụng phiếu đánh giá nhận xét, cách tổ chức hoạt động lập
dàn ý cho bài văn, cách trình bày nhận xét, đánh giá trước lớp và cách thức
thống nhất kết quả bài văn.
- Sử dụng hệ thống kí hiệu quy ước để nhận xét, ghi điểm trên bài văn.
- Sử dụng thêm các thiết bị hiện đại như máy ghi âm, máy ảnh để lưu giữ bài
làm văn của học sinh, giúp cho tiến trình nhận xét, đánh giá thuận lợi, nhanh chóng.
- Sử dụng phần mềm dạy học như Powpoint hoặc Lecture Macker để chụp
và trình chiếu những đoạn văn, bài văn hay hoặc đoạn văn, bài văn còn mắc lỗi của
học sinh để các em có thể thực hiện tốt hoạt động đánh giá, nhận xét, rút kinh
nghiệm.

17

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận
Từ thực tế những kết quả thu được, chúng tôi tin tưởng rằng tổ chức dạy
học các dạng bài thiết kế hệ thống câu hỏi Đọc đoạn trích Trao duyên bằng công
nghệ thông tin là hoàn toàn khả thi và hiệu quả, thực sự góp phần nâng cao chất
lượng hiệu quả trong dạy học Ngữ văn 10. Tại trường THPT Nguyễn Xuân
Nguyên - huyện Quảng Xương. Với phạm vi nghiên cứu của đề tài này, những
kết quả thu được mang tính chất khẳng định tính khả thi của đề tài và khích lệ
động viên tác giả tiếp tục thực nghiệm và nghiên cứu sâu hơn trong thời gian tới
tại đơn vị mình. Tuy nhiên, những gì chúng tôi đạt được ở đây cũng chỉ là kết quả
thực nghiệm bước đầu, chưa phải là kết quả cuối cùng để đi đến một kết luận
khoa học – hi vọng các đề tài nghiên cứu rộng và sâu hơn của các bạn đồng
nghiệp và của các nhà giáo dục sẽ tìm hiểu kĩ và sâu hơn về vấn đề này.
Những thể nghiệm của bản thân tôi trong 4 tiết dạy này thực sự mới chỉ là
bước khai phá ban đầu trong một công việc còn mới mẻ và lí thú. Trong bài dạy
này, việc sử dụng vào dạy học mới chỉ dừng lại ở sự chuẩn bị của giáo viên, chưa
phát huy được năng lực về công nghệ thông tin của học sinh. Hơn nữa, đối tượng
học sinh tại trường huyện quá ít, mặt bằng đầu vào lại thấp. Do vậy, sự tích cực
chủ động của học sinh chưa được khai thác tối đa. Mặt khác, do hạn chế về thời
gian và khả năng sử dụng các phần mềm soạn giáo án điện tử nên có những ý
tưởng mà người soạn còn chưa thực hiện được. Để nâng cao hiệu quả của giờ học
sử dụng công nghệ thông tin, chúng ta cần nhiều điều kiện từ cơ sở vật chất cũng
như năng lực của giáo viên và học sinh.
3.2 Kiến nghị
* Về phía các cấp lãnh đạo
Nhằm khuyến khích giáo viên tích cực tiếp cận và ứng dụng công nghệ
thông tin, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn, các cấp lãnh đạo
18

cần có chính sách phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong công việc.
Ví dụ sở giáo dục cần có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các trường triển khai ứng
dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ Văn, mỗi năm cần tổ chức hội thi
giáo viên sử dụng công nghệ giỏi để kích thích lòng đam mê sáng tạo phục vụ
cho sự nghiệp giáo dục; nhà trường cần tổ chức các phong tr ào thi đua giảng dạy
bằng phương tiện hiện đại, có tổng kết, biểu dương, khen thưởng nhằm tạo thêm
khí thế sôi nổi và để những giáo viên còn e ngại có những bước đi mạnh dạn hơn,
đặc biệt là giáo viên có độ cao, … mới vào nghề, giáo viên dạy tại các trường
huyện như chúng tôi. Cần đẩy mạnh việc tổ chức các hội thảo, trao đổi kinh
nghiệm giữa các giáo viên, từ đó đề xuất với chuyên môn những giải pháp góp
phần nâng cao trình độ tin học cho giáo viên, có chế độ đãi ngộ cho những giáo
viên có bài giảng điện tử có giá trị, tích cực lao động sáng tạo trong nghề, đồng
thời đầu tư cơ sở vật chất phục vụ việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng
dạy môn Ngữ Văn,… Ngoài ra, các trường cần trang bị phòng đa chức năng và
đầu tư đồng bộ như: máy chiếu, máy quay, máy chụp, nối mạng, cũng như việc
mua bổ sung các tranh, ảnh liên quan đến bài giảng, …
* Về phía tổ chuyên môn
Đề nghị thường xuyên áp dụng phương pháp dạy phát huy tính tích cực
của học sinh vào từng bài học.
Sử dụng kiểu câu hỏi gợi mở nêu vấn đề. Sử dụng công nghệ thông tin
trong từng bài dạy.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

Người thực hiện

Nguyễn Thị Đức

19

20