Tải bản đầy đủ
Một số điều kiện để thay đổi phương pháp dạy học

Một số điều kiện để thay đổi phương pháp dạy học

Tải bản đầy đủ

về tầm quan trọng của phơng pháp dạy học, vẫn còn suy nghĩ
lệnh lạc Ăn cơm chúa, múa tối ngày
Với sự phát triển và xu thế phát triển kinh tế, văn hoá giáo
dục nh hiện nay thì ngời thầy ( ngời cô) phải coi giáo dục là
nghề Sáng tạo nhất . cao quý nhất Nhằm đào tạo ra lớp ngời
mới có khả năng tích cực, chủ động, sáng tạo, có khả năng hành
động độc lập và có sự tìm tòi, khám phá, đam mê trong cuộc
sống. Chính vì thế ngời thầy phải vắt óc suy nghĩ, sáng tạo
không ngừng để nâng cao chất lợng bài dạy.
2.3 - Về trình độ:
- Cần nâng cao trình độ của ngời thầy. Cần nâng cao
trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, làm chủ đợc trình độ
chuyên môn, đổi mới phơng pháp dạy học.
2.4- Về thiết bị dạy học :
- Cần đầu t thiết bị dạy học nói chung và cho tiểu học nói
riêng phục vụ cho học tập nhất là thông tin nghe nhìn về cuộc
sống xã hội .
2.5 Về nhận thức của cha mẹ học sinh và học sinh:
Nh trớc đây hiện tợng cha mẹ cho con đi học tức là khóan
cho thầy cô, việc quan tâm chăm sóc con học hành còn ít. Từ
khi đất nớc đổi mới, kinh tế phát triển thì việc đầu t cho con
cái học hành đợc tiến bộ rõ rệt, ý thức học tập của học sinh đã
tiến bộ, chăm lo đến việc học hành hơn. Không còn học sinh bỏ
học nữa.
3. Những khó khăn của thầy và trò khi dạy môn tập làm
văn.
a. Những khó khăn của thầy.

5

Trong dạy học thực tế không mấy khi có ngời dạy thao giảng
một tiết tập làm văn bởi tiết tập làm văn là văn bản nói và viết .
Để thực hành một văn bản nói và viết ở cả giáo viên và học sinh
đều khó đạt vì mức độ sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt của
chúng ta còn cha chú trọng. Việc sắp xếp, chọn từ, chọn lọc ý
cha chặt chẽ, cha liên kết . Việc tiếp cận với việc đổi mới phơng
pháp dạy học đối với một số giáo viên là khó khăn vì thực tế hiện
nay chất lợng giáo viên tiểu học của ta cha đồng đều. Dạy tập
làm văn cho học sinh theo chơng trình mới là phải dạy theo hớng
tích cực, tăng một số thủ thuật để đòi hỏi học sinh tiếp nhận
đợc kiến thức đó theo khuynh hớng phát triển của chính mình.
Ngời giáo viên dạy học theo hớng tích cực này không đợc áp đặt
mà phải có đủ trình độ để xoay chuyển các tình huống mà
học sinh có thể đặt ra. Chính vì vậy ngơì giáo viên tiểu học
mạng một chức năng đa năng. Muốn dạy tốt môn tập làm văn
thì chính ngời giáo viên phải có chất văn. Có kiến thức về Tiếng
Việt một cách chắc chắn. Biết cách mở, dẫn, dắt học sinh
trong học tập, biết cách tạo tình huống, không nên phụ thuộc
hoàn toàn vào sách hớng dẫn, cần chú ý đến đối tợng học sinh ở
địa bàn mình dạy và phân chia thời gian cho hợp lý.
* Nói tóm lại để đáp ứng đợc mục tiêu dạy học phân môn tập
làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung theo phơng pháp
dạy học mới thì việc đầu tiên là ngời giáo viên phải đạt kiến
thức chuẩn và trên chuẩn. Việc thứ hai là nếu ngời giáo viên chỉ
có trong tay vẻn vẹn hai quyển sách: Sách giáo khoa và sách hớng
dẫn thì việc dạy học sẽ không nâng cao đợc hiệu quả. Tất nhiên
một ngời giáo viên khi chuẩn bị bài trên lớp không nhất thiết phụ
thuộc vào các quy trình đã bày sẵn trong sách hớng dẫn mà các

6

mẫu thiết kế đó chỉ là cái sờn, là cơ sở để giáo viên tổ chức
một giờ dạy theo chơng trình mới.
b. Những khó khăn của trò.
Đối với chơng trình môn tập làm văn lớp 3 (chơng trình mới)
đòi hỏi các em phải hình thành đợc 4 kỹ năng: nghe , nói, đọc,
viết, các em phải biết kết hợp vận dụng các kiến thức, các thông
tin trong cuộc sống hàng ngày vào học tập mà thực tế là nói và
viết.
Ngoài việc làm quen với các văn bản đơn giản, biết cách sử
dụng sắp xếp từ ngữ , sắp xếp các câu, các hình ảnh hoặc
hành văn, câu văn phải bộc lộ đợc cảm xúc.
Học sinh tiếp thu còn thụ động theo phơng pháp cũ cha mạnh
dạn trong học tập , cha thật chủ động sáng tạo, việc nghe nhìn
các thông tin thì nhiều nhng việc diễn đạt các thông tin thì lại
kém .
* Từ những quan điểm trên rút ra thực tiễn, đó là do đặc thù
của nghề dạy học mà thầy giáo có cả một khỏang trời riêng. Ngời
thầy thoải mái lựa chọn các phơng pháp dạy học cho từng môn ,
từng phần đặc biệt là phù hợp với đối tợng. Chính vì vậy cần có
sự đổi mới về phơng pháp dạy học và tránh khuynh hớng lệch lạc
về đổi mới phuơng pháp mà chuẩn bị hớng nó vào những
điểm sau:
- Tạo điều kiện cơ hội để học sinh đợc nghĩ, đợc làm, đợc
thể hiện qua tiết học. Ngời thầy bằng nghệ thuật dẫn dắt của
mình giúp học sinh tự giải quyết vấn đề đặt ra. Cao hơn nữa
là ngời thầy để học sinh đợc phát biểu tự nhận xét , đánh giá ý
kiến của bạn...Lúc này thầy giáo chỉ đóng vai trò là trọng tài.
Chuẩn bị các công việc của giáo viên đó là

7

chuẩn bị việc và

giao việc cho học sinh. Đây chính là công việc khó nhất ,
nghệ thuật nhất. Nếu cả giáo viên và học sinh đều làm tốt
khâu chuẩn bị việc và giao việc có nghĩa là đã chuẩn bị xong
phơng án dạy học.
Chuẩn bị các phơng tiện cần thiết, các trang thiết bị nghe
nhìn...Chuẩn bị các bài tập, đề kiểm tra , để phát huy tích
cực của học sinh, hớng học sinh tìm tòi khám phá. Bên cạnh đó
thầy cô cần đánh giá cao những bài viết có tính sáng tạo. Ngoài
ra giáo viên còn có thể tìm tòi ra những loại đề mà học sinh
không sử dụng các tài liệu để chép lại đợc một cách thuần tuý
và máy móc mà bắt buộc học sinh phải đầu t suy luận và tự
mình giải quyết lấy.
Tôi nghĩ rằng đối với học sinh tiểu học nói chung , học sinh lớp
3 nói riêng thì khi viết, khi kể về nội dung một chủ đề nào đó
mà các em đã xem, hoặc đợc trực tiếp làm thì ắt hẳn bài tập
làm văn đó sẽ tự nhiên hơn, mang tính trẻ con hơn.
II. các biện pháp giúp học sinh lớp 3 thực hành tốt bài tập làm văn viết.

Để giúp học sinh viết tốt một bài tập làm văn giáo viên cần
bồi dỡng cho các em những kiến thức cần thiết sau:
- Bồi dỡng học sinh từ các môn học khác làm tiền đề giúp học
sinh học tốt phân môn tập làm văn.
Là giáo viên tiểu học hiện nay, việc dạy theo các phân môn
là rất ít mà đại đa số giáo viên của các trờng vừa là giáo viên
chủ nhiệm vừa là giáo viên giảng dạy tất cả các phân môn. Vì
vậy việc bồi dỡng học sinh ngay trong các giờ học khác, giúp các
em chắt lọc các kiến thức , vận dụng vào trong tiết tập làm văn
là rất cần thiết. Các môn học này nó sẽ bổ trợ cho môn tập làm
văn, giúp các em có kiến thức để (nói, viết )trong giờ tập làm
văn.
8

- Bồi dỡng các em thông qua cuộc sống và giao tiếp .
Trong cuộc sống ở gia đình, nhà trờng và xã hội, các em thờng đợc giao tiếp với rất nhiều ngời, với rất nhiều tầng lớp trong
xã hội, vì vậy các em sẽ học hỏi đợc rất nhiều điều, rất nhiều
các kiến thức khác nhau, cách giao tiếp khác nhau, cách ứng xử
khác nhau, cách nhìn nhận khác nhau, cách nghe ngóng các
thông tin khác nhau, cách học tập khác nhau...Giáo viên cần giúp
đỡ các em xác định đợc kiến thức mà các em vận dụng vào học
tập. Qua cuộc sống hiện tại mà các em đang tiếp xúc, môi trờng
xã hội giúp các em am hiểu hơn, tò mò hơn và thích khám phá
về lợng kiến thức mà mình cần tìm tòi, từ đó giúp các em có
những hình ảnh vận dụng nó vào học tập nh cách dùng từ đặt
câu hoặc cách nói năng, phục vụ cho nói và viết hay nói một
cách khác là phục vụ cho môn tập làm văn.
- Bồi dỡng học sinh ngay trong môn Tiếng Việt và trong giờ tập làm
văn

Nh chúng ta đã biết môn Tiếng Việt gồm các phân môn
nh: tập đọc, kể chuyện, chính tả, tập viết, luyện từ và câu,
tập làm văn. Các phân môn đó có quan hệ mật thiết với nhau.
Trong đó phân môn tập làm văn kết tinh các điều ấy bởi thế
muốn dạy tốt phân môn tập làm văn thì cần dạy tốt các phân
môn học khác.
Hiện nay việc dạy tập làm văn cho học sinh lớp 3 có các
biện pháp chung là:

1.Hớng dẫn học sinh làm bài tập.
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập ( bằng câu hỏi, bằng
lời giải thích).
- Giúp học sinh chữa một phần của bài tập làm mẫu

9

- Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét kết quả, rút ra điểm
cần ghi nhớ về tri thức.
2.Đánh giá kết quả thực hành luyện tập ở lớp, hớng dẫn
hoạt động nối tiếp.
Việc đánh giá kết quả thực hành luyện tập ở lớp tức là hớng
dẫn học sinh nhận xét kết quả của bạn, tự đánh giá kết quả của
bản thân. Giáo viên tóm tắt và nhận xét chung. Hớng dẫn hoạt
động tiếp nối nhằm củng cố kết quả thực hành luyện tập ở lớp
( viết bài ở nhà, thực hành giao tiếp ngoài lớp học, sử dụng kỹ
năng đã học vào thực tế cuộc sống).
* Qua các biện pháp trên tôi thấy chơng trình 2000 đã có
những điểm thay đổi rõ rệt, sự thay đổi đó đợc thể hiện
ngay trên mục tiêu của phân môn tập làm văn lớp 3. Tuy nhiên ở
mỗi kiểu bài của phân môn tập làm văn nó cũng có những biện
pháp khác nhau.
Chơng trình tập làm văn lớp 3 chỉ đòi hỏi học sinh vận
dụng những kiến thức đã học, vận dụng những hiểu biết về thế
giới xung quanh, về những thông tin đợc cập nhật hàng ngày
vào việc thực hành luyện tập về Tiếng việt qua cách dùng từ
đặt câu, liên kết câu thành đoạn văn, bài văn ngắn. Qua đó
rèn kỹ năng cơ bản nh nói, viết. ở mỗi đề bài tập làm văn thờng
kèm theo câu hỏi gợi ý , coi đó là cái sờn để học sinh làm bài.
Vậy : Muốn rèn học sinh làm tốt một bài tập làm văn miệng
thì cần đạt đợc mục đích sau:
- Rèn kỹ năng nói cho học sinh theo yêu cầu của phân môn Tiếng
việt.
- Chuẩn bị trực tiếp hay gián tiếp cho bài tập làm văn theo chơng trình.

10

- Rèn về mặt t duy và ngôn ngữ cho học sinh
- Chú trọng diễn tả đứng, đủ, rõ ý bằng lời văn tự nhiên.
- Quan tâm đến cách trình bày mạch lạc.
*Muốn rèn học sinh viết tốt một bài tập làm văn cần lu ý các
yêu cầu sau:
- Rèn học sinh cách nắm vững yêu cầu đề bài.
- Rèn viết những câu văn sinh động , gợi cảm, chân thật.
- Rèn viết đoạn đảm bảo tính liên kết, lô gíc, chặt chẽ về ý.
- Rèn viết bài văn có bố cục, có lời văn phù hợp với yêu cầu, nội
dung và thể loại.
Sau đây là một số biện pháp dạy riêng cho từng loại kiểu bài và
một số ví dụ cụ thể:

* Biện pháp dạy văn kể chuyện:
Nh chúng ta đã biết hiện nay dạy học theo phơng pháp
đổi mới là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh. Khi dạy
học sinh viết văn kể chuyện giáo viên cần lu ý phát triển kỹ năng
nói, nghe và viết cho học sinh qua kỹ năng độc thoại, đối thoại,
nghe...Củng cố, mở rộng và tích cực hoá vốn từ ngữ, phát triển
t duy hình tợng và t duy lô gíc. Nâng cao sự cảm nhận về hiện
thực đời sống qua nội dung câu chuyện cần kể . Bồi dỡng tình
cảm, trau dồi hứng thú học tập, đem lại niềm vui trong học tập
cho các em.
Khi dạy tập làm văn kể thì học sinh phải biết kể theo một
trình tự nhất định. Tuy nhiên học sinh không cần kể rập khuôn
máy móc mà sáng tạo theo ý của mình.
Khi dạy kiểu bài văn kể chuyện giáo viên cần làm tốt các
yêu cầu sau:
- Giao việc ( phân công) chuẩn bị việc từ tiết học trớc cho
tiết học sau.
11

- Dạy tốt các tiết học ( tập đọc, kể chuyện, luyện từ và
câu....) xoay quanh chủ điểm của môn học tuần đó.
- Nội dung bài cần đợc làm sáng tỏ ở tiết miệng. Giáo viên
tổ chức, điều khiển hoạt động học của học sinh. Xác định rõ
trọng tâm đề bài ( loại văn gì? Kể gì ?). Chuyện bắt đầu nh
thế nào? Xảy ra ở đâu? Lúc nào? Diễn biến ra sao? Kết thúc
thế nào? Em thấy công việc ấy ra sao?). Cách tổ chức hớng dẫn
học sinh làm bài tập ( đa các câu hỏi gợi ý ở sách giáo khoa làm
điểm tựa). Học sinh trao đổi, thảo luận để đi đến thống nhất
nội dung cần làm, cần diễn đạt. Cần chú trọng kỹ năng làm bài:
Tổ chức cho học sinh nêu qua nhiều hình thức nh: Trao đổi,
tập nói. Tổ chức trò chơi nh sắp xếp ý , liên kết câu.
- ở tiết viết bài học sinh phải kể lại bằng lời lẽ của mình viết
thành đoạn văn, bài văn đúng ngữ pháp và có quan hệ về ý với
nhau.
Ví dụ: Khi dạy tiết tập làm văn ( hãy viết bài kể lại một trận thi
đấu thể thao mà em dã có dịp xem) Tuần 29
Để có đợc sản phẩm tức ( kết quả) tốt nhất ta cần thực hiện
tốt các yêu cầu sau:
- Giao việc cho học sinh về nhà chuẩn bị bài theo yêu cầu
của đề trên ( từ cuối tuần 27)
- Dạy tốt các bài tập đọc , kể chuyện, luyện từ và câu... của
tuần 28, 29 (chủ điểm thể thao). để học sinh nắm đợc nội
dung các câu chuyện về thể thao, sự sôi nổi hào hứng của việc
thi đấu và kết quả của cuộc thi.
- Nội dung cần đợc làm rõ ở tiết miệng: Tổ chức, điều khiển
hoạt động học của học sinh giúp học sinh xác định đợc: Trọng
tâm đề bài ( loại văn kể, kể về một trận thi đấu thể thao mà

12

em đã có dịp xem) Từ đó huy động vốn sống, sự hiểu biết của
các em về thể thao khi làm bài. Nội dung cần kể ( giáo viên đa
các câu hỏi gợi ý sách giáo khoa làm điểm tựa .
+ Đó là môn thể thao nào?
+ Em tham gia hay chỉ xem thi đấu ?
+ Buổi thi đấu đợc tổ chức ở đâu? Khi nào?
+ Em cùng xem với những ai?
+ Buổi thi đấu đợc diễn ra nh thế nào?
+ Kết quả ra sao?
+ Cảm nghĩ của em?
Học sinh trả lời các câu hỏi, sau đó sắp xếp ý, liên kết
câu để hoàn thành một bài làm miệng có mở đầu, diến biến,
kết quả. Ngoài việc gợi mở theo trình tự câu hỏi gợi ý giáo viên
cần yêu cầu học sinh làm bài theo sự sáng tạo là thay đổi thứ tự
các câu hỏi , nhng nội dung bài kể vẫn không bị xáo trộn và khi
kể để học sinh nhận xét đánh giá lẫn nhau. Giáo viên đứng
giữa điều khiển và làm trọng tài mọi hoạt động của trò để đi
đến đích chung là biết cách làm bài, biết cách sửa chữa
những gì mà mình cha làm đợc.
- ở tiết viết bài khi hớng dẫn học sinh làm bài tập giáo viên
không quên cho học sinh xác định lại trọng tâm đề bài, nêu
nhanh dàn bài hoặc cần sửa chữa bổ sung gì vào dàn bài đã
chuẩn bị sau đó mới viết bài.
Qua thực hiện biện pháp trên tôi thấy kết quả viết bài của
học sinh rất khả quan. Bài viết của các em rất phong phú. Nhiều
môn thể thao đã đợc các em kể ra nh: Bóng đá, bóng chuyền,
cầu lông ....Nội dung bài viết tuy ngắn gọn nhng vẫn đầy đủ
đợc các hành văn, vẫn thể hiện đợc tinh thần thi đấu thể thao

13

quyết liệt. Đặc biệt nội dung bài viết của các em đã thể hiện
đợc sự hứng thú, phấn khởi và sự hâm mộ về thể thao. Chính
vì thế số bài viết đạt yêu cầu là 100% trong đó tỷ lệ khá giỏi
là 60%.
*Biện pháp dạy văn miêu tả:
Theo chơng trình cải cách giáo dục dạy theo biện pháp vận
dụng các giác quan kết hợp với tởng tợng và liên tởng để quan sát
hình dạng, mầu sắc, tên gọi...
- Hoàn cảnh xuất hiện chú ý tới đặc điểm của vật đó.
- Nêu rõ mối quan hệ với con ngời .
- Trả lời các câu hỏi và sắp xếp bài văn cho mạch lạc.
ở chơng trình mới này tôi nghĩ nó vẫn đợc áp dụng song có
điều giáo viên cần hớng dẫn cho học sinh cách quan sát tinh tờng, sắp xếp ý theo ý tởng của các em để bài văn có hình ảnh,
có trật tự theo sáng tạo của các em.
Ngoài biện pháp trên tôi còn chia nhóm, chia tổ, cho học
sinh đánh giá, góp ý bài lẫn nhau một phần tạo không khí học
tập, một phần tạo sự ganh đua mà tích cực trong học tập. Học
sinh cần thể hiện sự cảm xúc của mình.
Việc đánh giá kết quả luyện tập thực hành của các em dựa
vào bài làm cụ thể. Đó là sản phẩm của qúa trình học tập. Vì
vậy cần nhận xét một cách chính xác, rõ ràng.
*Biện pháp dạy văn viết th:
Đây là kiểu văn mới đối với học sinh lớp 3 chơng trình
2000. Vì vậy biện pháp chủ yếu vẫn là hớng dẫn học sinh ngay
vào bài tập. Thực hành các bài ấy qua cách giới thiệu bài tập đọc
đã học, giáo viên hớng dẫn gợi ý.
- Cách viết th ra sao?

14

- Giáo viên trình bày dạng văn viết th: đầu th, nội dung bức
th và phần cuối th.
- Khi dạy phần văn viết th cho học sinh lớp 3 giáo viên cần
nhắc nhở học sinh cách trình bày theo mẫu. Nội dung bức th
phải thể hiện đợc tình cảm của mình. Cách dùng từ ngữ phải
phù hợp với từng đối tợng mình viết th thăm hỏi
Ví dụ: - Khi viết th thăm hỏi ông bà, cha mẹ...( là ngời bề
trên cần phải thể hiện sự quý mến, kính trọng, lễ phép.) Đối với
bạn bè thì thể hiện tình cảm chân thành, thân thiết...
- Ngoài phần viết th còn tập cho học sinh viết phong bì th,
- Đối với yêu cầu để đánh giá bài văn viết th ở lớp 3 chúng ta
cần đánh giá phần hình thức nhiều hơn phần nội dung vì bớc
đầu các em làm quen với dạng văn mới.
* Biện pháp dạy văn nhật dụng.
Văn nhật dụng đợc đa vào chơng trình học đối với học
sinh lớp 3 là một điều mà tôi rất tâm đắc. Tôi nghĩ rằng điều
này rất thiết thực với học sinh lớp 3. Lên lớp 4 các em đã là các Đội
viên đợc đeo chiếc khăn quàng đỏ. Vì vậy nội dung viết những
lá đơn phục vụ cho lứa tuổi các em là hợp lý. Tất nhiên ở chơng
trình mới này biện pháp chủ yếu vẫn là hớng dẫn các em thực
hành qua một bài viết đơn, mẫu có sẵn. Trên cơ sở đó giáo
viên giúp học sinh nắm vững cách viết một lá đơn. Phần nào
phải viết theo mẫu , phần nào không nhất thiết viết theo mẫu.
Vì sao?
Để đánh giá kết quả thực hành một bài văn viết đơn theo
mẫu thì học sinh phải nắm và viết đủ nội dung lá đơn chỗ
nào viết theo mẫu và chỗ nào không viết theo mẫu , câu văn và
cách dùng từ cần chính xác.

15