Tải bản đầy đủ
Lồng ghép các trò chơi trong dạy học Ngữ văn

Lồng ghép các trò chơi trong dạy học Ngữ văn

Tải bản đầy đủ

Trò chơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục: giáo dục
bằng trò chơi – một phương pháp đã được nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới
vận dụng. Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn, kết hợp với phương
pháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay. Giải
pháp này sẽ thay đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm hứng thú
cho người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị, mạnh dạn hơn
trong đề xuất của mình, phát huy tư duy sáng tạo.. Hứng thú và chủ động trong học
tập là sự khởi đầu tốt cho việc nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng và phát triển
nhân cách ở học sinh qua bộ môn Ngữ văn.
Giáo viên cần chú ý đến đặc thù của từng phân môn; lưu ý mối quan hệ giữa trò chơi
và hệ thống câu hỏi; vận dụng linh hoạt, hợp lý, đúng mức và đúng lúc để không xáo
trộn nhiều không gian lớp học, nhanh chóng ổn định lớp học khi trò chơi kết thúc;
trò chơi phải phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt, không vận dụng cho tất cả các
tiết học; trò chơi bao giờ cũng kết thúc bằng thưởng cho người (đội) thắng hoặc xử
phạt nhẹ nhàng cho vui đối với người (đội) thua cuộc từ đó tạo nên sự dí dỏm, hứng
thú.
+ Xem trò chơi là một hình thức tổ chức cho một đơn vị kiến thức nhỏ trong giờ
học, để triển khai ở các bước khác nhau của bài giảng (phần tìm hiểu chung, tìm
hiểu ngữ liệu, phần đọc – hiểu văn bản, phần luyện tập, củng cố bài…).
+ Tổ chức tiết học thành một trò chơi lớn đối với một số tiết ôn tập hoặc khái quát.
Giáo viên có thể tự sáng tác ra những trò chơi phù hợp với tiết học theo nguyên tắc
vừa phù hợp, vừa kích thích sự tò mò của các em. Ví dụ: Ô chữ, Hùng biện, Tiếp
sức, Điền bảng, Rung chuông vàng…
Do đặc thù của mỗi phân môn, việc vận dụng lồng ghép trò chơi có những điểm
khác nhau.
* Văn học: Tùy thuộc dạng bài ( bài khái quát, ôn tập, đọc – hiểu văn bản…), lượng
kiến thức, mục tiêu bài học, thời lượng để áp dụng hình thức trò chơi: trò chơi nhỏ
dành cho một hoạt động dạy học hay trò chơi lớn cho cả tiết học. Do đặc thù của
phân môn với mục đích cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương, đòi hỏi
những cảm xúc tinh tế, nên mức độ vận dụng trò chơi chỉ vừa phải.
* Tiếng Việt: Lồng ghép trò chơi đối với phân môn này là khá phù hợp, đặc biệt là
đối với những tiết thực hành, luyện tập. Trò chơi cần phải gắn với các bài tập hoặc
các hình thức thực hành, luyện tập khác mà giáo viên nghĩ ra. Vận dụng tốt giải
pháp này, giờ học Tiếng Việt sẽ không còn khô cứng, học sinh cảm thấy thoải mái,
hứng thú, kích thích hoạt động tư duy của các em, quan trọng hơn là góp phần phát
triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở học sinh. Qua trò chơi, tư duy và khả năng ngôn
ngữ của học sinh sẽ được bộc lộ tự nhiên, giáo viên có thể phát hiện và uốn nắn kịp
thời những mặt còn hạn chế.

13

* Làm văn: Chính là phần thực hành Văn học và Tiếng Việt. Có thể vận dụng trò
chơi trong một số tiết học và không nên thực hiện hình thức này trong cả tiết. Với
phân môn này, việc lồng ghép hình thức trò chơi không thể thay thế được các
phương pháp cũng như hình thức tổ chức lớp học đặc thù như thực hành, luyện tập,
…hoạt động theo nhóm hay cá nhân tự luyện tập các kĩ năng…Do đó không nên
gượng ép để cố tình đưa trò chơi vào tất cả các giờ học làm văn.
Quy trình thực hiện:
* Chuẩn bị: Tùy theo mỗi trò chơi cụ thể sẽ có những phần chuẩn bị khác nhau.
* Bước 1: Giáo viên dự kiến chọn trò chơi cho phù hợp với nội dung của từng bài
học.
* Bước 2: Giáo viên nêu thể lệ trò chơi
* Bước 3: Học sinh tiến hành chơi trò chơi (với tư cách một cá nhân hoặc một
nhóm), dưới sự kiểm soát của giáo viên.
* Bước 4: Giáo viên đánh giá, cho điểm hoặc phát thưởng tùy theo sự đóng góp của
mỗi cá nhân hoặc mỗi nhóm.
Cách thức tổ chức:
Có rất nhiều trò chơi có thể gây hứng thú cho học sinh trong việc dạy và học môn
Ngữ văn. Tuy nhiên trong phạm vi của một sáng kiến kinh nghiệm, tôi chỉ xin nêu
một số trò chơi sau:
a. Trò chơi điền bảng (kết hợp với thảo luận nhóm):
* Đặc điểm: Trò chơi này dùng trong những giờ ôn tập, thay vì cho học sinh lập
bảng thống kê kiến thức bình thường, ta có thể chia lớp thành các nhóm khác nhau
và cho đại diện các nhóm lên bốc thăm để tìm công việc cho nhóm mình. Sau đó,
các nhóm sẽ thay phiên nhau giải quyết công việc của nhóm mình.
* Chuẩn bị: – Về phía giáo viên:
+ Kẻ sẵn một bảng tổng kết bao gồm các đơn vị kiến thức, trong đó chỉ có đề mục
và các tiêu chí thống kê.
+ Các phiếu bốc thăm ứng với các nhóm.
+ Các thẻ kiến thức trắng đều nhau được cắt ra từ giấy Ao.
+ Keo dán, bút viết bảng (4 màu ứng với 4 nhóm).
- Về phía học sinh: dựa vào SGK và soạn kĩ bài theo yêu cầu của giáo viên.
b.Trò chơi ô chữ (nhóm hoặc cá nhân)
* Đặc điểm: Đây là cách thức mô phỏng theo các sân chơi phổ biến hiện nay như:
Đường lên đỉnh Ôlympia, Chiếc nón kỳ diệu…[ 11 ].
Nó có thể sử dụng linh hoạt trong các tiết dạy hay trong các tiết ôn tập, thực hành.
Trò chơi này khá quen thuộc và đã được áp dụng nhiều nhưng nó lại được sự đón
nhận rất nhiệt tình của các em học sinh. Chính vì thế nó mang lại hiệu quả rất cao.
* Chuẩn bị: Giáo viên soạn ra một bảng ô chữ cùng các câu hỏi đi kèm tương ứng
với kiến thức của các ô hàng ngang cần thực hiện. Từ gợi ý của các ô hàng ngang,
14

học sinh dần dần tìm ra nội dung của ô hàng dọc. Đây là ô chính mà nội dung của nó
có tầm quan trọng đối với bài học mà học sinh cần nắm chắc và ghi nhớ.
- Bảng ô chữ này có thể chuẩn bị sẵn ở bảng phụ hoặc giáo viên có thể áp dụng
công nghệ thông tin để trò chơi này hấp dẫn và mới lạ hơn.
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm
a. Mục đích thực nghiệm
- Thông qua các bài thực nghiệm nhằm kiểm tra tính khả thi của đề tài:“Hướng đổi
mới giờ học ngữ văn cho học sinh lớp11 bậc THPT”
- Căn cứ vào kết quả thực nghiệm, phân tích xử lý các số liệu thu được để đánh giá
khả năng áp dụng của đề tài.
b. Nhiệm vụ thực nghiệm: – Chọn lớp và chọn GV thực nghiệm, chọn lớp và GV
đối chứng để thực nghiệm
- Chọn các bài thực nghiệm đáp ứng được yêu cầu của đề tài.
- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết về các mặt trong công tác thực nghiệm sư
phạm: các giáo án và các phương tiện thiết bị dạy bài thực nghiệm.
- Thống nhất với GV dạy thực nghiệm về nội dung, phương pháp dạy từng bài.
- Tổ chức triển khai các bài thực nghiệm đã được chuẩn bị.
- Đánh giá kết quả và rút ra kết luận.
2. Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm.
- Phải đảm bảo tính khoa học, khách quan về khối lượng kiến thức trong SGK
Ngữ văn do Nhà xuất bản Giáo Dục phát hành.
- Tuân thủ theo chương trình giảng dạy do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Đảm
bảo kiến thức cơ bản của bài giảng trong SGK.
- Việc dạy thực nghiệm phải tôn trọng thời khoá biểu của nhà trường không
làm ảnh hưởng tới hoạt động dạy và học của lớp được chọn làm thực nghiệm.
Quá trình thực nghiệm và kết quả thực nghiệm được xử lý theo phương pháp thống
kê toán học.
3 Phương pháp thực nghiệm.
- Thực nghiệm được tiến hành song song trên 2 lớp (lớp thực nghiệm và đối
chứng) tại trường. Các lớp đối chứng được tiến hành trước, giáo viên giảng dạy theo
nội dung và phương pháp truyền thống. Với các lớp thực nghiệm, GV nghiên cứu
kĩ cách thiết kế bài giảng theo phương pháp mới trong đó đã xác lập các kiến
thức liên môn phù hợp với từng bài. Cả hai lớp đều do một giáo viên tiến hành giảng
dạy, kiểm tra (cùng bài, cùng đề kiểm tra). Sau khi nghiên cứu các thiết kế bài
giảng và dạy thực nghiệm, giáo viên rút ra những kết luận và nhận xét cần
thiết.
4. Nội dung thực nghiệm
15

Để tổ chức thực nghiệm có hiệu quả, tôi đã chọn trường tôi đang công tác và các lớp
tham gia thực nghiệm là lớp thực nghiệm: 11A1, 11A5, 11A8, lớp đối chứng: 11A6,
11A10, 11A11.
– Các GV tôi chọn giảng dạy là các GV đang trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp
11 tại trường. Các GV dạy thực nghiệm đều là những người công tác lâu năm và
trình độ chuyên môn khá đồng đều, đó là điều kiện cho việc dạy thực nghiệm sư
phạm, thể hiện được tính khách quan đúng đắn và yêu cầu của quá trình thực nghiệm
và kết quả thực nghiệm.
Chuẩn bị bài thực nghiệm
- Các bài soạn dạy thực nghiệm đều được chuẩn bị kỹ và sự tham khảo ý kiến của
đồng nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả của đề tài và GV dạy thực nghiệm trao đổi nhằm
hoàn thiện bài soạn đáp ứng mục đích và yêu cầu của đề tài.
- Trước giờ dạy, các bài soạn đều được chuẩn bị đồ dùng, phương tiện thiết bị dạy
học đầy đủ.
- Tôi đã chọn các bài trong SGK Ngữ văn lớp 11 để thực nghiệm. Dưới đây là các
phần trong từng bài tôi đã áp dụng thực nghiệm.
CHÍ PHÈO
Khi dạy bài Chí Phèo”- Sách Ngữ văn 11, tập I, giáo viên lồng ghép cho học sinh
xem một vài đoạn phim nhỏ nói về hình ảnh Chí Phèo cùng với tiếng chửi, hình ảnh
của thị Nở cùng với bát cháo hành, hình ảnh chí Phèo hiền lành sau khi ăn cháo
hành… Nó tác động trực tiếp đến nhiều giác quan của các em, tạo ấn tượng, kích
thích sự tò mò, hấp dẫn và lôi cuốn, từ đó sẽ gây hứng thú hơn trong việc tìm hiểu
tác phẩm, tìm hiểu về số phận. Khi dạy xong bài này, giáo viên có thể áp dụng trò
chơi ô chữ để củng cố nhằm khắc sâu kiến thức đã học.
- Giáo viên cho học sinh tham gia trò chơi theo nhóm hoặc cá nhân.
- Yêu cầu của trò chơi: Học sinh nắm được những nội dung cơ bản về tác giả Nam
Cao và tác phẩm Chí Phèo. Đặc biệt khi kết thúc trò chơi, học sinh phải nắm được
một trong hai giá trị lớn của tác phẩm, đó là “giá trị hiện thực”.
- Giáo viên lần lượt nêu ra các câu hỏi cho các nhóm thực hiện, bắt đầu từ nhóm 1.
Các nhóm có quyền lựa chọn ô hàng ngang. Nếu nhóm nào không trả lời được theo
thời gian qui định thì phải nhường lượt cho nhóm khác tiếp tục trò chơi.
- Nhóm nào tìm được kiến thức ở ô hàng ngang thì được cộng điểm, tìm được ô
hàng dọc khi chưa giải hết ô hàng ngang sẽ là đội thắng cuộc.
- Cụ thể về bảng ô chữ: (8 hàng)
Câu hỏi: – Hàng 1: Tên thật của tác giả Nam Cao ? (10 chữ cái)
- Hàng 2: Khi say, Chí chửi, đầu tiên là hắn chửi gì ? (4 chữ cái)
- Hàng 3: Ai là người trực tiếp đẩy Chí Phèo vào tù ? (6 chữ cái)
- Hàng 4: Nhân vật nào được miêu tả xấu ma chê quỷ hờn ? (5 chữ cái)

16

- Hàng 5: Tác phẩm Chí Phèo được nhà văn lấy bối cảnh ở đâu của nước ta trước
Cách mạng tháng Tám? (8 chữ cái)
- Hàng 6: Qua tác phẩm, Nam Cao muốn đề cập đến tình trạng nào của người nông
dân

1
T
R
A
N
H
U
U
T
R
I
2
T
R
O
I
3
B
A
K
I
Ê
N
4
T
H
I
N
O
5
N
O
N
G
T
H
O
N
6
T
H
A
H
O
A
7
Đ
O
I
T
H
Ư
A
8
B
À
C
Ô
trước cách mạng Tháng 8/1945? (6 chữ cái)
– Hàng 7: Một trong những tác phẩm viết về để tài người trí thức trước cách mạng
– Hàng 8: Ai là người đã ngăn cản tình cảm giữa Thị Nở và Chí Phèo? (4 chữ cái)
* Hàng dọc: Đây là một trong những giá trị cơ bản của tác phẩm Chí Phèo.
Ví dụ minh họa ứng dụng công nghệ thông tin khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về
cảnh đưa tang cụ cố Tổ kèm theo những lời giảng, giáo viên cho học sinh xem cảnh
đưa
Ví dụ thực tế: Hạnh phúc của một tang gia: Đám con cháu cụ cố tổ ngày đêm
trông cho cụ mau chết để chia gia tài. Khi cụ chết lại làm ma rất to để cho thiên hạ
phải trầm trồ khen là chí hiếu.
Ví dụ minh họa ứng dụng công nghệ thông tin khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về
cảnh đưa tang cụ cố Tổ kèm theo những lời giảng, giáo viên cho học sinh xem cảnh
đưa ma cụ cố Tổ, nó sẽ tác động và để lại ấn tượng sâu sắc hơn cho học sinh về một
đám ma to tát, đám ma của sự bát nháo, nhố nhăng,…
Đám tang cụ cố tổ – ảnh : cắt từ clip [ 12 ].
ÔN TẬP VĂN HỌC
* Ví dụ minh họa trò chơi điền bảng: Ở bài Ôn tập văn học, sách Ngữ văn 11, tập
2, giáo viên chuẩn bị:
+ Chia lớp thành 4 nhóm.
+ 4 phiếu bốc thăm – mỗi phiếu có 2 đơn vị kiến thức – các đơn vị kiến thức này
cách quãng nhau.
+ 8 thẻ kiến thức trắng, dài.
+ Keo dán, 4 bút lông viết bảng xanh, đỏ, tím, đen ứng với 4 nhóm 1, 2, 3, 4

17

+ Kẻ sẵn trên bảng 10 đơn vị kiến thức trong đó chỉ có đề mục và các tiêu chí thống
kê bao gồm các ô: Thứ tự – Tên tác phẩm, tác giả – Năm sáng tác – Thể loại – Nghệ
thuật và nội dung chủ yếu.
Tác phẩm - tác giả

Năm sáng tác

Thể loại

Nội dung - Nghệ thuật cơ
bản

1. Lưu biệt khi xuất
dương. Phan Bội Châu
2. Hầu trời - Tản Đà
3. Vội vàng - Xuân Diệu
4.Tràng giang - Huy Cận
5.Đây thôn vĩ Dạ - HMT
6. Từ ấy - Tố Hữu
7. Chiều tối - HCM
Tương tư - Nguyễn Bính
8.Tôi yêu em- Pu skin
9. Người trong bao - Sê
Khốp
10. Bài thơ thứ 28 - Ta
Go
+ Các nhóm học sinh nhận phiếu bốc thăm và tiến hành thảo luận để tìm ra kiến thức
phù hợp với các ô trống – ghi nội dung vào các thẻ kiến thức.
+ Đại diện học sinh lên dán thẻ kiến thức vào ô trống trên bảng ứng với phần mình
đã bốc thăm.
Trò chơi này giúp học sinh thống kê được kiến thức đã học mà không gây nhàm
chán. Cách này nhẹ nhàng mà huy động được sự tham gia của cả lớp. Học sinh sẽ
rất hứng thú khi tham gia bài.
Kết quả thực nghiệm
Sau khi áp dụng Hướng tiếp cận bài học nhằm tạo hứng thú cho học sinh khi học
môn Ngữ văn lớp 11 THPT kết quả thu được như sau:
Kết quả từ các phiếu hỏi: Với 5 câu hỏi cho một phiếu thăm dò ý kiến được phát
đều cho 40 học sinh sau khi thống kê đã thu được kết quả như sau: Số phiếu: 40
phiếu.
Câu hỏi 1: Em yêu thích học môn Văn không ?
Số phiếu yêu thích học môn Văn là: 35 phiếu
Số phiếu trả lời bình thường là: 5 phiếu.
Số phiếu trả lời không thích là: Không
Câu hỏi 2: Em cảm thấy học môn Văn có khó không?
Số phiếu trả lời bình thường: 25 phiếu. Số phiếu trả lời môn Văn khó: 15 phiếu
Câu hỏi 3: Em thấy tập thể lớp 11A1 có thích học văn không?
18

Số phiếu trả lời cả lớp có thích: 35 phiếu. Số phiếu trả lời không biết rõ: 5 phiếu.
Số phiếu trả lời không thích lắm: 0 phiếu
Câu hỏi 4: Em sẽ làm gì khi gặp bài văn khó ?
Cố gắng tìm cách phân tích đề, dàn ý, tham khảo sách: 30 phiếu
Học hỏi người khác gợi ý: 10 phiếu.
Không hiểu và không làm: Không
Câu hỏi 5: Em có thích đọc thêm sách tham khảo về môn văn không ?
Số người rất thích là: 35 phiếu. Số người không trả lời: 5 phiếu
Theo như kết quả thống kê từ phiếu hỏi, ta thấy học sinh yêu thích môn văn đã
chiếm 75% tổng số học sinh trong lớp, đây là một kết quả phản ánh thái độ tích cực
của học sinh đối với môn học. Tuy nhiên vẫn có tới 15% học sinh trong lớp trả lời
bình thường, và cho rằng môn văn là một môn học khó. Nhưng nhìn chung các học
sinh đã có ý thức tìm tòi, lập dàn ý, tham khảo sách khi gặp bài khó hoặc hỏi người
khác gợi ý… Điều đó chứng tỏ các học sinh đã có thái độ tích cực đối với việc học
môn văn. Như vậy là sự hứng thú học tập môn Ngữ văn của các học sinh đã tốt hơn,
từ đó góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn trong nhà trường.
Kết quả từ quan sát thực tế
Với việc trực tiếp giảng dạy ở lớp 11A1, trong giờ học văn, các học sinh có ý thức
học bài cũ, một số học sinh do nhút nhát nên không xung phong trả lời bài cũ hay
tham gia xây dựng bài mới; nhưng đa số các học sinh đều có khả năng trả lời các câu
hỏi ở những mức độ khác nhau. Một số học sinh còn có khả năng trả lời những câu
hỏi nâng cao kiến thức để bài học được khắc sâu.Ý thức của học sinh trong việc học
tập bộ môn hiện nay khá nghiêm túc, ý thức đó thể hiện qua việc tích cực trong xây
dựng bài, chú ý nghe giảng và chép bài đầy đủ và được phản ánh qua chất lượng bài
kiểm tra của học sinh .
Kết quả kiểm tra
Trong học kì II năm học 2016 – 2017, tôi vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào
thực tế giảng dạy. Qua điều tra thăm dò lớp 11A1 mà tôi phụ trách giảng dạy, kết
quả như sau:
- Học sinh hứng thú học tập: 45 hs = 90%.
- Học sinh đạt điểm TB trở lên: 40 hs = 100%.
Với kết quả khảo sát như trên, qua việc đối chiếu, so sánh kết quả, tôi nhận thấy
rằng việc áp dụng các biện pháp gây hứng thú học tập vào giảng dạy Ngữ văn: tỉ lệ
học sinh thích học văn tăng lên hơn 75%. Từ đó cho thấy việc áp dụng các biện pháp
gây hứng thú học tập hướng vào việc tạo tinh thần hưng phấn, thoải mái, xây dựng
không khí lớp học sôi nổi, học sinh có thiện cảm môn Ngữ văn bước đầu đạt hiệu
quả. Nó đã góp phần nâng cao hơn chất lượng của các giờ học môn Ngữ văn.
PHẦN 3 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
19

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục là yêu cầu cấp thiết của giáo dục nước ta.
Nó được Đảng và Nhà nước ta quan tâm trú trọng. Đó cũng là cơ sở, là tiền đề, yêu
cầu, động lực tạo nên một sự đổi thay toàn diện, cả về chiều sâu và chiều rộng; đổi
mới từ nội dung đến phương pháp giảng dạy… Vấn đề nghiên cứu của đề tài này
này chính là hệ quả tất yếu của quá trình ấy.
Sau khi thực hiện đề tài: “Hướng đổi mới giờ học ngữ văn cho học sinh lớp 11
bậc THPT ”, tuy gặp nhiều khó khăn về thời gian, kinh nghiệm tổ chức thực hiện
nghiên cứu… nhưng so với mục đích và nhiệm vụ của đề tài đặt ra, về cơ bản đề tài
cũng đã giải quyết được một số nhiệm vụ sau:
- Bước đầu xác định được các hướng tiếp cận bài học : Nội dung – kết quả.
- Góp phần xây dựng hệ thống lí luận về hứng thú học tập.
- Xây dựng tìm hiểu và vận dụng được một số biện pháp gây hứng thú học tập môn
Ngữ văn cho người học.
Đó là những kinh nghiệm của cá nhân, những vấn đề của đề tài đặt ra cũng mới chỉ
là bước khởi đầu có tính định hướng, gợi ý; việc thực hiện nó như thế nào, hiệu quả
ra sao còn tùy thuộc rất nhiều vào nghệ thuật vận dụng của thầy cô giáo và môi
trường, cũng như hoàn cảnh, đối tượng học sinh….
Tôi mong rằng, những kinh nghiệm này góp phần giúp người học có được sự hứng
thú trong việc học tập môn Ngữ văn. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng học tập
bộ môn và hơn nữa là góp phần “đánh thức” tình yêu của người học đối với môn
Ngữ văn.

2. Kiến nghị
* Đối với nhà trường: - Cần có sự công bằng các môn học. Không nên coi trọng các
môn khoa học tự nhiên, coi nhẹ môn khoa học xã hội nhân văn dẫn đén tình trạng
học lệch của học sinh.
- Thường xuyên tổ chức học tập, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với nhau, nhất là
phương pháp giảng dạy theo tinh thần đổi mới sách giáo khoa.
- Cần đầu tư thêm tài liệu tham khảo đổi mới ( tài liệu định hướng, gợi ý), về môn
Ngữ văn để giáo viên và học sinh dễ dàng tiếp cận với tri thức mới.
* Đối với tổ chuyên môn:
- Thay đổi hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn sao cho đa dạng hơn không đơn thuần
chỉ là dự giờ, góp ý, mà tổ chức hội thảo bằng những chuyên đề cụ thể.
- Tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa sinh động, hấp dẫn, đa dạng nhằm gây hứng
thú cho học sinh đối với bộ môn Ngữ văn. ( mời nhà văn, nhà thơ về nói chuyện).
* Đối với giáo viên Ngữ văn
- Ngoài việc nắm vững chuyên môn còn phải rèn luyện, nghiên cứu thêm về nghệ
thuật sư phạm, tìm tòi các biện pháp gây hứng thú học tập, tạo một không khí học
tập vui vẻ, thoải mái giúp học sinh ngày càng yêu thích bộ môn Ngữ văn.
20

- Bên cạnh đó, phải thường xuyên học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, phát huy
thế mạnh của công nghệ thông tin vào dạy học bằng cách tìm các thông tin mới, hấp
dẫn trên mạng internet, đưa vào giáo án điện tử làm cho các tiết học sinh động,
lượng thông tin học sinh thu được nhiều và chính xác hơn so với phương pháp dạy
học truyền thống.
Trong quá trình xây dựng, thực hiện đề tài, do sự hạn chế về năng lực, tư liệu và
kinh nghiệm, Dù tác giả đã đầu tư, tìm tòi song không tránh khỏi những thiếu sót,
hạn chế ; tác giả hi vọng đề tài này sẽ góp phần làm thay đổi không khí lớp học, làm
cho học sinh của mình ngày càng yêu mến và hứng thú học tập môn Ngữ văn hơn.
Đồng thời, người viết rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè
đồng nghiệp để đề tài có tính thực tiễn, có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình
dạy và học môn Ngữ văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ.

Thanh Hóa, ngày 20/5/2017.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viêt, không sao
chép nội dung của người khác.
Họ và tên.

Lê Xuân Toàn

TÀI LIỆU THAM KHẢO
21