Tải bản đầy đủ
4 Cho trẻ sơ sinh bú sữa

4 Cho trẻ sơ sinh bú sữa

Tải bản đầy đủ

15

(IgA), các tế bào bạch cầu hơn sữa thường, cho trẻ bú sớm sẽ tận dụng được nguồn sữa
non, giúp trẻ tăng sức đề kháng, chống lại bệnh tật.
Protein trong sữa bao gồm: casein, albumin và globulin. Tuy tổng lượng protein trong
sữa mẹ ít hơn trong sữa bò nhưng sữa mẹ có nhiều albumin và globulin thích hợp với khả
năng tiêu hoá của trẻ. Dưới tác dụng của men tiêu hoá, protein của sữa mẹ sẽ vón lại
thành những hạt nhỏ rất dễ tiêu. Ngược lại, protein của sữa bò đa số là casein sẽ vón lại
thành những cục sữa đặc khó tiêu hoá hơn.
Lipid trong sữa mẹ có nhiều acid béo không no là những chất dễ tiêu hoá và cần thiết
cho sự phát triển của trẻ. Khả năng thủy phân chất béo của men lipase có trong sữa mẹ
mạnh hơn sữa bò đến 15 - 25 lần.
Sữa mẹ có nhiều lactose, chủ yếu là β-lactose, là môi trường tốt kích thích sự hoạt
động của các vi khuẩn lên men chua làm tăng sự tiêu hoá sữa, đồng thời lại ức chế sự hoạt
động của vi khuẩn gây thối. Ngược lại sữa bò có chứa nhiều lactose là môi trường tốt cho
vi khuẩn có hại hoạt động, vì vậy trẻ bú sữa bò thường hay bị rối loạn tiêu hoá hơn. Sữa
mẹ có nhiều vitamin A, C, D, B 2 hơn sữa bò. Bú mẹ giúp trẻ phòng bệnh khô mắt do thiếu
vitamin A, còi xương...Lượng calcium, iron trong sữa mẹ tuy ít, nhưng tỷ lệ hấp thu cao
nên bú sữa mẹ trẻ ít bị còi xương và thiếu máu.
Sữa mẹ chứa nhiều men, hormone, kháng thể là những chất mà sữa bò không có. Mặt
khác sữa mẹ còn chứa các globulin miễn dịch bài tiết (SIgA) cùng với các đại thực bào có
tác dụng bảo vệ, chống dị ứng. Vì vậy trẻ bú mẹ ít bị các bệnh tiêu chảy, bệnh về hô hấp
và ít dị ứng, chàm… hơn trẻ uống sữa bò.

1.5.1.1 Sữa non
Sữa non đặc biệt giàu immunoglobulin A (SIGA) với đặc tính chống nhiễm trùng.
Albumin, cholesterol, phospholipid, vitamin A, E và nồng độ K, soldium, zinc và
selenium cũng tương đối cao. nước, lactose và nồng độ triglycerid là tương đối thấp.
1.5.1.2 Sữa trưởng thành
1.5.1.2.1 Chất béo
Trong 2 tuần đầu tiên cho con bú, các triglyceride chất béo trong sữa tăng đến hơn
98%. Chất béo chiếm khoảng 54% tổng năng lượng trong sữa trưởng thành. Các chất béo
đóng vai trò quan trọng về thể chất và giúp bảo vệ chất béo từ lipolysis và quá trình oxy
hóa. Chất béo của sữa mẹ bao gồm 42% các acid béo bão hòa. Nó bị thủy phân chủ yếu là

16

P-monoglycerides và được hấp thu dễ dàng. Sữa mẹ có chứa các acid béo thiết yếu là
linoleic và α-linolenic và cũng là chuỗi dài acid béo không bão hòa đa nguồn gốc (LCPs).
LCPs có thành phần cấu trúc và chức năng của màng tế bào và là tiền chất của
eicosanoids. Đối với trẻ sinh non, chế độ ăn uống DHA rất cần thiết cho chức năng tối ưu
trong hệ thống thần kinh, phát triển thị giác và nhận thức.
1.5.1.2.2 Protein
Trong sữa trưởng thành bao gồm casein và whey protein với tỷ lệ là 40/60. Trong
whey protein, hơn một phần ba là α-lactalbumin. Các casein và α-lactalbumin cung cấp
các axit amin thiết yếu. Whey protein quan trọng khác là SIGA, lactoferrin và lysozyme,
bảo vệ chống lại nhiễm trùng. Các nghiên cứu cho thấy vai trò của con bú giúp ngăn ngừa
hoặc cải thiện vi nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh. Trẻ bú sữa mẹ trong hơn 3 tháng giúp bảo vệ
chống tiêu hóa và chống nhiễm trùng đường hô hấp. Cho con bú cũng để bảo vệ chống
các biểu hiện của dị ứng.
Nhiều whey protein hoạt động như enzymes bao gồm lysozyme, đó là vi khuẩn và
lipases, α-amylase, antiproteases và lactoperoxidase. Whey protein nhỏ khác gắn
corticosteroid, thyroxin, folate, vitamin D và vitamin B 12. Các casein bao gồm β-casein
với lượng nhỏ kappa-casein liên kết với nhau với các ion vô cơ, chủ yếu là calcium và
phosphate để hình thành các mixen nhỏ.
1.5.1.2.3 Nitrogen phi protein
Khoảng một phần tư tổng số nitơ trong sữa trưởng thành không phải là ở dưới dạng
protein. Nitrogen phi protein này, một nửa là urea và phần còn lại nhiều loại hợp chất
khác nhau. Chúng bao gồm các carbohydrate có chứa nitrogen chủ yếu là glucosamines
mà còn oligosaccharides kết hợp N-acetyl acid neuraminic. Nitrogen phi protein cũng bao
gồm các nucleotide, acid nucleic, polyamine, peptide hoạt tính sinh học như biểu bì, thần
kinh và insulin như yếu tố tăng trưởng, prolactin, thyroxin, kích thích tuyến giáp hormone
và thyrotrophin releasing hormone và calcitonin, choline và amino alcohols khác, taurine
và carnitine, creatinin, creatin, acid uric và amoniac. Urea đóng vai trò như một nguồn
nitrogen cho trẻ bị tổn hại nhưng không đến mức độ đáng kể ở trẻ sơ sinh bình thường.
Nhiều yếu tố tăng trưởng như nucleotide và polyamine xuất hiện để kích thích tăng
trưởng và trưởng thành của ruột trẻ sơ sinh. Các carbohydrate có chứa nitrogen xuất hiện

17

gây ảnh hưởng đến hệ vi sinh đường ruột. Tuy nhiên, đối với hầu hết các phần, các chức
năng và tầm quan trọng của các hợp chất nitrogen phi protein vẫn chưa được biết.
1.5.1.2.4 Carbohydrate
Trong lactose có hơn 80% carbohydrate trong sữa trưởng thành, khoảng 38% tổng
năng lượng của nó. Không giống như các thành phần sữa khác, nồng độ lactose thay đổi.
Lactose là sản phẩm thủy phân galactose. Lactose không được hấp thu được chuyển thành
acid lactic bởi các vi sinh đường ruột dẫn đến pH thấp ức chế sự tăng trưởng của nhiều tác
nhân gây bệnh và cũng làm tăng khả năng hòa tan và hấp thu calcium.
1.5.1.2.5 Vitamin
Trong các loại vitamin, đặc biệt là vitamin tan trong chất béo có liên quan đến lượng
vitamin và tình trạng của người mẹ. Tuy nhiên sự thiếu hụt vitamin hiếm khi xảy ra ở trẻ
bú sữa mẹ. Ngay cả khi có sự thiếu hụt thiamin đặc hữu và nồng độ sữa thấp thì bệnh
beri-beri cũng hiếm khi xuất hiện. Sữa có hàm lượng vitamin B 12 rất thấp nhưng khả dụng
sinh học của nó cao do một yếu tố chuyển giao trong sữa. Bệnh còi xương không xảy ra ở
trẻ sơ sinh bú sữa mẹ. Nguyên nhân là thiếu tiếp xúc với ánh sáng mặt trời (UV-B) để sản
xuất cholecalciferol không phải chế độ ăn uống thiếu vitamin D. Trong trường hợp như
vậy, phòng bệnh bằng cách bổ sung vitamin D cho các bà mẹ. Các thành phần quan trọng
khác của sữa mẹ bao gồm nước, các tế bào. Lượng nước của một trẻ sơ sinh bú sữa mẹ
hoàn toàn đủ ngay cả khi điều kiện khí hậu nóng. Các tế bào khác nhau bao gồm trong thứ
tự của các đại thực bào tập trung các tế bào lympho và bạch cầu trung tính. Cùng với
SIGA, lactoferrin, lysozyme, immunoglobulins và các enzyme bảo vệ niêm mạc ruột non
của trẻ sơ sinh chống lại sự xâm nhập của các vi sinh vật; chúng cũng ức chế sự tăng
trưởng của một số tác nhân gây bệnh, nguy hiểm khác và kích thích sự trưởng thành biểu
mô và tăng cường sản xuất enzyme tiêu hóa. Sữa mẹ cũng kích thích sự phát triển của hệ
miễn dịch riêng của trẻ sơ sinh. Vì vậy, sẽ giúp bảo vệ trẻ chống lại nhiễm trùng một cách
đáng kể và lâu dài.
1.5.1.3 Sữa công thức
Sữa bò tươi chưa qua biến đổi rất khác so với sữa mẹ và nó không phù hợp với trẻ sơ
sinh. Lý do chính là do protein rất cao, soldium, calcium, phosphorus và clorua nồng độ
của nó đã vượt quá nhu cầu và thận của trẻ sơ sinh chưa phát triển hoàn toàn. Vì vậy cần

18

qua chế biến để loại bỏ các vấn đề đó. Một loạt các loại sữa công thức đã nổi lên, có thành
phần được dựa trên kiến thức hiện nay của chúng ta về nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ ở lứa
tuổi và giai đoạn phát triển khác nhau.Vì vậy thành phần của các loại sữa công thức đang
thay đổi. Tuy nhiên, vẫn còn một chặng đường dài để thay đổi, đặc biệt về thành phần
công thức cho trẻ sơ sinh nhẹ cân và sơ sinh bị bệnh rất thấp. Việc cung cấp các đặc tính
chống nhiễm khuẩn chưa được vạch ra. Thành phần của hầu hết các loại sữa, kể cả sữa
mẹ đều chứa protein, gồm protein whey và casein. Sữa mẹ có chứa nhiều whey nên trẻ dễ
tiêu hóa hơn, trong khi đó sữa công thức chứa nhiểu casein nên tiêu hóa chậm hơn. Và vì
thế, trẻ bú bình sẽ no lâu hơn và mẹ có thể kéo dài khoảng cách giữa các lần cho bé ăn.
Những loại sữa công thức dành cho trẻ sơ sinh thường được phân chia theo giai đoạn
phát triển:
– Sữa dành cho giai đoạn đầu, thích hợp cho trẻ từ khi mới sinh: Nhóm sản phẩm sữa
này chỉ dành cho trẻ đến 12 tháng tuổi. Thông thường, các sản phẩm được làm từ sữa bò,
nhưng cũng có thể được làm từ sữa đậu nành hoặc sữa dê. Trừ khi có một lý do bất khả
kháng nào đó mà không thể dùng nó, sữa công thức làm từ sữa bò vẫn là một chọn lựa tối
ưu.
– Sữa bổ sung thêm tinh chất: thường được dùng cho những em bé thường nôn trớ
(Đó chính là tình trạng các chất chứa đựng trong dạ dày như thức ăn, dịch dạ dày, dịch
mật… bị tống ra ngoài theo đường miệng) sau khi ăn. Đây là loại sữa chỉ sử dụng khi có
sự hướng dẫn của các chuyên gia.
– Sữa công thức dành cho trẻ sinh non thiếu tháng: Loại sữa này không thích hợp
cho trẻ đủ tháng hoặc những trẻ sinh non nhưng đã đuổi kịp tốc độ phát triển của các trẻ
sinh đủ ngày trừ khi có sự hướng dẫn của chuyên gia.
Sữa công thức tiêu chuẩn chứa 20 kcal/ounce và 0,45 gam protein/ounce. Sữa công
thức dựa trên sữa bò thích hợp cho hầu hết các trẻ sơ sinh đủ tháng và sinh non.
1.6 Chế độ dinh dưỡng phù hợp cho trẻ sơ sinh
Tất cả các chuyện liên quan tới chuyện ăn uống hằng ngày của bé (giai đoạn từ 0 – 12
tháng tuổi) được hiểu là dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh. Chế độ dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh có
nhiều cách phân loại, phổ biến nhất là theo độ tuổi: 0 – 6 tháng tuổi; 6 – 10 tháng tuổi và
10 – 12 tháng tuổi. Tùy từng giai đoạn, mẹ có những cách thiết lập chế độ dinh dưỡng cho
bé phù hợp.
Bé từ 0 – 6 tháng tuổi

19

Sữa mẹ được coi là nguồn dinh dưỡng chủ yếu, lành mạnh nhất cho sự phát triển của
bé trong giai đoạn này. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo, mẹ nên nuôi con hoàn
toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, bởi:
• Sữa mẹ là nguồn dưỡng chất tự nhiên, rất phù hợp với dạ dày còn non nớt của trẻ sơ sinh,
giúp bé dễ tiêu hóa hơn (trong sữa mẹ chứa nhiều đạm whey – loại đạm dễ tiêu hóa)
• Sữa mẹ giúp tăng cường hệ miễn dịch nhờ chứa nhiều dưỡng chất cần thiết và các chủng
vi sinh vật có lợi probiotics (bifidobacteria và lactobacilli)
• Sữa mẹ giúp bé hạn chế nguy cơ bệnh tật và phát triển nhận thức tốt hơn.
Tuy nhiên, từ 0 – 6 tháng tuổi, do bé chưa ăn được nhiều, các cữ bú trong ngày cần
được mẹ chia nhỏ theo một “thời gian biểu” phù hợp với cơ địa và khả năng ăn uống của
con. Mẹ có thể tham khảo bảng gợi ý lượng sữa mẹ trẻ cần theo cân nặng dưới đây (áp
dụng đối với những mẹ hút sữa cho con ti bình):
Bảng 1: Lượng sữa mẹ trẻ cần theo cân nặng (áp dụng đối với những mẹ cho con
uống bình ti).

CÂN NẶNG

TỔNG LƯỢNG SỮA CẦN
TRONG NGÀY

LƯỢNG SỮA CẦN MỖI
CỮ
(TB 8 cữ một ngày) theo ml

2.265 GR

390ml

48.75

2.491 GR

429 ml

53.625

2.718 GR

467 ml

58.375

2.944 GR

507 ml

63.375

3.171 GR

546 ml

68.25

3.397 GR

584 ml

73

3.600 GR

639 ml

79.875

3.850 GR

664 ml

83