Tải bản đầy đủ
2 Phân tích các cơ sở xây dựng chiến lược của nhà máy thuốc lá 27/7

2 Phân tích các cơ sở xây dựng chiến lược của nhà máy thuốc lá 27/7

Tải bản đầy đủ

28
6.300,0
6.200,0
6.100,0
6.000,0
5.900,0
5.800,0
5.700,0
5.600,0
5.500,0
5.400,0
Tỷ điếu

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

5.668,5

5.732,5

5.845,2

5.918,0

6.013,9

6.140,9

6.200,0

Hình 2.3

Tổng sản lượng thuốc lá điếu toàn cầu

Nguồn: Tobacco Merchant Association
Hiện nay châu Á là khu vực sản xuất thuốc lá điếu hàng đầu thế giới. Trong đó
Trung Quốc là quốc gia sản xuất và tiêu thụ thuốc lá lớn nhất thế giới với sản lượng năm
2007 trên 2.142 tỷ điếu, số người hút thuốc lá vào khoảng 364 triệu người với tỷ lệ
33,1% người trưởng thành.
Hoa Kỳ là nước sản xuất thuốc lá thứ 2 trên thế giới, sản lượng năm 2007 là 450 tỷ
điếu. Giai đoạn 2002-2007 sản lượng thuốc lá điếu của Hoa Kỳ giảm bình quân
5,9%/năm tuy nhiên giá trị thị trường lại tăng 3,9% trong giai đoạn này do giá bán sản
phẩm tăng trung bình 10,4%. Những nước sản xuất thuốc lá điếu nhiều nhất khu vực
châu Âu là Nga, Đức, Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha và Pháp.

2.142

450

Trung Quốc

Hoa Kỳ

410

Nga

239

Indonesia

214

Đức

189

Nhật Bản

Hình 2.4 Các quốc gia sản xuất thuốc lá điếu hàng đầu thế giới 2007 (tỷ điếu)
Nguồn: Tobacco Merchant Association
Ở Việt Nam, thuốc lá là ngành công nghiệp ra đời từ rất sớm so với các ngành

29

khác. Vào những năm đầu thế kỷ 20, nước Pháp đã tổ chức chương trình khai thác thuộc
địa, tập trung vào việc khai thác than, mở đồn điền cao su và một số nhà máy công
nghiệp nhẹ, trong đó có công nghiệp thuốc lá. Khởi đầu cho công nghiệp thuốc lá Việt
Nam là sự ra đời của hãng thuốc lá MIC – Manufacture Indochinoise de Cigarettes (1929
– Nhà máy thuốc lá Sài Gòn) và hãng J Batos (1936 – Nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội) .
Kể từ sau năm 1975, ngành thuốc lá Việt Nam bao gồm một số xí nghiệp nguyên
liệu thuốc lá và 04 nhà máy sản xuất thuốc lá điếu ở cả 2 miền Nam, Bắc. Đến năm 1981
ngành thuốc lá được tổ chức lại gồm 2 Xí nghiệp liên hợp: Xí nghiệp Liên hợp Thuốc lá
I ở miền bắc (Nhà máy thuốc lá Thăng Long và Nhà máy thuốc lá Bắc Sơn) và Xí nghiệp
Liên hợp Thuốc lá II ở miền nam (Nhà máy thuốc lá Sài Gòn (MIC) và Nhà máy thuốc lá
Vĩnh Hội (Bastos)). Tổng sản lượng thuốc lá bao toàn ngành năm 1981 là 540,3 triệu bao
Năm 1985, nhằm thực hiện thống nhất tổ chức ngành thuốc lá, tập trung đầu mối
quản lý để thực hiện chương trình mục tiêu phát triển sản xuất thuốc lá, Hội đồng Bộ
trưởng đã ban hành nghị định 108/HĐBT về việc thành lập Liên hiệp các Xí nghiệp
Thuốc lá Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Xí nghiệp Liên hợp Thuốc lá I và Xí nghiệp Liên
hợp Thuốc lá II. Tổng sản lượng thuốc lá bao toàn ngành năm 1985 là 948,7 triệu bao.
Kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ 6 (tháng 12/1986), thực hiện đường lối đổi mới, nền
kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường đã tạo cơ hội và động lực cho sự phát triển của
ngành thuốc lá, đồng thời cũng đặt ngành thuốc lá trước những thách thức to lớn của cơ
chế thị trường. Trong thời gian này, ngoài Liên hiệp thuốc lá Việt Nam, nhiều nhà máy
và xí nghiệp sản xuất thuốc lá địa phương được thành lập đã đưa sản lượng thuốc lá tăng
gần gấp đôi trong giai đoạn 1991 – 1995, đạt 2.041,02 triệu bao và đóng góp cho ngân
sách 1.461,623 tỷ đồng (1995)1. Bên cạnh những thành quả đạt được, những yếu kém bất
cập cũng bắt đầu nảy sinh như do cơ sở pháp lý về quản lý sản xuất kinh doanh thuốc lá
hầu như chưa có, dẫn đến tình trạng sản xuất thiếu kiểm soát, kém hiệu quả, chất lượng
sản phẩm không đảm bảo, việc tranh mua, tranh bán, làm hàng giả, nhập lậu tràn lan, khó
kiểm soát.
Từ năm 2000, quan điểm quản lý ngành thuốc lá của chính phủ là không đầu tư
mới, đầu tư mở rộng qui mô, nâng công suất các cơ sở sản xuất sản phẩm thuốc lá vượt

1

Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam

30

tổng năng lực sản xuất 7,214 tỷ bao/ năm1. Bên cạnh việc hạn chế tổng năng lực sản
xuất, Chính phủ đã có một loạt các biện pháp nhằm sắp xếp lại ngành thuốc lá như: (1)
ban hành một loạt các văn bản qui phạm pháp luật khẳng định : thuốc lá là mặt hàng
không khuyến khích phát triển nhưng cũng không phải là ngành cấm sản xuất, kinh
doanh. Nhà nước kiểm soát các nguồn cung cấp, độc quyền quản lý sản xuất, kinh doanh,
xuất nhập khẩu và tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá; (2) Thực hiện định hướng thu gọn và
tập trung về một vài đầu mối sản xuất kinh doanh thuốc lá trong cả nước thông qua việc
giải thể 7 doanh nghiệp sản xuất thuốc lá. Sáp nhập 5 nhà máy thuốc lá.
Kể từ năm 2005, việc sản xuất thuốc lá tại Việt Nam chủ yếu thực hiện qua 17
doanh nghiệp trong nước (trong đó có 02 doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài) thuộc
06 đầu mối: (1) Tổng công ty thuốc lá Việt Nam, (2) Tổng công ty Công nghiệp Sài gòn,
(3) Tổng công ty Khánh Việt, (4) Tổng công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai, (5)
Công ty dịch vụ công nghiệp và thuốc lá Bình Dương, (6) Công ty 27/7 thành phố Hồ
Chí Minh. Bên cạnh các nhãn hiệu nội địa truyền thống, kể từ năm 1994, thị trường
thuốc lá Việt Nam tiếp nhận sự tham gia của các nhãn hiệu thuốc lá cao cấp nước ngoài
từ các hãng danh tiếng như British American Tobacco (SE 555, Dunhill, Pall Mall),
Japan Tobacco International (Midle Seven, Winston), Philip Morris (Marlboro), RJ
Reynolds Tobacco (Gold Coast, Salem), Rothmans (Caraven”A”, White Horse,
Everest), Sieta (Fine), Imperial Tobacco (West). Do nhà nước độc quyền sản xuất thuốc
lá điếu nên các nhãn hiệu nước ngoài xâm nhập thị trường trong nước chủ yếu dưới hình
thức hợp đồng gia công hoặc nhượng quyền thương hiệu.
Đến nay, ở Việt Nam, thuốc lá đã trở thành một ngành kinh doanh rộng lớn và có
nhiều đóng góp đối với nền kinh tế. Theo thống kê của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam, năm
2009 toàn ngành đã giải quyết việc làm cho hơn 360,000 người lao động, đóng góp 9.633
tỷ đồng cho ngân sách Nhà nước, cao thứ ba, sau dầu khí và điện lực.

1

Quyết định 1959/QĐ-BCT ngày 03/12/2007 của Bộ Công Thương.

31

10.000
8.000
6.000
4.000
2.000
0
Sản lượng (triệu bao)

2005
4.497

2006
4.075

2007
4.577

2008
4.351

2009
4.893

Nộp ngân sách (tỷ đồng)

6.017

6.085

6.338

7.529

9.633

Hình 2.5 Tình hình sản xuất kinh doanh thuốc lá điếu 2005 - 2009
Nguồn Tổng công ty thuốc lá Việt Nam

2.2.2 Đặc điểm thị trường thuốc lá Việt Nam
 Thị trường: thị trường thuốc lá Việt Nam hiện nay được phân thành 3 vùng: (1)
thị trường Miền Bắc bao gồm các tỉnh từ Nghệ An trở ra. Đối với thị trường này, tâm lý
tiêu dùng tương đối ổn định, người tiêu dùng ít thay đổi khẩu vị. Ở phân đoạn thị trường
này sản phẩm của Tổng công ty thuốc lá Việt Nam đang chiếm ưu thế. Sản phẩm cao cấp
tiêu thụ chủ yếu là Vinataba. Thuốc lá nhập lậu ít, thị trường thuốc lá Menthol đang có
chiều hướng gia tăng.
(2) Thị trường Miền Trung bao gồm các tỉnh Trung bộ và các tỉnh Cao nguyên. Đây
là thị trưởng chủ yếu của nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội, Nhà máy thuốc lá Sài Gòn. Sản
phẩm cao cấp là White Horse (BAT) do Nhà máy thuốc lá Khánh Hòa sản xuất. Nhà máy
thuốc lá 27/7 cũng chiếm một thị phần tương đối vững chắc tại một số tỉnh thuộc thị
trường này. Thuốc lá nhập lậu tiêu thụ trên thị trường này nhiều chủ yếu là Zet và Hero.
(3) Thị trường Miền Nam bao gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền đông,
miền tây Nam bộ. Đây là thị trường có tâm lý tiêu dùng dễ thay đổi nhất và lượng thuốc
lá nhập lậu tiêu thụ nhiều nhất. Thị trường Miền Nam, mà đặc biệt là tại thị trường miền
tây Nam bộ, là nơi tiêu thụ sản phẩm của hầu hết các nhà máy, từ các tổng công ty đến
các nhà máy thuốc lá địa phương; là thị trường tập trung rất nhiều chủng loại sản phẩm
và là nơi cạnh tranh diễn ra khá gay gắt. Thuốc lá cao cấp sản xuất trong nước tiêu thụ
trên thị trường này chủ yếu là thương hiệu Caraven “A” (BAT) do Nhà máy thuốc lá Bến

32

Thành sản xuất; thương hiệu 555 SE (BAT) do nhà máy thuốc lá Sài gòn sản xuất và
thương hiệu Malboro (Philip Moris) do Công ty liên doanh Vinasa Cần Thơ sản xuất.
Tại mỗi vùng miền trên, thị trường còn được phân đoạn thành thị trường đô thị và
thị trường nông thôn. Trong đó phân đoạn thị trường đô thị chiếm khoảng 30% thị phần
và tiêu thụ chủ yếu là thuốc lá cao cấp và trung cấp, bao cứng. Thị trường nông thôn
chiếm khoảng 70% thị phần, tiêu thụ chủ yếu các sản phẩm thuốc lá đầu lọc giá thấp, đầu
lọc bao mềm và không đầu lọc.
 Xu hướng tiêu dùng: kể từ năm 1999 trở đi xu hướng tiêu dùng của xã hội
chuyển đổi nhanh từ việc tiêu dùng thuốc lá không đầu lọc sang thuốc lá có đầu lọc cả về
số tuyệt đối lẫn số tương đối. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của thuốc lá đầu
lọc là 16,44% trong khi đó tốc độ giảm bình quân của thuốc lá không đầu lọc là 10,5%.
Không đầu lọc

Đầu lọc

3.786
3.264

2.958
2.411
1.794

346

1999

225

2000

205

2001

108

162
2002

2003

Hình 2.6 Cơ cấu sản phẩm thuốc lá điếu Việt Nam (triệu bao)
– Nguồn : Hiệp hội thuốc lá Việt Nam
Nhìn vào bảng cơ cấu sản lượng sản phẩm của thị trường (hình 2.6) có thể thấy sản
phẩm đầu lọc tăng rất nhanh, từ 1.794 triệu bao năm 1999 trở thành 3.786 triệu bao năm
2003, tăng 2,11 lần. Trong khi đó sản lượng thuốc lá không đầu lọc giảm nhanh từ 346
triệu bao năm 1999 giảm xuống còn 108 triệu bao, giảm gần 70%. Bên cạnh đó sản
lượng sản phẩm nhãn quốc tế cũng tăng nhưng còn ở mức thấp có thể do giá bán cao
hoặc do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm quốc tế nhập ngoại.
 Về khẩu vị (gout): khẩu vị thuốc lá điếu biểu hiện sự ưa thích của người tiêu
dùng ở những vùng miền, có điều kiện kinh tế, khí hậu, tập quán sinh hoạt khác nhau.

33

Khẩu vị của thị trường thuốc lá Việt Nam rất đa dạng và phong phú, bao gồm gu (gout)
Anh, sản xuất từ thuốc lá Virginia vàng sấy, còn gọi là gu Virginia; gu Mỹ, sản xuất từ
thuốc lá Virginia, lá Burley và lá Oriental; gu địa phương, sản xuất từ thuốc lá Virginia
vàng sấy và nâu địa phương. Hiện nay trên thị trường gu địa phương là phổ biến nhất,
chiếm khoảng 77,3% thị phần, gu Anh chiếm khoảng 17,4% còn lại 5,4% thị phần thị
trường của gu Mỹ. Tuy nhiên gần đây, giới trẻ đang có xu hướng chuyển sang sử dụng
gu Mỹ. Gu methol cũng đang có chiều hướng gia tăng, chiếm khoảng 3,79%; xu hướng
sử dụng thuốc lá Light đang được hình thành. Dự kiến, xu hướng tăng trưởng kinh tế xã
hội ngày một cao thì sản phẩm thuốc lá phổ thông giảm, sẽ tác động đến gu địa phương
cũng giảm.
 Về quy cách chủng loại: loại phổ biến nhất tại thị trường Việt Nam là loại Kingsize (chiều dài điếu thuốc 83-88mm), bao 20 điếu. Một số loại bao cứng 10 điếu, bao
mềm 6 điếu đang được phát triển để thăm dò thị trường. Bao dẹt chỉ phát triển ở một số
loại sản phẩm (Dunhill) và chưa trở thành thông dụng. Riêng loại 100’s (100mm) chỉ có
thương hiệu Hello của Nhà máy Thuốc lá 27/7 sản xuất.
2.2.3

Tình hình nội bộ của công ty 27-7

2.2.3.1 Phân tích nguồn lực:
 Nguồn lực tài sản: do hạn chế phát triển, nên Chính phủ quy định không đầu tư mở
rộng các cơ sở sản xuất thuốc lá vượt quá tổng năng lực sản xuất tại thời điểm tháng
8/2000. Vì vậy trình độ công nghệ của ngành thuốc lá Việt Nam khá lạc hậu so với thế
giới. Chỉ ngoại trừ một số nhà máy lớn liên doanh, liên kết với các tập đoàn thuốc lá
nước ngoài để sản xuất các sản phẩm nhượng quyền như SE 555, Marlboro, Everest,
Virgina, Gold... thì trang thiết bị mới ở tầm trung bình của thế giới, nhưng cũng chỉ dùng
để sản xuất các sản phẩm nhượng quyền. Hầu hết các nhà máy còn lại, thiết bị chủ yếu
được trang bị từ những năm 60 của thế kỷ trước.
Đối với Nhà máy thuốc lá 27/7, mặt dù được thành lập từ năm 1995 tuy nhiên ban
đầu chỉ là một xưởng sản xuất thuốc lá nhỏ, việc sản xuất chủ yếu là thuê gia công từ bên
ngoài. Từ năm 1999 Nhà máy thuốc lá 27-7 mới bắt đầu tư dây chuyền sản xuất thuốc lá
tự động. Năm 2000 hoàn thành và đưa vào sử dụng dây chuyền chế biến sợi, dây chuyền
vấn điếu, ghép đầu lọc và đóng bao tự động với tổng công suất 170 triệu gói/năm. Mặt
dầu đã từng bước tự động hóa và hiện đại hóa sản xuất, tuy nhiên do bị hạn chế bởi Nghị

34

quyết 12/2000/NQ-CP ngày 14.8.2000 của Chính phủ, nên từ năm 2000 đến nay, công
suất sản xuất của Nhà máy duy trì ở vị trí thứ 11/17 đơn vị trong ngành, chỉ chiếm gần
2,5% tổng năng lực sản xuất toàn ngành và chưa đến 10% Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn,
doanh nghiệp có năng lực sản xuất lớn nhất ngành. Như đã phân tích ở trên, tuy năng lực
sản xuất nhỏ nhưng trình độ công nghệ của Nhà máy cũng tương đương với các doanh
nghiệp khác cùng ngành, đang cạnh tranh trong cùng một phân khúc thị trường.

Cty LD Vinasa
1%
Cty CNTL Bình
Dương
4%

Cty TL Đà Nẵng
2%

TCT CNTP Đồng Nai
5%
TCT Khánh Việt
8%
TCT CN Sài Gòn
8%

Nhà máy TL 27/7
2%

TCT TL Viêt Nam
70%

Hình 2.7: Năng lực sản xuất thuốc lá điếu toàn ngành (phụ lục 2)

Tháng 12 năm 2001 Nhà máy hoàn thành đầu tư và đưa vào sử dụng dây chuyền
tách cọng lá thuốc nguyên liệu với công suất 2,5 tấn/giờ. Hiện nay Nhà máy thuốc lá 277 là một trong 4 nhà máy của toàn ngành, có dây chuyền tách cọng (3 nhà máy còn lại là
Công ty cổ phần Ngân Sơn ở Bắc Ninh, Công ty cổ phần Hòa Việt ở Đồng Nai và Công
ty thuốc lá Đà Nẵng). Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh cốt lõi của nhà máy, đặc
biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi giá nguyên liệu giảm và ngành thuốc lá Việt Nam
đang trở thành cơ sở gia công tách cọng thuốc lá cho thị trường Trung Quốc và một số
quốc gia khác.
Qua quá trình phát triển, đến nay Công ty 27-7 đã tạo dựng được một hệ thống
nhà xưởng tương đối lớn, không phải đi thuê, thuận lợi cho việc dự trữ nguyên liệu, mở
rộng qui mô sản xuất, mở rộng sang lĩnh vực chế biến nguyên liệu thuốc lá cũng như tiết
kiệm chi phí sản xuất cho Nhà máy thuốc lá 27-7. Hiện nay Công ty đang sở hữu 4 khu
mặt bằng đã được Uỷ ban nhân dân thành phố giao với tổng diện tích 42.298m2. Trong

35

đó, nhà xưởng do Công ty đầu tư xây dựng tại các vị trí này là 24.305m2 vói tổng giá trị
22,445 tỷ đồng. Nhà máy thuốc lá được bố trí trên khuôn viên 17.980m2 tại huyện Hóc
Môn với 10.935m2 nhà xưởng đã được xây dựng hoàn chỉnh. Bên cạnh đó, Công ty 27-7
cũng được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước giao 258 ha đất tại huyện Phước Long để
triển khai dự án trồng cây công nghiệp và phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá. Đây cũng
là một lợi thế lớn so với các công ty sản xuất thuốc lá điếu trong ngành.
 Nguồn lực tài chính: Cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác, nguồn lực tài
chính luôn là hạn hẹp đối với Công ty 27-7 nói chung và Nhà máy thuốc lá 27-7 nói
riêng. Sau nhiều năm nổ lực phát triển, chỉ trong vòng chưa đến 10 năm, Công ty đã nâng
vốn chủ sở hữu lên gần 15 lần: từ 2,411 tỷ đồng (2000) lên 31,122 tỷ đồng (2008). Tuy
nhiên, do yêu cầu phát triển của ngành, để đảm bảo khả năng cạnh tranh thì chỉ riêng
việc đầu tư vào máy móc thiết bị và nhà xưởng cũng đã chiếm trên 84,397 tỷ đồng
(2009), bằng 2,65 lần vốn chủ sở hữu, vì vậy khả năng tự tài trợ của Công ty là rất thấp.
Bảng 2.3: MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ KHẢ NĂNG VAY NỢ
STT

Chỉ tiêu tài chính

2006

2007

2008

2009

1

Tỷ số nợ – Tn

0,79

0,81

0,78

0,80

2

Khả năng thanh toán tổng quát - Ktq

1,27

1,24

1,28

1,25

3

Khả năng thanh toán ngắn hạn - Kng

0,87

0,83

0,71

0,91

4

Hệ số thích ứng dài hạn của TSCĐ - Ktu

1,12

1,21

1,30

1,09

(tính toán của tác giả từ báo cáo tài chính Công ty)
Mặt dù khả năng tự tài trợ thấp nhưng khả năng vay nợ của Công ty lại khá cao. Điều
này là do khối lượng tài sản hiện hữu đảm bảo khả năng vay nợ, đặc biệt là các tài sản là
máy móc thiết bị sản xuất thuốc lá điếu. Bên cạnh đó, Công ty đảm bảo dòng tiền để
thanh toán các khoản nợ đến hạn nên có đủ uy tín vay nợ. Bảng 2.3 cho thấy khả năng
vay nợ của Công ty là khá tốt và ổn định. Một đồng tài sản sử dụng của Công ty được tài
trợ bởi 0,8 đ vay nợ. Khả năng thanh toán tổng quát của Công ty được đảm bảo (Ktq > 1).
Tuy nhiên, khả năng thanh toán các nguồn vốn ngắn hạn bị hạn chế do Công ty đang sử
dụng nguồn vốn ngắn hạn cho những đầu tư dài hạn (Ktu > 1). Điều này tiềm ẩn một số
rủi ro về tài chính, đòi hỏi Công ty phải cơ cấu lại nguồn vốn. Tuy nhiên xu hướng này
cũng đã được cải thiện theo hướng tích cực vào năm 2009.

36

 Nguồn nhân lực: Trong quá trình xây dựng và phát triển, Nhà máy luôn xem nguồn
nhân lực là yếu tố cốt lõi, là tài sản quý của nhà máy. Vì vậy chính sách nhân sự tại nhà
máy được xây dựng với mục tiêu biến nhân lực thành lợi thế cạnh tranh hàng đầu của
nhà máy. Nếu vào những năm 1990 từ công nhân đến cán bộ quản lý của Nhà máy chủ
yếu là thương binh, bộ đội xuất ngũ và lao động thuộc diện chính sách thì tính đến năm
2009, toàn nhà máy có 350 lao động, trong đó 14% cán bộ nhân viên có trình độ cao
đẳng, đại học, 1 cán bộ quản lý có trình độ tiến sĩ và 1 thạc sĩ. Toàn bộ cán bộ kỹ thuật,
phối chế của nhà máy có trình độ đại học và kinh nghiệm gần 20 năm trong ngành sản
xuất thuốc lá. Các cán bộ giám sát thị trường đều là những người có thâm niên cao trong
ngành thuốc lá và hầu hết đã gắn bó với Nhà máy trên 10 năm. Công nhân kỹ thuật có
tay nghề, làm chủ được máy móc thiết bị. Năm 2008-2009 Nhà máy bắt đầu cải tiến chế
độ tiền lương theo hướng khuyến khích sự sự thành đạt trong công việc, khuyến khích
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sự gắn bó lâu dài với công ty. Bước đầu xây
dựng tiêu chuẩn chức danh chuyên môn, nghiệp vụ làm cơ sở cho việc tuyển dụng và đào
tạo cán bộ, nhân viên Nhà máy. Hiện nay nhà máy đang xây dựng bộ tiêu chuẩn và quy
chế thi nâng ngạch, nâng bậc cho toàn bộ lực lượng lao động. Tuy nhiên, cũng như nhiều
doanh nghiệp trong ngành, Nhà máy chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc thực hiện
các chương trình phát triển quản trị và huấn luyện nhân viên một cách thường xuyên.
2.2.3.2 Phân tích chuỗi giá trị:
 Sản xuất: Quy trình sản xuất thuốc lá điếu1 được bắt đầu từ quá trình tuyển chọn và
thu mua lá nguyên liệu đã qua quá trình sơ chế bằng các phương pháp sấy, nhằm làm
lượng tinh bột trong lá chuyển thành đường. Lá nguyên liệu sau sơ chế sẽ được chế biến
ở phân xưởng tách cọng. Quá trình tách cọng không chỉ tách gân lá ra khỏi lá nguyên
liệu mà còn trải qua một loạt các công đoạn kiểm tra chất lượng, loại bỏ bất kỳ vật lạ nào
còn sót lại và đảm bảo cho hàm lượng ẩm của nguyên liệu được ở mức an toàn. Lá thuốc
đã qua chế biến sẽ được đóng vào những thùng để đưa đến phân xưởng sợi. Tại phân
xưởng sợi, lá nguyên liệu sẽ được thái thành sợi, tẩm gia liệu (casting flavor), hương liệu
(top flavor) để tạo thành gu thuốc đặc trưng cho từng thương hiệu. Bán thành phẩm từ
phân xưởng sợi sẽ được chuyển sang phân xưởng vấn điếu, ghép đầu lọc để sản xuất
thành thuốc lá điếu. Thuốc lá điếu sẽ được đưa vào dây chuyền đóng bao, dán tem, đóng
tút và cuối cùng được đóng thành thùng chuyển vào kho thành phẩm.
1

Phụ lục 1

37

Quy trình sản xuất trên là quy trình sản xuất thuốc lá điếu khép kín. Tuy nhiên trong
thực tế, chỉ có Nhà máy thuốc lá 27/7 và Công ty thuốc lá Đà Nẵng là 02 đơn vị có quy
trình khép kín. Do đây là 2 trong 4 đơn vị của ngành có hệ thống tách cọng thuốc lá (02
đơn vị còn lại là Ngân Sơn và Hòa Việt là các đơn vị chế biến nguyên liệu thuốc lá).
Sau nhiều năm nổ lực xây dựng qui trình, từ năm 2007 đến nay Nhà máy áp dụng
mô hình sản xuất theo hệ thống kéo. Sản xuất chủ yếu dựa vào yêu cầu thị trường thông
qua hệ thống thông tin thị trường, từ các nhân viên thị trường và các đại lý cấp 1 có mặt
tại các tỉnh thành trong cả nước. Do sản xuất theo hệ thống kéo nên các lô hàng sản xuất
được chia nhỏ, đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra liên tục, lượng tồn kho thành phẩm
thấp làm giảm chi phí lưu kho, tiết kiệm diện tích kho bãi và dễ khắc phục các sai sót
trong quá trình sản xuất.
Hình 2.8 cho thấy, kể từ năm 2007 lượng tồn kho thành phẩm bình quân chỉ ở
mức 125 ngàn bao. Chỉ số tồn kho thành phẩm thuốc lá điếu chỉ chiếm 4,5% tổng sản
phẩm sản xuất trong kỳ so với chỉ số tồn kho thành phẩm của ngành là 12,6% 1 .
Tồn kho thành phẩm (ngàn bao)
363
400

299

300
200

123

102

125

100
2005

2006

2007

2008

2009

Hình 2.8: Lượng tồn kho thành phẩm bình quân qua các năm.
Ngoài các đặc điểm trên, Nhà máy thuốc lá 27/7 còn có một lợi thế đóng góp vào
việc tạo giá trị khách hàng đó là khâu in bao bì thuốc lá. Tất cả các bao bì dùng cho sản
phẩm thuốc lá của Nhà máy đều được cung cấp bởi Xí nghiệp In và Bao bì 27/7. Việc
thực hiện cung cấp bao bì nội bộ vừa giúp hạ giá thành, giảm tồn kho phụ liệu thuốc lá,
giảm áp lực luồng tiền cũng như chủ động được thời gian trong sản xuất của Nhà máy
góp phần quan trọng trong việc thực hiện mô hình sản xuất theo hệ thống kéo.
1

Cục xúc tiến thương mại

38

 Marketing và bán hàng: các thương hiệu thuốc lá nước ngoài tuy mới xuất hiện trở
lại Việt Nam từ thập niên 1990 đến nay, tuy nhiên hiện nay đang chiếm toàn bộ thị
trường thuốc lá cao cấp. Thị trường thuốc lá trung cấp và thuốc lá giá thấp là sự chia sẻ
của các thương hiệu trong nước. Cũng như các nhà máy thuốc lá địa phương, các thương
hiệu thuốc lá của Nhà máy thuốc lá 27/7 tập trung vào phân khúc giá thấp là chủ yếu.
Một vài thương hiệu thuốc lá tham gia vào thị trường thuốc lá trung cấp và có một
thương hiệu thuốc lá Hello (Milk Cigar) tham gia vào phân khúc giá cao. Hiện nay các
thương hiệu thuốc lá của Nhà máy thuốc lá 27/7 được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường miền
tây Nam bộ, Tây Nguyên, nam Trung bộ và một lượng hạng chế tại thị trường miền Bắc
thông qua hệ thống đại lý nhiều cấp.
Hệ thống phân phối của công ty được tổ chức theo nguyên tắc trực tuyến đa kênh.
Các đại lý được phân chia thành 2 cấp: (1) Đại lý cấp 1 được xây dựng tại các khu vực
trung tâm của các tỉnh thành. Là các đại lý lớn, có uy tín trong kinh doanh, có quan hệ tốt
với Nhà máy trong nhiều năm, có tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có hệ thống kho hàng và
mạng lưới tiêu thụ rộng, đảm bảo đạt doanh số tiêu thụ các sản phẩm của nhà máy cao
và ổn định. Đại lý cấp 1 được ký hợp đồng nhận hàng trực tiếp theo yêu cầu tiêu thụ,
được giữ quyền phân phối các sản phẩm của Nhà máy trong phạm vi mạng lưới của
mình. Đại lý cấp 1 là nơi nhận sự hổ trợ về marketing cũng như triển khai các chương
trình thúc đẩy bán hàng của Nhà máy; (2) Đại lý cấp 2 là các đại lý chân rết của cấp 1,
lan tỏa rộng vào các huyện thị, kể cả vùng sâu, vùng xa. Đại lý cấp 2 có quan hệ trực tiếp
và nhận hàng theo nhu cầu từ đại lý cấp 1. Ngoài ra đại lý cấp 2 cũng có thể nhận được
sự hổ trợ về marketing từ phòng thị trường của Nhà máy; Bên dưới các đại lý cấp 2 là hệ
thống phân phối lẻ qua các kênh phân phối mở và đóng. Thông thường, chỉ một số người
bán hàng thuộc hệ thống phân phối mở nhận được sự hổ trợ về maketing của nhà máy.
Bên cạnh hệ thống phân phối trực tiếp trên Nhà máy còn thành lập 04 chi nhánh tại
Hà Nội, Đà Lạt, Tây Ninh và An Giang để phục vụ công tác thị trường, hổ trợ khách
hàng một cách trực tiếp và nhanh chóng hơn. Đây cũng là hệ thống thu thập thông tin thị
trường của nhà máy. Ngoài các nhân viên thị trường Nhà máy giao trực tiếp cho các đại
lý cấp 1 quản lý, tại các chi nhánh còn có đội ngũ nhân viên thị trường và giám sát thị
trường có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến các nhà bán lẻ tại những vùng trống, mà các đại lý
chưa thể tiếp cận vì lý do kinh tế; tạo sự bình ổn giá giữa các vùng thị trường, chống sự
cạnh tranh không lành mạnh giữa các đại lý; triển khai các hoạt động xúc tiến bán hàng