Tải bản đầy đủ
6 Chế độ dinh dưỡng phù hợp cho trẻ sơ sinh

6 Chế độ dinh dưỡng phù hợp cho trẻ sơ sinh

Tải bản đầy đủ

19

Sữa mẹ được coi là nguồn dinh dưỡng chủ yếu, lành mạnh nhất cho sự phát triển của
bé trong giai đoạn này. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo, mẹ nên nuôi con hoàn
toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, bởi:
• Sữa mẹ là nguồn dưỡng chất tự nhiên, rất phù hợp với dạ dày còn non nớt của trẻ sơ sinh,
giúp bé dễ tiêu hóa hơn (trong sữa mẹ chứa nhiều đạm whey – loại đạm dễ tiêu hóa)
• Sữa mẹ giúp tăng cường hệ miễn dịch nhờ chứa nhiều dưỡng chất cần thiết và các chủng
vi sinh vật có lợi probiotics (bifidobacteria và lactobacilli)
• Sữa mẹ giúp bé hạn chế nguy cơ bệnh tật và phát triển nhận thức tốt hơn.
Tuy nhiên, từ 0 – 6 tháng tuổi, do bé chưa ăn được nhiều, các cữ bú trong ngày cần
được mẹ chia nhỏ theo một “thời gian biểu” phù hợp với cơ địa và khả năng ăn uống của
con. Mẹ có thể tham khảo bảng gợi ý lượng sữa mẹ trẻ cần theo cân nặng dưới đây (áp
dụng đối với những mẹ hút sữa cho con ti bình):
Bảng 1: Lượng sữa mẹ trẻ cần theo cân nặng (áp dụng đối với những mẹ cho con
uống bình ti).

CÂN NẶNG

TỔNG LƯỢNG SỮA CẦN
TRONG NGÀY

LƯỢNG SỮA CẦN MỖI
CỮ
(TB 8 cữ một ngày) theo ml

2.265 GR

390ml

48.75

2.491 GR

429 ml

53.625

2.718 GR

467 ml

58.375

2.944 GR

507 ml

63.375

3.171 GR

546 ml

68.25

3.397 GR

584 ml

73

3.600 GR

639 ml

79.875

3.850 GR

664 ml

83

20

4.000 GR

720 ml

90

4.303 GR

741 ml

92.625

4.500 GR

801 ml

100.125

4.756 GR

819 ml

102.375

4.900 GR

879 ml

109.875

5.209 GR

897 ml

112.125

5.400 GR

960 ml

120

5.662 GR

976 ml

122

5.889 GR

1015 ml

126.875

6.115 GR

1053 ml

131.625

6.400 GR

1119 ml

139.875

6.704 GR

1155 ml

144.375

6795 GR

1172 ml

146.5

7021 GR

1210 ml

151.25

7.300 GR

1280 ml

160

Để đảm bảo cung cấp đủ hàm lượng DHA (thành phần dinh dưỡng tốt cho sự phát
triển não bộ của trẻ) và các dưỡng chất cần thiết khác cho bé qua nguồn sữa mẹ, mẹ nên
bổ sung thêm các thực phẩm giàu DHA, calcium, iron, choline… vào thực đơn hàng ngày
của mình (cá hồi, cá ngừ, dầu cá…). Theo khuyến cáo của WHO, hàm lượng DHA cần
thiết cho mẹ trong giai đoạn thai kỳ và cho con bú là 200mg mỗi ngày.
Mặc dù sữa mẹ tốt nhưng không phải bà mẹ nào cũng đủ sữa cho con, trẻ phải dùng
sữa công thức để thay thế. Bio-acimin mách mẹ lượng sữa công thức trẻ cần theo tháng
tuổi:

21

• Từ 0 – 3 tuần tuổi: Bé cần 30 – 90ml sữa/lần. Ngày 8 – 12 lần. Mỗi cữ cách nhau 2 – 3
tiếng. Mức gợi ý lượng sữa cả ngày cho bé: 240 – 700ml.
• Từ 3 tuần – 3 tháng tuổi: Bé cần 90 – 120ml sữa/lần. Ngày 6 – 8 lần. Mức gợi ý lượng
sữa cả ngày cho bé: 700 – 950ml
• Từ 3 – 6 tháng: Bé cần 120 – 230ml/lần. Ngày 4 – 8 lần. Mức gợi ý lượng sữa cả ngày
cho bé: 700 – 950ml. Mẹ lưu ý: từ giai đoạn này bé bắt đầu ngủ được xuyên đêm và có
thể uống nhiều sữa hơn vào ca cuối cùng buổi tối và ca đầu tiêng của sáng hôm sau.
• Từ 6 – 9 tháng: 170 – 240ml/lần. Ngày 6 lần. Mức gợi ý lượng sữa cả ngày cho bé:
950ml. Đây là giai đoạn bé bắt đầu tập ăn dặm, tuy nhiên sữa vẫn là thực phẩm chính cho
con trong giai đoạn này nhé! Ăn dặm chỉ mới là bước tập làm quen với thực phẩm thô.
• Từ 9 – 12 tháng tuổi: 200 – 50ml/lần. Ngày 3 – 5 lần. Mức gợi ý lượng sữa cả ngày cho
bé: 700ml. Giai đoạn này bé có thể uống ít sữa đi vì bé đã ăn được thức ăn dặm trong đó
có chứa nước
• Từ 12 tháng tuổi trở lên: 120ml sữa tươi/sữa đậu nành/sữa chua. Ngày 4 lần.
+

Bé từ 6 – 10 tháng tuổi
Đây là giai đoạn bé đã có thể ăn dặm, nhưng mẹ vẫn nên cho bú sữa mẹ hoặc uống
thêm sữa bột. Trong chế độ ăn dặm của bé, mẹ cần bổ sung thêm:
• Các loại rau xanh và trái cây: Bí xanh, củ cải trắng, quả bơ, táo, kiwi, đu đủ… giúp bổ
sung thêm vitamin C, canxi, chất xơ và protein… nâng cao sức đề kháng và hệ miễn dịch
của bé
• Thực phẩm giàu chất sắt: Trẻ sẽ mất dần lượng sắt dự trữ từ 6 tháng tuổi, nên mẹ cần bổ
sung thêm các thực phẩm giàu sắt như thịt bò (theo tỉ lệ 1 phần thịt, 2 phần rau).
• Thực phẩm giàu chất đạm: giúp nâng cao hệ miễn dịch và sự phát triển của não bộ. Chất
đạm có nhiều trong thịt gà, cá, pho mai, thịt nạc thăn, thịt bê non, đậu hũ, các loại hạt…
Lưu ý, khi chế biến thức ăn cho bé giai đoạn này nên chọn cách hấp, luộc, nướng để
đảm bảo dinh dưỡng và tránh các tác động không tốt từ dầu mỡ, gây rối loạn tiêu hóa cho
bé. Mẹ cũng nên nghiền nát, hoặc bằm nhỏ thức ăn tránh để bé bị hóc hoặc khó ăn.
+

Bé 10 – 12 tháng tuổi

Tuy trẻ đã phát triển hơn so với lúc mới sinh rất nhiều, nhưng vẫn nên duy trì thói
quen cho trẻ bú sữa mẹ hoặc uống sữa bột hàng ngày, kết hợp với ăn dặm. Có thể tham
khảo chế độ dinh dưỡng cần thiết cho bé 10 – 12 tháng tuổi như sau:

22

• Mẹ vẫn cần cho con bú sữa mẹ hàng ngày (ít nhất là 3 – 4 lần trong ngày)
• Bổ sung chất xơ, các vitamin khoáng chất từ rau xanh và trái cây luôn cần thiết cho sự
phát triển của bé. Một số loại rau xanh, củ quả phù hợp cho bé 10 – 12 tháng tuổi: Khoai
lang, bí xanh, cải trắng, súp lơ xanh, cà tím, rau chân vịt, cải xoăn… Lưu ý, giai đoạn này
bé đã bắt đầu tập cầm nắm, có thể xắt miếng rau củ quả vừa tay để bé tập bốc để ăn, gặm
nhấm. Một số loại thực phẩm có thể cho bé tập cầm và gặm: táo, khoai tây, củ cải…
• Bé đã có thể ăn cả lòng trắng và lòng đỏ trứng, nhưng phải nấu chín kĩ
• Tuy bé đã lớn hơn nhiều so với lúc mới sinh, nhưng không nên cho bé ăn mật ong, mứt,
bơ. Đây là các thực phẩm có nhiều đường và tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây dị ứng cho bé.
1.7 Kết luận
Kết quả của chế độ dinh dưỡng trẻ sơ sinh thành công khi đứa trẻ khỏe mạnh trong cả
hai hình thức (cân nặng, chiều cao và thành phần cơ thể) và chức năng (tinh thần và phát
triển thể chất). Sữa mẹ là nguồn lý tưởng cho trẻ sơ sinh 6 tháng đầu và nó cũng giúp bảo
vệ chống lại nhiễm trùng. Khi cho con bú chấm dứt, sau đó sữa công thức cung cấp một
thức uống bổ dưỡng hơn sữa bò, trong khi thức ăn đặc hơn dần dần được thay thế trong
thời gian cai sữa để cung cấp các yêu cầu ngày càng cao của năng lượng và chất dinh
dưỡng thiết yếu, đặc biệt là iron và protein.

3. DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM ĐỘ
TUỔI ĐI HỌC
2.1 Giới thiệu
Sự phát triển thể chất của học sinh trong độ tuổi từ 6-8 là kết quả từ sự ảnh hưởng hai
yếu tố di truyền và môi trường cùng với sự tương tác giữa các yếu tố khác [14].Sự nghèo
nàn, thiếu thốn về vật chất và tinh thần ở nơi sinh sống là lý do chính ảnh hưởng trực tiếp
đến thể chất của trẻ em trong độ tuổi này,ngoài ra các yếu tố khác từ môi trường khác như
sự thiếu thốn về thực phẩm, bệnh tật, thiếu vệ sinh và sự kém phát triển về dịch vụ y tế [15].
Sự phát triển nhằm bắt kịp độ tuổi ở trẻ em suy dinh dưỡng sẽ giảm bớt sau hai tuổi,
đặc biệt là trẻ em sống trong môi trường nghèo nàn, thiếu thốn [16].Một nghiên cứu gần đây
ở Philippinges đã chỉ ra rằng sự phát triển của trẻ em suy dinh dưỡng từ 2-8,5 tuổi có thể

23

được cải thiện, khi trẻ sinh thiếu cân hoặc suy dinh dưỡng nặng lúc sơ sinh [17].Tuy nhiên
sự suy dinh dưỡng lúc 2 tuổi sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển sau này, vì vậy nên cần chú
trọng các biện pháp ngăn ngừa bệnh thấp còi ở trẻ nhỏ ngay từ giai đoạn đầu [18].
Trong công việc và học tập, cả bữa ăn sáng và bữa ăn trưa đều rất quan trọng nó giúp
cung cấp và cải thiện kết quả học tập ảnh hưởng đến sự phát triển của quốc gia [19]. Tránh
không cho trẻ bị đói sẽ giúp trẻ em học tập tốt hơn. Những trẻ em đang đói sẽ khó tập Các
số liệu về sự phát triển của trẻ em ở độ tuổi đi học được điều tra và khảo sát một cách chi
tiết ở các quốc gia trong khoảng thời gian dài, điều đó thật không dễ dàng. Các dữ liệu
chính xác nhất lấy được từ cuộc tổng điều tra chiều cao ở trẻ em tiểu học bắt đầu từ năm
1979 ở 11 quốc gia ở Mỹ Latinh và vùng Caribean [20][21].Số liệu điều tra chiều cao của học
sinh đã được sử dụng để đưa ra các kế hoạch, chính sách, đánh giá và vận động về dinh
dưỡng ở Hoa Kỳ [22] .Thông tin này cho phép chính phủ và các tổ chức và cơ sở khác phát
hiện sự chậm phát triển, để sàng lọc các vấn đề và đưa ra cách khắc phục, nhắm tới mục
tiêu là ổn định xã hội, an ninh dinh dưỡng và phát triển con người[20][21][23-31].
Tình trạng thấp còi rất phổ biến ở Mỹ Latinh và vùng Caribean. Trong bốn nước điều
tra và khảo sát, hơn một phần ba trẻ em trong trường học bị thấp còi. Ở Guatemala và
Peru tỷ lệ thấp còi tương ứng là 50,6% và 48%. Guatemala, Honduras, và Peru cho thấy
tỷ lệ thấp còi cao hơn 20 lần so với dự kiến. Tỷ lệ cũng tương tự cũng được tìm thấy ở
khu vực “Quan hệ đối tác vì sự phát triển của trẻ em” (Partnership for Child
Development) trong nghiên cứu ở 5 quốc gia (Ghana, India, Indonesia, Tanzania và Việt
Nam) về bệnh thấp còi ở học sinh [32].
Xu hướng thấp còi của trẻ học sinh được minh họa trong biểu đồ 3.1 và 3.2 cho Costa
Rica và Honduras. Ở Costa Rica, thấp còi giảm từ 20,4% xuống còn 7,5% trong giai đoạn
1979-1997, cho thấy một sự cải thiện tích cực trong việc đáp ứng nhu cầu và nâng cao
chất lượng cuộc sống, bao gồm chăm sóc y tế và các dịch vụ khác. Giai đoạn này được
xem xét và thực hiện bằng cách bảo đảm một chính sách về thực phẩm và an ninh dinh
dưỡng cao, đó là kết quả trong việc cải thiện cuộc sống của công dân trong giai đoạn kinh
tế kém phát triển. Tại Honduras, tỉ lệ thấp còi tăng vì sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh
tế xã hội của đất nước trong khoảng thời gian này.