Tải bản đầy đủ
3 Rủi ro trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại NHTM

3 Rủi ro trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại NHTM

Tải bản đầy đủ

17

phù hợp với các điều khoản và điều kiện trong L/C thì ngƣời thụ hƣởng mới nhận
đƣợc thanh toán. Bộ chứng từ là căn cứ duy nhất để NH trả tiền khó loại trừ khả
năng Beneficiary làm giả chứng từ hoặc thay đổi chứng từ tự đòi tiền trong khi giao
hàng không phù hợp với bộ chứng từ xuất trình và Applicant không có khả năng
thanh toán hoặc thông đồng với Beneficiary về hành vi gian lận thì NH phát hành
phải gánh chịu hoàn toàn rủi ro về việc mất tiền và không có hàng hóa.
Rủi ro từ NH phục vụ ngƣời thụ hƣởng: Đối với các giao dịch L/C cho phép
đòi tiền bằng điện, NH phát hành (hoặc NH hoàn trả) thanh toán ngay khi nhận điện
đòi tiền xác nhận chứng từ phù hợp của NH phục vụ ngƣời thụ hƣởng, rủi ro thanh
toán sẽ xảy ra nếu NH này có sự gian lận trong việc thực hiện kiểm tra chứng từ.
Rủi ro từ phía thị trƣờng hàng hóa nhập khẩu: Một điều rất rõ ràng là nếu thị
trƣờng hàng hóa nhập khẩu không thuận lợi thì ngƣời yêu cầu mở L/C sẽ gặp khó
khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa cũng nhƣ thanh toán tiền hàng, điều này tất yếu
ảnh hƣởng đến khả năng và uy tín thanh toán của NH phát hành.
Rủi ro khi mở L/C với điều khoản “Một bản vận đơn gốc ngoài tầm kiểm
soát của ngân hàng”: Khi mở L/C với một bản vận đơn gốc đƣợc ngƣời thụ hƣởng
gửi về trƣớc cho ngƣời yêu cầu mở L/C, cho dù vận đơn đƣợc lập theo lệnh của NH
(do ký quỹ không đủ 100% trị giá L/C), NH cũng không thể kiểm tra và xác định
trƣớc sự đảm bảo thanh toán của ngƣời yêu cầu mở L/C khi bộ chứng từ về đến
quầy của ngân hàng.
Rủi ro phát sinh ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng: Theo UCP600, rủi ro
xảy ra cho ngƣời yêu cầu mở L/C do việc không nhận đƣợc bộ chứng từ bản chính
do bị thất lạc trong quá trình chuyển giao từ NH xuất trình đến NH phát hành nhƣng
NH vẫn phải thực hiện thanh toán. Tuy nhiên, nếu ngƣời yêu cầu mở L/C không có
khả năng thanh toán thì NH phát hành phải gánh chịu rủi ro này.
Rủi ro khi xử lý chứng từ bất hợp lệ: NH phát hành (hoặc NH xác nhận) mất
quyền từ chối chứng từ bất hợp lệ và phải thực hiện thanh toán bất kể tính bất hợp
lệ của chứng từ khi: thông báo từ chối chứng từ nhƣng không nêu rõ các bất hợp lệ,
thông báo chứng từ bất hợp lệ bị bác bỏ bởi NH xuất trình bằng các lý do thuyết

18

phục theo đúng tinh thần của UCP600, ISBP685 và L/C, thông báo chứng từ bất
hợp lệ vƣợt quá 5 ngày làm việc theo sau ngày nhận chứng từ (theo UCP600).
1.3.2 Rủi ro trong hoạt động thanh toán xuất khẩu
Thanh toán XK cũng có những rủi ro tƣơng tự nhƣ phƣơng thức thanh toán
NK nhƣ: rủi ro không hoàn trả tín dụng, rủi ro đạo đức kinh doanh, rủi ro lãi suất, tỷ
giá hối đoái, rủi ro theo từng thức thanh toán nhƣng rủi ro trong phƣơng thức thanh
toán L/C xuất khẩu vẫn là nhiều nhất.
Rủi ro khi thông báo L/C và/hoặc các sửa đổi L/C:
-

Bất kỳ sự chậm trễ hay thiếu chính xác về việc thông báo L/C do sự sai lầm

của ngân hàng thông báo dẫn đến thƣơng vụ không thành, ngân hàng phát hành
(theo yêu cầu của ngƣời yêu cầu mở L/C) hoặc ngƣời thụ hƣởng có thể khởi kiện
ngân hàng thông báo nhằm yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại xảy đến với họ.
-

Một L/C có thể bị giả mạo chữ ký (nếu đƣợc mở bằng thƣ) hoặc mã số TEST

(nếu đƣợc mở bằng điện): NH thông báo không thể kiểm tra tính xác thực của L/C
nhƣng không thông báo ngay cho NH phát hành mà lại thông báo cho ngƣời thụ
hƣởng không kèm theo lƣu ý “Chúng tôi không chịu trách nhiệm về tính xác thực
của L/C (kể cả những sửa đổi L/C - nếu có)” thì NH thông báo phải hoàn toàn chịu
trách nhiệm trong trƣờng hợp ngƣời thụ hƣởng đã giao hàng nhƣng không đƣợc
thanh toán khi xuất trình bộ chứng từ hợp lệ.
Rủi ro khi chuyển giao L/C cho ngƣời thụ hƣởng: Giao L/C tại quầy của
ngân hàng: giấy giới thiệu bị giả mạo (trong trƣờng hợp ngƣời thụ hƣởng là khách
hàng của ngân hàng), NH không kiểm tra đƣợc tính chân thật của thƣ ủy quyền/giấy
giới thiệu (trong trƣờng hợp ngƣời thụ hƣởng không phải là khách hàng thƣờng
xuyên hoặc trƣớc đó của NH). Giao L/C đến văn phòng của ngƣời thụ hƣởng: L/C
bị thất lạc/mất do sự tắc trách của nhân viên NH/công ty trong quá trình giao nhận,
do sai sót của dịch vụ chuyển phát thƣ, hoặc do địa chỉ của ngƣời thụ hƣởng không
rõ ràng.
Rủi ro khi chấp nhận tài trợ xuất khẩu dựa trên L/C bản chính: Khách hàng
xuất khẩu đã nhận vốn tài trợ của NH nhƣng đem xuất trình chứng từ cho một NH

19

khác để chiết khấu và chiếm dụng vốn. Trong trƣờng hợp nhà xuất khẩu xuất trình
bộ chứng từ xuất khẩu cho NH tài trợ theo đúng cam kết khi nhận vốn tài trợ, NH
này vẫn có thể gặp những rủi ro (nhƣ đƣợc trình bày tiếp theo đây) bắt đầu từ khâu
kiểm tra và xử lý chứng từ.
Về thời gian kiểm tra chứng từ: NH phải kiểm tra chứng từ trong thời hạn 5
ngày làm việc sau khi tiếp nhận chứng từ (theo UCP600) để quyết định chiết khấu
chứng từ hay chỉ đơn thuần hành xử nhƣ là NH chuyển chứng từ cho NH phát hành
để đòi tiền. Trách nhiệm và giới hạn về thời gian kiểm tra chứng từ sẽ đƣa đến các
rủi ro cho NH nhƣ: có thể bị đánh giá thấp về mặt chất lƣợng dịch vụ, bị khiếu kiện
bởi khách hàng về việc chậm trễ trong khâu xử lý chứng từ, bị NH phát hành qui
kết chứng từ bất hợp lệ do xuất trình chứng từ trễ hạn và từ đó từ chối thanh toán.
Về sự bất cẩn trong việc kiểm tra chứng từ. Theo điều 13 của UCP600, ngân
hàng phải kiểm tra bộ chứng từ với sự cẩn thận thỏa đáng nhằm bảo vệ quyền lợi
của khách hàng bất luận là bộ chứng từ đó có đƣợc chiết khấu hay không. Từ đó,
xác định các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng có phù hợp với L/C hay
không. Ở đây, sự cẩn thận thỏa đáng đƣợc hiểu là sự kết hợp đúng đắn các nguyên
tắc giao dịch của ngân hàng và vận dụng chính xác UCP và tài liệu bổ trợ của nó là
ISBP. Do đó, nếu chỉ đơn thuần vì mục đích bảo vệ quyền lợi của khách hàng, hoặc
vì bảo vệ danh tiếng của mình trƣớc khách hàng trong nƣớc, cố tình hiểu sai sự
việc, che dấu sự thật thì NH sẽ bị đánh giá thấp về trình độ nghiệp vụ cũng nhƣ uy
tín trên thị trƣờng quốc tế. Ngoài ra, sự cẩn thận thỏa đáng còn đƣợc hiểu là NH
phải gánh chịu những tổn thất xảy ra do sự bất cẩn nên không phát hiện ra sự gian
lận trong khâu thiết lập và xuất trình chứng từ.
Rủi ro trong thực hiện chiết khấu chứng từ:
-

Rủi ro khi thực hiện chiết khấu miễn truy đòi: Ngân hàng kiểm tra, xác nhận

tình trạng chứng từ hợp lệ và thực hiện chiết khấu miễn truy đòi nhƣng ngân hàng
phát hành lại xác định chứng từ bất hợp lệ (Điều này có thể đƣợc lý giải bởi các
nguyên nhân nhƣ: sai sót của ngân hàng chiết khấu trong việc kiểm tra và xác định

20

tình trạng chứng từ, bất đồng quan điểm giữa các NH trong việc xử lý chứng từ) và
từ chối thanh toán.
Rủi ro khi chiết khấu các L/C có điều khoản tự do chiết khấu ở bất kỳ ngân
hàng “ vailable with any bank by negotiation”: Đối với các L/C có điều khoản này,
NH chiết khấu (nếu khác với NH thông báo) thƣờng gặp khó khăn trong việc xác
định số lần sửa đổi L/C và hoàn toàn phụ thuộc vào tính trung thực của ngƣời
hƣởng lợi trong việc khai báo và giao nộp các bản “sửa đổi/hủy L/C”. Trong thực
tế, một số NH phát hành ghi số thứ tự các sửa đổi L/C để dễ dàng kiểm soát các
giao dịch của khách hàng nhƣng một số khác lại không làm nhƣ vậy do không có
qui định chung về điều này, từ đây xuất hiện khe hở và mang lại những rủi ro nhất
định cho ngân hàng chiết khấu.
Rủi ro khi chiết khấu chứng từ bất hợp lệ: Dù ngân hàng chiết khấu có ghi
chú “Bộ chứng từ bất hợp lệ đã đƣợc chiết khấu bởi chúng tôi” vào thƣ đòi tiền khi
thiết lập thủ tục gửi chứng từ cho ngân hàng phát hành thì ngân hàng phát hành vẫn
toàn quyền từ chối thanh toán bộ chứng từ bất hợp lệ theo các quy tắc của UCP600
ở các điều khoản 13 và 14. Vì thế, ngân hàng chiết khấu vẫn phải gánh chịu toàn bộ
rủi ro trong trƣờng hợp bộ chứng từ bất hợp lệ bị từ chối thanh toán nhƣng nhà xuất
khẩu không có bất kỳ nguồn thu nào để hoàn trả số tiền chiết khấu, hoặc đã rút hết
tiền, đóng tài khoản và bỏ trốn.
Rủi ro trong việc gửi chứng từ: NH phải chịu trách nhiệm đối với những tổn
thất do không thực hiện đúng các qui định của L/C về việc gửi chứng từ nhƣ: số lần
và thời gian gửi, chọn lựa dịch vụ chuyển phát, sai sót về tên và địa chỉ của ngƣời
nhận.
Nhƣ vậy, mặc dù thanh toán bằng phƣơng thức L/C hạn chế đƣợc nhiều rủi
ro cho nhà NK cũng nhƣ nhà XK và NH cũng thu đƣợc nhiều phí từ nghiệp vụ này,
nhƣng cũng rất nhiều rủi ro phát sinh mà bản thân NH cũng phải hết sức cẩn thận để
tránh rủi ro.
Rủi ro đối với NH thông báo thƣ tín dụng (the advising bank): NH thông báo
là NH đƣợc NH mở yêu cầu thông báo một L/C do NH mở phát hành cho ngƣời

21

bán. NH thông báo phải chịu trách nhiệm về tính chân thật, hợp lệ của thƣ tín dụng
(bao gồm cả việc xác minh chữ ký, khóa mã, mẫu điện…) trƣớc khi gửi thông báo
cho nhà xuất khẩu. Rủi ro đối với NH thông báo xảy ra khi gặp phải một L/C giả
(hoặc sửa đổi giả) mà không có ghi chú gì. Theo thông lệ quốc tế thì NH thông báo
phải chịu hoàn toàn trách nhiệm với các bên liên quan.
Rủi ro đối với NH đƣợc chỉ định: NH đƣợc chỉ định không có một trách
nhiệm nào phải thanh toán cho nhà xuất khẩu trƣớc khi nhận đƣợc tiền từ NH phát
hành. Tuy nhiên trong thực tế, các NH đƣợc chỉ định thƣờng ứng trƣớc tiền cho nhà
xuất khẩu với điều kiện truy đòi (with recourse) để trợ giúp cho nhà xuất khẩu. Do
đó, NH này thƣờng phải tự chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành hoặc nhà xuất
khẩu.
Rủi ro đối với NH xác nhận (the confirming bank): NH xác nhận thƣờng là
NH lớn có uy tín hoặc NH có quan hệ tiền gửi, tiền vay với NH mở, đƣợc NH mở
yêu cầu xác nhận và cam kết trả tiền cho ngƣời bán nếu nhƣ NH mở không thực
hiện đƣợc nghĩa vụ của mình. Đối với NH xác nhận, khi tham gia xác nhận là họ đã
tự ràng buộc trách nhiệm của mình vào nghĩa vụ thanh toán L/C khi có tranh chấp
giữa hai bên. Rủi ro đối với NH xác nhận xảy ra khi họ không nắm vững đƣợc năng
lực tài chính của NH mở mà xác nhận theo yêu cầu của họ để rồi khi xảy ra hậu quả
thì lại phải chịu trách nhiệm thanh toán thay cho NH mở L/C do NH mở L/C thiếu
thiện chí hay mất khả năng thanh toán, thậm chí bị phá sản.
Rủi ro đối với NH chiết khấu (the negotiating bank): NH chiết khấu là NH
đƣợc chỉ định cụ thể hoặc bất cứ NH nào nếu L/C cho chiết khấu tự do. Cũng nhƣ
NH phát hành, NH chiết khấu có thể gặp phải rủi ro nếu nhƣ không thực hiện chính
xác nghiệp vụ cũng nhƣ không tuân thủ theo các điều kiện của UCP600. Rủi ro xảy
ra đối với NH chiết khấu phần nhiều phụ thuộc vào thiện chí của NH mở và nhà
nhập khẩu. Các rủi ro mà NH chiết khấu có thể gặp phải: rủi ro do những nguyên
nhân bất khả kháng; rủi ro do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán; rủi ro trong quá
trình vận chuyển; rủi ro do nhà nhập khẩu từ chối thanh toán bộ chứng từ; rủi ro do

22

NH mở bị phá sản; rủi ro do NH chiết khấu không hành động đúng theo quy định
của UCP600.
1.4 Kinh nghiệm gia tăng thanh toán xuất nhập khẩu của một số NHTM
1.4.1 Kinh nghiệm gia tăng thanh toán xuất nhập khẩu của một số NHTM


Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam (Eximbank)
Eximbank-Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt

động rộng khắp cả nƣớc và 207 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc và đã
thiết lập quan hệ đại lý với 869 Ngân hàng tại 84 quốc gia trên thế giới và cũng là
một trong những NH có chất lƣợng TTXNK xuất sắc đƣợc nhiều tổ chức tài chính
có uy tín công nhận nhƣ: HSBC, Bank of New York Mellon, Standard Charter bank
… Với mục tiêu phục vụ ngày càng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng và rút ngắn
thời gian với chi phí thấp nhất Eximbank luôn cố gắng trau dồi kiến thực, nghiệp vụ
để ngày một nâng cao hơn nữa tỷ lệ điện thanh toán xuyên suốt.
Để gia tăng hoạt động TTXNK, ngoài các sản phẩm truyền thống, Eximbank
còn có thêm những sản phẩm mới nhƣ dịch vụ xuất nhập khẩu trọn gói bao gồm
cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho hàng hoá nhập khẩu, cung cấp dịch vụ giao nhận,
cho thuê kho bãi, mang đến cho KH sự thuận tiện, tiết kiệm thời gian và chi phí
canh tranh nhất. Sản phẩm UPAS-Usance Payable At Sight nhằm đáp ứng nhu cầu
về vốn cho Doanh nghiệp nhập khẩu thông qua việc chuyển L/C thanh toán tiền
hàng từ “trả ngay” thành “trả chậm” và phát triển đƣợc sản phẩm bảo hiểm tỷ giá
trong những năm gần đây đã mang lại một lƣợng lớn khách hàng XNK do họ đã
giao dịch đƣợc tỷ giá sát với giá thị trƣờng và thanh toán chậm tiền hàng trên cơ sở
bảo lãnh của Eximbank.


Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam (Vietinbank)
Với thế mạnh là một trong các Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc lớn nhất

trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, có mạng lƣới kinh doanh rộng khắp, sản phẩm
dịch vụ ngân hàng đa dạng và chất lƣợng cao, hệ thống máy tính và truyền thông
hiện đại, công nghệ xử lý thông tin ngân hàng tiên tiến, có uy tín đối với khách
hàng trong nƣớc và quốc tế và là thành viên của Hiệp Hội Tài Chính Viễn Thông

23

liên Ngân Hàng Toàn Cầu (SWIFT), với ƣu thế là một ngân hàng hàng đầu trong
lĩnh vực thanh toán quốc tế và tài trợ thƣơng mại (TTQT & TTTM), chiếm lĩnh thị
phần lớn (năm 2012, thị phần doanh số TTQT & TTTM của Vietinbank là 14 ) và
là ngân hàng đầu tiên trong các NHTM Việt Nam có trung tâm xử lý nghiệp vụ
TTQT & TTTM.
Để gia tăng TTXNK, ngoài các sản phẩm TTQT & TTTM truyền thống,
Vietinbank tiên phong trong việc nghiên cứu, triển khai hàng loạt sản phẩm mới
phục vụ Doanh nghiệp XNK nhƣ: huy động vốn ngoại tệ giá r từ các công cụ
TTTM, rút vốn từ chƣơng trình GSM 102 - chƣơng trình tài trợ XK nông sản Mỹ
của Tổ Chức Tín Dụng Hàng Hóa (CCC) thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ từ đó cung
cấp nguồn vốn giá cạnh tranh cho các Doanh nghiệp XNK... Đặc biệt, bao thanh
toán – sản phẩm hỗ trợ hữu hiệu cho Doanh nghiệp XNK/Doanh nghiệp bán hàng
nhận đƣợc nguồn tài trợ khi ký hợp đồng thƣơng mại với Doanh nghiệp
XNK/Doanh nghiệp mua hàng có điều khoản thanh toán theo phƣơng thức tài
khoản mở, chuyển tiền và nhờ thu trả chậm đã đƣợc Vietinbank triển khai thành
công và nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm từ các Doanh nghiệp XNK.
Hơn nữa, với 3 chi nhánh nƣớc ngoài tại Đức, Lào và mạng lƣới hơn 900
ngân hàng đại lý trên toàn cầu, Vietinbank đáp ứng tốt nhất nhu cầu tìm hiểu đối tác
của các Doanh nghiệp XNK khi làm ăn buôn bán không chỉ tại các thị trƣờng truyền
thống nhƣ EU, Mỹ, Nhật.v.v mà còn tại các thị trƣờng nhƣ: Châu Phi, Mỹ Latin,
Myanmar... Điều này đặc biệt quan trọng các Doanh nghiệp XNK muốn mở rộng
thị trƣờng hoạt động mà chƣa nắm bắt chắc chắn đƣợc rủi ro xuất phát từ quá trình
làm việc giữa các đối tác cách nhau về không gian, thời gian và tập quán địa
phƣơng.


Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam)
Là một trong những ngân hàng hàng hàng đầu về thanh toán quốc tế và tài

trợ thƣơng mại, đội ngũ chuyên viên của HSBC luôn sẵn sàng hỗ trợ các doanh
nghiệp bất kể doanh nghiệp đang hoạt động tại đâu. Trung Tâm Thanh Toán và Tài
Trợ Thƣơng Mại của HSBC tại Việt Nam cung cấp gói giải pháp toàn diện từ các