Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ

lên tỷ suất sinh lời bằng cách sử dụng một tập hợp các công ty được niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Như vậy, phân tích của chúng tôi được dựa trên một mẫu bao gồm 288 công ty
phi tài chính được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai
đoạn từ năm 2007 đến năm 2013. Chúng tôi ước lượng cho mô hình hồi quy của
bài nghiên cứu bằng cách sử dụng phương pháp OLS, FEM, REM, và khắc phục
các hiện tượng xảy ra trong mô hình bằng phương pháp GLS
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy rằng quản lý vốn luân chuyển ảnh hưởng
đáng kể lên tỷ suất sinh lời của các công ty Việt Nam và với mức ý nghĩa thống
kê cao .
Bài nghiên cứu cũng phân tích các thành phần khác nhau của vốn luân chuyển có
ảnh hưởng thế nào đến lợi nhuận của các công ty.
Vì vậy, nghiên cứu này sẽ giúp kiểm tra hiệu quả của các công ty được niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong việc quản lý các khoản phải thu,
hàng tồn kho và các khoản phải trả. Do đó góp phần vào việc đưa ra các chính
sách tối ưu trong quản lý tài chính công ty.
Quản trị vốn luân chuyển và ý nghĩa của nó được làm rõ trước khi tiến hành
phần tiếp theo.
Việc quản trị vốn luân chuyển liên quan đến việc ra quyết định về số lượng và
thành phần của tài sản hiện tại và làm thế nào để tài trợ cho tài sản đó. Tài sản
ngắn hạn bao gồm tất cả những tài sản trong quá trình hoạt động kinh doanh trở
lại với hình thức tiền mặt trong một thời gian ngắn, thông thường trong vòng
một năm, và các khoản đầu tư tạm thời có thể được dễ dàng chuyển đổi thành
tiền mặt khi cần thiết (Raheman và Nasr, 2007 ).
Quản lý vốn luân chuyển hiệu quả liên quan đến việc lập kế hoạch và kiểm soát
tài sản hiện tại và nợ ngắn hạn một mặt để ngăn chặn nguy cơ của một công ty
không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn, mặt khác để tránh đầu tư quá

mức vào các tài sản này (Eljelly, 2004). Nhiều cuộc khảo sát đã chỉ ra rằng các
nhà quản lý dành thời gian đáng kể cho các vấn đề có liên quan đến quyết định
đầu tư vào vốn luân chuyển (Raheman và Nasr, 2007). Một lý do cho việc mất
khá nhiều thời gian để đưa ra quyết định là do tài sản ngắn hạn là đầu tư trong
thời gian ngắn mà vẫn tiếp tục được chuyển đổi thành các loại khác (RAO,
1989). Đối với các khoản nợ ngắn hạn và các nghĩa vụ, công ty có trách nhiệm
thanh toán một cách kịp thời. Tóm lại, quyết định đầu tư bao nhiêu vào các thành
phần khác nhau của vốn luân chuyển trở nên thường xuyên, lặp đi lặp lại, và mất
thời gian (Raheman và Nasr, 2007).
Phương thức quản lý vốn luân chuyển tác động như thế nào đến thanh khoản và
lợi nhuận của công ty là nội dung nghiên cứu của Shin và Soenen năm 1998;
Dong và Su, 2010. Mục tiêu cuối cùng của bất kỳ công ty nàolà tối đa hóa lợi
nhuận. Tuy nhiên, duy trì tính thanh khoản của cũng là một mục tiêu quan trọng
(Shin và Soenen,1998; Raheman và Nasr, 2007). Nó không phải là một nhiệm vụ
đơn giản cho các nhà quản lý để đảm bảo việc quản lý vốn luân chuyển hiệu quả
nhưng vẫn đảm bảo thanh khoản được duy trì trong các hoạt động sản xuất kinh
doanh hằng ngày và hoạt động một cách có lợi nhuận (Zariyawati et al, 2009.).
Một số quyết định mà có xu hướng tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu khả năng
thanh khoản thích hợp. Ngược lại, tập trung hoàn toàn vào thanh khoản có xu
hướng giảm lợi nhuận tiềm năng của công ty (Mathuva, 2009). Các vấn đề trong
quản lý vốn luân chuyển là để đạt được sự cân bằng tối ưu giữa thanh khoản và
lợi nhuận. Một mục tiêu khó có thể đạt được vì cả hai đều có tầm quan trọng của
nó. Do đó, quản lý vốn luân chuyển nên được xem xét đầu tư sao cho phù hợp vì
nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty (Raheman và Nasr, 2007;
Dong và Su, 2010).
Vốn luân chuyển đã được coi là kết quả của khoảng thời gian giữa chi mua
nguyên vật liệu và thu từ việc bán sản phẩm (Dong và Su, 2010). Như vậy, chu
kỳ luân chuyển tiền mặt là một thước đo tốt để đánh một công ty đang quản lý

vốn luân chuyển tốt hay không. Khoảng thời gian giữa chi mua nguyên vật liệu
và thu từ việc bán sản phẩm càng lâu, thì khoản đầu tư vào vốn luân chuyển càng
lớn (Deloof, 2003). Chu kỳ luân chuyển tiền mặt ngắn hơn có thể mang đến khả
năng sinh lời cao vì chu kỳ chuyển đổi tiền mặt lớn thì buộc công ty phải sử
dụng nguồn tài chính bên ngoài với chi phí cao hơn. Vì vậy, bằng cách giảm thời
gian đó, các công ty có thể hoạt động hiệu quả hơn (Nobanee và AlHajjar,
2009a).
Chu kỳ luân chuyển tiền mặt có thể được rút ngắn bằng cách giảm kỳ lưu kho
hàng tồn kho thông qua quá trình sản xuất và bán hàng một cách nhanh chóng;
hoặc bằng cách giảm kỳ thu tiền bình quân từ việc tăng tốc thu hồi khoản phải;
hoặc bằng cách kéo dài thời gian thanh toán các khoản phải trả từ việc thanh
toán chậm cho nhà cung cấp (Nobanee, 2009). Điều này làm tăng hiệu quả hoạt
động nội bộ của các công ty và kết quả mang lại là lợi nhuận và giá trị thị trường
của công ty cao hơn.
Việc trì hoãn thanh toán cho các nhà cung cấp cho phép các công ty đánh giá
chất lượng của các sản phẩm được mua, và có thể là một nguồn vốn rẻ và linh
hoạt về tài chính. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng chậm thanh toán có thể có một
chi phí tiềm ẩn rất cao vì thanh toán sớm thường được nhận các chính sách chiết
khấu thanh toán. Khi tiền mặt nằm nhiều trong vốn luân chuyển, hay đầu tư lớn
hơn vào ngắn hạn, thì rủi ro của công ty thấp nhưng bên cạnh đó lợi nhuận thu
được cũng không cao (Falope và Ajilore, 2009).
Từ một góc độ khác, chu kỳ luân chuyển tiền mặt dài cũng có thể tăng lợi nhuận.
Bởi vì hàng tồn kho lớn và chính sách tín dụng thương mại rộng rãi có thể mang
lại doanh thu cao. Hàng tồn kho lớn hơn làm giảm nguy cơ thiếu hụt hàng hóa.
Tín dụng thương mại có thể gia tăng doanh số bán hàng vì nó cho phép khách
hàng đánh giá chất lượng sản phẩm trước khi chi trả (Long, Maltiz và Ravid năm
1993 và Deloof và Jegers, 1996). Tuy nhiên, lợi nhuận của công ty cũng có thể

giảm với chu kỳ luân chuyển tiền mặt, nếu chi phí đầu tư vốn luân chuyển cao
hơn và tăng nhanh hơn so với lợi ích của việc nắm giữ hàng tồn kho và cấp tín
dụng thương mại cho khách hàng (Deloof, 2003). Hơn nữa, rút ngắn chu kỳ
chuyển đổi tiền mặt có thể gây tổn hại cho lợi nhuận công ty; giảm thời gian
chuyển đổi hàng tồn kho có thể làm tăng chi phí thiếu hụt hàng hóa; giảm thời
gian thu tiền có thể làm cho công ty mất khách hàng có tín dụng tốt của họ; và
kéo dài thời gian thanh toán có thể gây tổn hại uy tín trong việc thanh toán của
công ty. Chu kỳ luân chuyển tiền mặt ngắn có thể dẫn đến chi phí cơ hội cao, và
chu kỳ chuyển đổi tiền còn có liên quan đến chi phí thực hiện cao (Nobanee,
2009).
Mặc khác, vốn luân chuyển dùng để xem xét khả năng thanh toán của công ty.
Có nhiều cách khác nhau để đánh giá hiệu quả quản trị vốn luân chuyển, một
cách truyền thống thường dùng là tính toán tỷ số thanh toán hiện hành bằng tài
sản ngắn hạn chia nợ phải trả ngắn hạn nhưng tỷ số thanh toán nhanh thường
được ưa chuộng hơn bằng tiền cộng các khoản tương đương tiền cộng khoản
phải thu chia nợ phải trả ngắn hạn và hai tỷ số này thường được dùng kết hợp
với nhau để đánh giá khả năng thanh toán của công ty chính xác hơn.
Vốn luân chuyển tăng hay giảm đều có ảnh hưởng khác nhau đến giá trị công ty.
Vốn luân chuyển tăng cho thấy khả năng thanh toán của công ty trong ngắn hạn
là tốt, rủi ro của công ty thấp nhưng đánh đổi lại là vòng quay tài sản thấp, khả
năng sinh lợi thấp. Ngược lại, vốn luân chuyển giảm hoặc duy trì ở mức thấp cho
thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đang phát triển tốt thể hiện ở
chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ngắn hơn, hiệu quả sử dụng tài sản cũng như khả
năng sinh lợi cao hơn nhưng công ty phải đối mặt với vấn đề rủi ro từ nợ vay
nhiều hơn. Vì vậy, trong quản trị vốn luân chuyển nhà quản lý phải đánh đổi
giữa khả năng sinh lợi và rủi ro để đảm bảo mang lại giá trị cho công ty và cho
cổ đông.

Quản lý vốn luân chuyển ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của công ty như thế
nào? Đối với tình hình thực tiễn ở Việt Nam hiện nay khi mà các công ty đang
hoạt động trong giai đoạn kinh tế còn nhiều khó khăn do khủng hoảng tài chính
toàn cầu thì vai trò của quản trị vốn luân chuyển hiệu quả càng được nhấn mạnh
và là vấn đề mà mỗi nhà quản trị phải thực hiện xuyên suốt nhằm mục tiêu tối đa
hóa giá trị công ty. Đó cũng là lý do tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Tác động
của quản trị vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lợi của các công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của bài nghiên cứu này là tìm hiểu tác động của quản trị vốn luân
chuyển lên tỷ suất sinh lợi của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam. Với mục tiêu này các vấn đề nghiên cứu đặt ra là:
Các thành phần của vốn luân chuyển như:
-

Kỳ thu tiền

-

Kỳ phải trả

-

Kỳ tồn kho

-

Chu kỳ luân chuyển tiền mặt

Tác động thế nào lên tỷ suất sinh lợi trên tài sản. Từ đó đóng góp thêm vào tài
liệu tài chính,làm cơ sở để các nhà quản trị đưa ra các chính sách quản lý vốn
luân chuyển phù hợp nhằm nâng cao lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của
công ty.
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến để xem xét mối quan hệ giữa
vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi.
Dữ liệu nghiên cứu của đề tài được thu thập từ các công ty cổ phần của Việt
Nam không bao gồm các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, được niêm
yết trên sàn chứng khoàn Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 2007 đến

năm 2013. Sau khi loại bỏ các công ty không đầy đủ dữ liệu, kết quả còn lại, đề
tài thực hiện nghiên cứu 288 công ty với 2016 quan sát. Dữ liệu của các công ty
được thu thập từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính, các thông tin được công
bố chính thức, website của các công ty, cơ sở dữ liệu của Vietstock. Các biến
phụ thuộc, biến độc lập, biến kiểm soát được tổ chức thành dữ liệu bảng (panel
data) theo từng công ty phân bố theo từng năm. Các kết quả thống kê và hồi quy
được thực hiện với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 12.0.
Bài nghiên cứu sẽ áp dụng phương pháp nghiên cứu: thống kê mô tả, phân tích
tương quan và phân tích hồi quy bằng các phương pháp Pooled OLS, REM
và FEM, GLS trên dữ liệu bảng với biến phụ thuộc ROA, biến độc lập AR, AP,
INV, CCC, CR, SIZE, LEV, GROWTH.
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài rất hữu ích ở thị trường Việt Nam là cơ sở tham
chiếu cho các nhà quản trị để đưa ra các quyết định tài chính hướng tới mục tiêu
gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.5 Bố cục bài nghiên cứu
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp
nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài, bố cục bài nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước đây.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY
2.1 Cơ sở lý thuyết về vốn luân chuyển và mối quan hệ giữa vốn luân
chuyển và lợi nhuận
2.1.1 Vốn luân chuyển
Vốn luân chuyển (Working Capital) được định nghĩa là chênh lệch giữa tài
sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả. Vốn luân chuyển theo nghĩa rộng là giá
trị của toàn bộ tài sản lưu động, là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh
của công ty. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các
dạng tồn tại từ tiền mặt đến tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản
ban đầu là tiền mặt. Với sự chuyển hoá nhanh như vậy, các hoạt động quản trị
vốn luân chuyển chiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản
trị tài chính. Nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho vốn luân chuyển là yếu
tố thúc đẩy sự chuyển hoá nhanh chóng giữa các hình thái tồn tại cơ bản của tài
sản lưu động để liên tục sản sinh ra ngân quỹ. Chính sách vốn luân chuyển hiệu
quả phải đảm bảo giảm tối thiểu thời gian từ khi trả tiền mua nguyên vật liệu đến
khi thu tiền bán tín dụng. Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt bao gồm khoảng thời gian
từ khi công ty thanh toán các khoản nợ đến khi thu tiền mặt. Trong khoảng thời
gian đó, có các yếu tố sau đây:
- Chu kỳ chuyển hoá tồn kho: là thời gian bình quân cần thiết để chuyển hoá
nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng và bán cho người tiêu dùng. Chi tiết
ra, khoảng thời gian này gồm thời gian bình quân nguyên vật liệu ở trong kho,
toàn bộ thời gian chu kỳ sản xuất, thời gian bình quân sản phẩm tồn kho.
- Kỳ thu tiền bình quân: là khoảng thời gian để chuyển khoản phải thu thành
tiền mặt, nghĩa là thời gian cần thiết để thu tiền từ khách hàng kể từ thời điểm
ghi hóa đơn. Bạn có thể ước lượng được kỳ thu tiền bình quân, hay còn gọi là

số ngày bán hàng. Bạn cũng có thể tính bằng cách chia khoản phải thu cho
doanh số bán tín dụng bình quân mỗi ngày.
- Kỳ thanh toán bình quân: là độ dài thời gian từ khi mua nguyên vật liệu hay
thuê lao động đến khi thanh toán cho họ.
- Chu kỳ chuyển luân chuyển tiền mặt: bằng tổng thời gian từ khi chi tiền mặt
đến khi nhận tiền mặt. Kỳ chuyển hoá tiền mặt vì vậy bằng khoảng thời gian
bình quân đồng vốn được duy trì dưới hình thức tài sản lưu động.
Chu kỳ luân chuyển tiền mặt có thể được biểu diễn trong phương trình sau:
CCC = AR + INV -AP
Vai trò của vốn luân chuyển là đảm bảo các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, do đó có tác động rất lớn đến việc
ra các quyết định tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đƣợc thể
hiện bằng tỷ suất sinh lợi. Tỷ suất sinh lợi được xem xét có thể là tỷ suất sinh
lợi trên tài sản. Các yếu tố tác động tới tỷ suất sinh lợi là doanh thu, chi phí,
thuế, tổng tài sản…Tỷ suất sinh lợi được đánh giá trong một năm nhưng lại là
thành quả kinh doanh trong dài hạn của công ty.
Ở Việt Nam, tỷ trọng vốn luân chuyển nằm trong khoảng 49% đến 58% tổng tài
sản, vì vậy các thành phần của vốn luân chuyển có tác động rất lớn đến tỷ suất
sinh lợi, đặc biệt là hàng tồn kho, khoản phải thu và khoản phải trả.
2.1.2 Quản trị khoản phải thu và lợi nhuận
Khoản phải thu được xem như là các khoản tiền cho khách hàng vay trong
ngắn hạn. Tài khoản này nên được giữ ổn định, tuy nhiên nếu khoản phải thu
đang gia tăng có nghĩa là công ty đang mở rộng chính sách bán chịu, đồng nghĩa
với việc công ty có thêm khách hàng nhưng cũng sẽ gánh chịu nhiều chi phí như
là chi phí cơ hội của dòng tiền đáng lẽ phải nhận được. Từ đây chúng ta có thể
thấy quản trị khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro.
Gia tăng khoản phải thu, doanh thu có thể tăng do bán được nhiều hàng hóa hơn,