Tải bản đầy đủ
7 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

7 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

Tải bản đầy đủ

57

2.7.1 Thuận lợi
2.7.1.1 Môi trƣờng kinh tế vĩ mô
Quá trình toàn cầu hoá đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nƣớc vào
nền kinh tế thế giới và khu vực. Do vậy, nền tài chính ngân hàng Việt Nam cũng
đang trong quá trình hội nhập với việc tham gia vào các tổ chức tài chính quốc tế
nhƣ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển
Châu Á (ADB), các Tổ chức thƣơng mại khu vực và toàn cầu nhƣ khu vực mậu
dịch tự do Đông Nam Á (AFTA), Hiệp định thƣơng mại Việt Mỹ, Tổ chức thƣơng
mại Thế giới (WTO). Tài chính ngân hàng Việt Nam đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu
lại tình hình tài chính, lành mạnh hoá hoạt động tín dụng, tạo sức mạnh về vốn, đảm
bảo nhu cầu vốn cho đầu tƣ phát triển, mở rộng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng
công nghệ hiện đại, đổi mới mô hình tổ chức, nâng cao hiệu quả kiểm tra, kiểm
soát, đảm bảo an toàn hệ thống tiến dần đến các chuẩn mực quốc tế. NH là một
trong những ngành năng động nhất trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc thực hiện Hiệp định thƣơng mại Việt - Mỹ đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp
Việt Nam tiếp cận và mở rộng hoạt động xuất khẩu sang thị trƣờng Mỹ. Điều đó, đã
làm cho kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp cũng nhƣ doanh số thanh toán
xuất khẩu qua ngân hàng, trong đó có Vietcombank thuận lợi vì Việt Nam có khá
nhiều doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu hàng dệt may vào thị trƣờng Mỹ là chủ yếu.
Hệ thống pháp luật đang ngày càng hoàn thiện, tạo nên hành lang pháp
khích mọi thành phần kinh tế phát triển: luật Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam và luật
các tổ chức tín dụng và các văn bản quy phạm pháp luật đã tạo ra khuôn khổ pháp
lý khuyến khích các TCTD thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động bình đẳng trong
hoạt động ngân hàng. Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia có hiệu quả góp phần
cho nền kinh tế Việt Nam phát triển ổn định. Các văn bản quy phạm pháp luật về
quy chế cho vay, bảo đảm tiền vay… ngày càng hoàn thiện, tiến dần đến thông lệ
quốc tế.
Chính phủ và các Bộ, Ngành, Địa phƣơng cũng nhƣ các Hiệp hội ngành hàng
và doanh nghiệp đã tích cực triển khai các biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu,

58

nhất là các chƣơng trình tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của các ngân hàng, quỹ đầu tƣ và
chƣơng trình xúc tiến thƣơng mại trọng điểm quốc gia
Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát kiềm chế dự báo CPI năm 2012 ở mức
7,5%. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế (GDP) tăng 5.2 , đƣa quy mô nền kinh tế đạt
khoảng 136 tỷ USD, với thu nhập bình quân đầu ngƣời đạt khoảng 1,540
USD/ngƣời/năm. Bội chi ngân sách nhà nƣớc năm 2012 đạt 4.8% GDP; tổng vốn
đầu tƣ phát triển toàn xã hội ƣớc đạt 29,2% GDP; tổng thu ngân sách bằng 29.5%
GDP; đặt biệt là kim ngạch xuất khẩu năm 2012 tăng cao hơn kế hoạch, tăng
16.6%; kim ngạch nhập khẩu tăng 6.8%. Nhập siêu khoảng 1 tỷ USD, chiếm 0.9%
tổng kim ngạch xuất khẩu (việc giảm mạnh nhập khẩu, tăng xuất khẩu góp phần ổn
định tỷ giá, tăng dự trữ ngoại tệ của Nhà nƣớc). Tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối
tăng, đạt trên 11 tuần nhập khẩu, Cán cân thanh toán ƣớc thặng dƣ trên 8 tỷ USD...
Lãi suất giảm, cơ cấu tín dụng chuyển biến theo hƣớng tăng tín dụng cho nông
nghiệp, xuất khẩu doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nguồn tạp chí phát triển và hội nhập
UEF). Với tốc độ phát triển cao về kim ngạch xuất khẩu đã tạo điền kiện rất lớn cho
sự phát triển TTXNK các NHTM Việt nam.
2.7.1.2 Lợi thế của Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam trong công tác
thanh toán xuất nhập khẩu
Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank có lợi thế rõ nét
trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng,
phát triển các sản phẩm, dịch vụ điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao.
Hoạt động ngân hàng còn đƣợc hỗ trợ bởi mạng lƣới chi nhánh, văn phòng
đại diện ở nƣớc ngoài, công ty con và hơn 1,700 ngân hàng đại lý tại 120 quốc gia
và vùng lãnh thổ.Vietcombank hiện có trên 13,560 cán bộ nhân viên, với gần 400
Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoài
nƣớc, gồm Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở Giao dịch, 1 Trung tâm Đào tạo, 78 chi
nhánh và hơn 300 phòng giao dịch trên toàn quốc, 3 công ty con tại Việt Nam, 2
công ty con tại nƣớc ngoài, 1 văn phòng đại diện tại Singapore, 5 công ty liên
doanh, liên kết.

59

Bề dày hoạt động và đội ngũ cán bộ có chuyên môn vững vàng, nhạy bén với
môi trƣờng kinh doanh hiện đại, mang tính hội nhập cao…Vietcombank luôn là sự
lựa chọn hàng đầu của các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn và của đông đảo khách
hàng cá nhân.
Lợi thế về nguồn vốn, đặc biệt là vốn ngoại tệ, Vietcombank đã tham gia tài
trợ vốn cho hàng loạt các dự án thuộc các lĩnh vực then chốt của quốc gia nhƣ điện
lực, dầu khí, hàng không, viễn thông...
2.7.2 Khó khăn
2.7.2.1 Môi trƣờng kinh tế vĩ mô
Sự bất ổn củanền kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 do
nền kinh tế ảo (bao gồm các lĩnh vực nhƣ tài chính, tiền tệ, bất động sản…) phát
triển nhanh đến mức không thể kiểm soát. Sóng gió kinh tế khu vực EU chƣa lắng
dịu, thậm chí còn bị đe dọa mạnh hơn. Kinh tế Trung Quốc đang gặp nhiều vấn đề
cơ cấu, không có cơ sở để giải quyết nhanh; làm cho xu thế giảm tốc độ tăng trƣởng
mạnh lên và chƣa hãm lại đƣợc.
Trong bối cảnh hiện nay, VN đang chịu ảnh hƣởng trực tiếp của khủng
hoảng kinh tế thế giới. Suy thoái kinh tế trong nƣớc mà nguyên nhân chủ yếu là do
những hạn chế về năng lực vốn, quy mô, khả năng cạnh tranh và ứng phó rủi ro của
doanh nghiệp. Bên cạnh đó, những yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều
hành của các cấp, các ngành cũng ảnh hƣởng đến khả năng cạnh tranh và hƣớng
phát triển của doanh nghiệp Việt Nam. Kinh tế phát triển chƣa bền vững, chất
lƣợng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm, chế độ phân phối chƣa thật
hợp lý, phân hóa giàu nghèo tăng lên. Thể chế kinh tế thị trƣờng, chất lƣợng nguồn
nhân lực, kết cấu hạ tầng còn là trở ngại cho sự phát triển.
Số lƣợng ngân hàng thƣơng mại quá nhiều. Hiện nay, Việt Nam có khoảng
100 Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) hoạt động phục vụ cho một nền kinh tế có
GDP là 136 tỷ USD (năm 2012) có nghĩa bình quân mỗi ngân hàng chỉ phục vụ sản
xuất ra hơn 1 tỷ USD/năm cho nền kinh tế thì thấy rằng hệ thống NHTM Việt Nam
có quá nhiều ngân hàng đang hoạt động nhƣng quy mô vốn quá nhỏ. Vì vậy, cần

60

phải tái cấu trúc cả về số lƣợng và chất lƣợng ngân hàng để phục vụ nền kinh tế. Do
đó, sự phân chia thị trƣờng, sự chia s khách hàng là điều không thể tránh khỏi.
Trong cuộc chiến tìm kiếm, thu hút, giữ chân khách hàng cũng nhƣ xây dựng, duy
trì, phát triển thị phần hoạt động, sự cạnh tranh giữa Vietcombank với các ngân
hàng thƣơng mại khác ngày càng trở nên gay gắt.
Biến động về tỷ giá: Trong nhiều năm trở lại đây, NHNN kiên trì chính sách
ổn định đồng tiền Việt Nam so với đô la Mỹ. Tuy nhiên, tỷ giá diễn biến khá phức
tạp dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng, khoảng cách giữa tỷ giá
chính thức và tỷ giá trên thị trƣờng tự do đôi khi vẫn ở mức cao. Tỷ giá chính thức
có thời điểm thấp hơn tỷ giá trên thị trƣờng tự do tới 10%. Những tháng cuối năm tỷ
giá càng biến động, thị trƣờng ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng, đô la hóa nền
kinh tế còn ở mức cao do nhu cầu ngoại tệ nói chung, USD nói riêng tăng cao vì
khách hàng vay vốn đến hạn trả nợ ngân hàng, nhu cầu chuyển lợi nhuận về nƣớc
của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, kinh tế ngầm vẫn phát triển rất mạnh, khó có khả
năng ngăn chặn. Mà những bất ổn về tỷ giá là có nguyên nhân sâu xa từ những bất
ổn về kinh tế vĩ mô đó là bội chi cao, nhập siêu lớn và hiệu quả đầu tƣ công thấp…
làm cho cầu ngoại tệ luôn lớn hơn cung ngoại tệ. Bên cạnh đó, hiện tƣợng đầu cơ và
tâm lý cũng gây áp lực mạnh mẽ lên tỷ giá. Những bất ổn trên thị trƣờng ngoại hối
và tỷ giá hối đoái đã tiếp tục gây ra những khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Lãi suất:
Biểu đồ 2.12 Lãi suất huy động và lãi suất cho vay hàng tháng của Việt Nam

61

25.00%

20.00%

15.00%

10.00%

5.00%

Deposit

Lending

(Nguồn: Báo cáo hàng tháng của NHNN)
Trong thời gian qua, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có nhiều biến
động đặc biệt là năm 2008 và năm 2011 do ảnh hƣởng khủng hoảng kinh tế, lãi suất
huy động và cho vay cao nhất trong 5 năm (2008-2012), lãi suất huy động 14 , lãi
suất cho vay 20-22

gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các

doanh nghiệp Việt Nam trong việc vay tiền và các ngân hàng gặp khó khăn trong
việc huy động vốn và cho vay các doanh nghiệp. Hoạt động XNK bị chững lại.
Lạm phát:
Biểu đồ 2.13 Tỷ lệ lạm phát Việt Nam từ năm 2006 - 2012

(Nguồn : Tổng cục thống kê)

28-Jul-13

28-May-13

28-Jan-13

28-Mar-13

28-Nov-12

28-Jul-12

28-Sep-12

28-May-12

28-Jan-12

28-Mar-12

28-Sep-11

28-Nov-11

28-Jul-11

28-May-11

28-Jan-11

28-Mar-11

28-Nov-10

28-Jul-10

28-Sep-10

28-Mar-10

28-May-10

28-Jan-10

28-Nov-09

28-Jul-09

28-Sep-09

28-May-09

28-Jan-09

28-Mar-09

28-Sep-08

28-Nov-08

28-Jul-08

28-Mar-08

28-May-08

0.00%

62

Có rất nhiều nguyên nhân gây áp lực tạo nên lạm phát cao. Trong đó, có
những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ tiền tệ, tín dụng, tài khóa, những xuất
phát từ cơ cấu nền kinh tế và hiệu quả đầu tƣ; cùng những nguyên nhân khách quan,
nhƣ: xu thế giá cả hàng hóa thế giới ngày càng tăng cao; sự tăng lên của chi phí sản
xuất; sự tăng giá của các mặt hàng chủ chốt và dịch vụ thiết yếu…
Qua bảng 2.15 cho thấy tỷ lệ lạm phát cao nhất vào năm 2008, do chính phủ
thực hiện các gói giải cứu nền kinh tế thoát khỏi suy thoái kinh tế nên lƣợng tiền
trong lƣu thông tăng lên rất nhanh, làm lạm phát tăng rất cao trong năm 2008.
Năm 2012, ngay từ đầu năm, NHNN đã đƣa ra lộ trình giảm lãi suất trung
bình mỗi quý 1 /năm. Tuy nhiên, trên cơ sở khả năng kiểm soát lạm phát theo mục
tiêu đề ra, kinh tế vĩ mô từng bƣớc cải thiện, hoạt động ngân hàng ổn định, thực
hiện điều chỉnh nhanh và mạnh các mức lãi suất điều hành của NHNN và lãi suất
huy động tối đa bằng VND để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, hỗ trợ và tháo gỡ
khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. NHNN tiếp tục duy
trì mức trần lãi suất huy động bằng USD của tổ chức kinh tế và cá nhân ở mức lần
lƣợt là 0.5 /năm và 2 /năm. Khi thị trƣờng ngoại tệ và tỷ giá có biến động bất
thƣờng, NHNN kịp thời thực hiện công tác thông tin, truyền thông để cung cấp
thông tin đầy đủ, nhanh chóng về các giải pháp điều hành của NHNN cũng nhƣ
thực hiện các biện pháp can thiệp thị trƣờng phù hợp để ổn định tỷ giá và thị trƣờng
ngoại tệ. Do vậy, lãi suất suất huy động bằng VND trong năm 2012 đã giảm mạnh
tuy nhiên vẫn duy trì đƣợc mức chênh lệch lợi tức của việc nắm giữ VND và USD ở
mức hợp lý, ngƣời dân và doanh nghiệp đẩy mạnh bán ngoại tệ cho hệ thống ngân
hàng, NHNN đã mua đƣợc một lƣợng lớn ngoại tệ để bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà
nƣớc. NHNN cũng đồng thời phát hành tín phiếu để trung hòa lƣợng tiền cung ứng
qua kênh mua ngoại tệ nên mặc dù dự trữ ngoại hối tăng rất mạnh, đồng thời một
lƣợng lớn nội tệ cung ứng ra thị trƣờng nhƣng không gây áp lực lên lạm phát và ảnh
hƣởng tiêu cực đến công tác điều hành lãi suất và tỷ giá.

63

2.7.2.2 Đặc thù của hệ thống Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam
Trong hệ thống còn có sự khác biệt về mô hình hoạt động TTXNK giữa các
chi nhánh, đặc biệt là giữa các chi nhánh có quy mô lớn và các chi nhánh có quy mô
nhỏ. Việc xác định mức ký quỹ cho khách hàng mở L/C nhập khẩu còn chƣa đồng
nhất về tiêu chí. Các thông tin làm cơ sở cho việc quyết định hạn mức mở L/C hoặc
miễn giảm mức ký quỹ mở L/C cho khách hàng còn nhiều hạn chế và hiệu quả còn
thấp.
Vietcombank chƣa chú trọng đến việc ký kết các văn bản thỏa thuận giữa
ngân hàng và khách hàng về việc cung ứng cũng nhƣ sử dụng dịch vụ nhằm làm rõ
nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện các giao dịch
TTXNK.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Dựa trên những cơ sở lý luận ở Chƣơng 1, Chƣơng 2 đã đi sâu vào nghiên cứu thực
trạng hoạt động TTXNK tại Vietcombank trong thời gian 2009-2013. Chƣơng 2 đã
khái quát về sự thành lập và phát triển của Vietcombank, phân tích thực trạng hoạt
động TTXNK, rủi ro trong hoạt động TTXNK, đánh giá sự ảnh hƣởng của một số
nghiệp vụ ngân hàng nhƣ kinh doanh ngoại tệ, tín dụng, chiết khấu đối với TTXNK
từ đó thấy đƣợc sự hỗ trợ và ảnh hƣởng của các nghiệp vụ này đối với TTXNK.
Bên cạnh đó, phân tích đƣợc những thuận lợi và khó khăn ảnh hƣởng đến TTXNK
của Vietcombank và đánh giá về những thành tựu và những mặt còn hạn chế trong
hoạt động TTXNK của Vietcombank trong thời gian 2009-2013. Từ đó, làm cơ sở
đề xuất những giải pháp gia tăng hoạt động TTXNK tại Vietcombank trong thời
gian tới với nội dung sẽ đƣợc thể hiện trong chƣơng 3 “Giải pháp gia tăng hoạt
động thanh toán xuất nhập khẩu của Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam”.

64

CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP GIA TĂNG HOẠT ĐỘNG THANH
TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NH TMCP NGOẠI
THƢƠNG VIỆT NAM
3.1 Định hƣớng phát triển hoạt động TTXNK của Ngân hàng TMCP Ngoại
thƣơng Việt Nam
3.1.1 Chiến lƣợc phát triển kinh doanh của Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng
Việt Nam
Bám sát định hƣớng chỉ đạo của Chính phủ, NHNN và thực tế hoạt động của
Vietcombank, Vietcombank thông qua rà sót, cũng cố và hoàn thiện các mặt hoạt
động nhƣ chuẩn hóa từng bƣớc mô hình tổ chức tại Hội sở chính theo các khối, thực
hiện tái cơ cấu lại khối vốn, khối tín dụng và khối quản lý rủi ro thông qua thành lập
mới và bổ sung chức năng nhiệm vụ một số phòng ban, xây dựng khối tài chính,
khối bán l , thành lập trung tâm công nghệ thông tin, trung tâm th với mô hình tổ
chức chặt chẽ trên cơ sở nâng cấp Trung tâm tin học và phòng Quản lý th .
Chiến lƣợc của Vietcombank là xây dựng Vietcombank thành một Tập đoàn
ngân hàng tài chính đa năng, có phạm vi hoạt động quốc tế, có vị thế hàng đầu tại
Việt Nam; mang lại cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất; hài hòa lợi ích giữa
khách hàng, cổ đông và ngƣời lao động.
 Những chiến lược cụ thể như:
-

Chiến lƣợc cạnh tranh: Chủ yếu là cạnh tranh trong việc kinh doanh tín dụng

(giảm lãi suất cho vay cho khách hàng, tăng lãi suất tiền gửi lên một mức hợp lý khi
cần huy động vốn, dịch vụ đầu tƣ tự động), là NH luôn dẫn đầu thị trƣờng về doanh
số kiều hối trong hàng chục năm. Bên cạnh đó, chiến lƣợc cạnh tranh bằng chất
lƣợng, sản phẩm, dịch vụ nhƣ: dịch vụ chuyển tiền bằng VND/USD/EUR của
doanh nghiệp cho ngƣời hƣởng là tổ chức, cá nhân tại Hàn Quốc và/hoặc có tài
khoản tại một ngân hàng Hàn Quốc nhận tiền bằng đồng KRW với chi phí thấp và

65

tỷ giá ƣu đãi từ Vietcombank và Ngân hàng đối tác tại Hàn Quốc (Ngân hàng
Mizuho – đối tác chiến lƣợc của Vietcombank). Vị thế đàm phán tốt hơn khi giao
dịch với ngƣời xuất khẩu vì cho phép ngƣời xuất khẩu nhận tiền bằng KRW.
-

Chiến lƣợc khác biệt hóa (chiến lƣợc bảo mật và quản lý rủi ro) đƣa những

ứng dụng công nghệ mới vào áp dụng trong các hoạt động kinh doanh cụ thể: phát
triển mạng lƣới autobanking với khoảng 1,835

TM và 32,178 điểm chấp nhận

thanh toán th POS trên toàn quốc, dịch vụ thanh toán cƣớc phí qua hệ thống NH
(billing payment) và dịch vụ trả lƣơng tự động qua tài khoản NH mang lại tiện ích
(tiết kiệm thời gian, nhân lực và chi phí) cho KH và đƣợc Vietcombank bảo mật cao
bằng kỹ thuật bảo mật theo tiêu chuẩn quốc tế để đảm bảo an toàn dữ liệu cho KH
và NH, phù hợp với xu thế hiện nay, tối thiểu hóa các giao dịch tiền mặt.
-

Chú trọng đến nguồn vốn huy động thể nhân và coi đây là nguồn vốn ổn

định, bềnh vững của NH. Nghiên cứu triển khai áp dụng các sản phẩm liên kết, bán
chéo các sản phẩm huy động vốn gắn liền với cho vay với phƣơng châm “tạo sự
khác biệt”. Nghiên cứu các giải pháp thu hút vốn huy động ngoại tệ, huy động vốn
từ thị trƣờng quốc tế và các tổ chức nƣớc ngoài.
-

Chiến lƣợc tăng trƣởng: Tập trung vào hoạt động ngân hàng bán buôn, kinh

doanh vốn, dịch vụ thanh toán, tài trợ thƣơng mại, tài trợ đầu tƣ dự án, chuyên môn
hóa theo đối tƣợng khách hàng, cá nhân và đối tƣợng khách hàng doanh nghiệp và
đa dạng hóa mở rộng và đẩy mạnh hoạt động sang các lĩnh vực đầu tƣ, dịch vụ bảo
hiểm và các dịch vụ tài chính quốc tế khác, mở rộng mạng lƣới ATM trên thị trƣờng
trong nƣớc và quốc tế sẽ tăng sự thuận tiện của ngƣời chủ th ATM; Chiến lƣợc tích
hợp, thông qua liên minh, liên kết với nhiều ngân hàng và doanh nghiệp trong và
ngoài nƣớc: ngày 30/9/2011, Vietcombank đã ký kết thành công thỏa thuận hợp tác
chiến lƣợc với Ngân hàng TNHH Mizuho (MHCB) - một thành viên của Tập đoàn
tài chính Mizuho (Nhật Bản) – thông qua việc bán cho đối tác 15% vốn cổ phần, kết
hợp chặc chẽ với các tổ chức và doanh nghiệp khác để đƣa ra các dịch vụ, sản phẩm
giá trị gia tăng để thu hút khách hàng nhƣ th thanh toán, dịch vụ cho vay trả góp
khi mua sản phẩm của một số doanh nghiệp, dịch vụ thanh toán.