Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ

5

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu
Hoạt động TTXNK có một số đặc điểm nhƣ sau:
-

Trƣớc hết, hoạt động TTXNK diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các

giao dịch mang tính mậu dịch và phi mậu dịch thông qua mạng lƣới ngân hàng thế
giới.
-

Hoạt động TTXNK khác với thanh toán trong nƣớc là ở đây nó liên quan đến

việc trao đổi tiền của quốc gia này lấy tiền của quốc gia khác. Vì vậy, khi ký kết các
hợp đồng mua bán ngoại thƣơng các bên phải thỏa thuận với nhau lấy đồng tiền của
nƣớc nào là tiền tệ tính toán và thanh toán trong hợp đồng, đồng thời phải tính toán
thận trọng để lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi ro khi tỷ giá hối đoái biến
động.
-

Hoạt động TTXNK đều đƣợc tiến hành thông qua NH và không dùng tiền

mặt, nếu có thì chỉ trong những trƣờng hợp riêng biệt. Do vậy, hoạt động TTXNK
về bản chất chính là các nghiệp vụ NH quốc tế nên đòi hỏi các NHTM khi thực hiện
nghiệp vụ này phải có năng lực tài chính vững mạnh, trình độ nghiệp vụ cao, công
nghệ tiên tiến và mạng lƣới đại lý rộng khắp trên thế giới nhằm thực hiện các khoản
thanh toán nhanh chóng và an toàn.
-

Hoạt động TTXNK đƣợc thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán

thƣơng mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp của các quốc gia,
bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thƣơng và chính sách ngoại hối của các
quốc gia tham gia trong thanh toán.
-

Kỹ thuật thanh toán của NH đƣợc thực hiện dựa trên chứng từ chứ không

dựa vào hàng hóa nên bộ chứng từ đóng vai trò quan trọng trong TTXNK.
-

Nghiệp vụ hoạt động TTXNK đòi hỏi trình độ cao, ứng dụng công nghệ hiện

đại. Với sự bùng nổ và phát triển của công nghệ thông tin trong vài thập niên gần
đây là điều kiện thúc đẩy TTXNK ngày càng đƣợc hoàn thiện, đổi mới công nghệ
nhằm đảm bảo cung cấp những sản phẩm tiện ích, an toàn, nhanh chóng, hiệu quả.

6

1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu đối với NHTM
Ngày nay trong xu hƣớng toàn cầu hóa nền kinh tế và thƣơng mại quốc tế
ngày càng phát triển, TTXNK đã trở thành một hoạt động cơ bản, không thể thiếu
của các NHTM. Hoạt động TTXNK của NHTM là một mắt xích không thể thiếu
trong toàn bộ dây chuyền thực hiện một hợp đồng ngoại thƣơng. Thực hiện tốt vai
trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động TTXNK, NHTM đã đóng góp
rất nhiều cho nền kinh tế, cho khách hàng và đặc biệt là cho bản thân các NH.
Trong các mối quan hệ thanh toán quốc tế, NH đóng vai trò trung gian tiến
hành thanh toán. Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTXNK của các
NHTM giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng đƣợc tiến hành
nhanh chóng, chính xác, an toàn, thuận lợi đồng thời giảm thiểu chi phí cho khách
hàng. Với sự ủy thác của khách hàng, NH không chỉ bảo vệ quyền lợi cho khách
hàng trong các giao dịch thanh toán mà còn tƣ vấn cho khách hàng nhằm tạo nên sự
tin tƣởng, hạn chế rủi ro trong quan hệ thanh toán với các đối tác nƣớc ngoài.
TTXNK không chỉ làm tăng thu nhập của NH bằng các khoản phí, hoa hồng
mà còn tạo điều kiện cho NH tăng thêm nguồn vốn của mình do khách hàng mở tài
khoản hoặc ký quỹ tại NH và đa dạng các dịch vụ khác nhƣ: chấp nhận hối phiếu,
chiết khấu hối phiếu, cung cấp tín dụng tài trợ, bão lãnh thanh toán cho khách hàng.
Nhƣ vậy, thực hiện tốt TTXNK sẽ tạo điều kiện phát triển các nghiệp vụ và
mở rộng quy mô hoạt động của NH, nâng cao uy tín của NH trên thị trƣờng tài
chính quốc tế.
Trong quá trình lƣu thông hàng hoá, TTXNK là khâu cuối cùng. Do vậy, nếu
thanh toán thực hiện nhanh chóng và liên tục, giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu đƣợc
thực hiện sẽ có tác dụng thúc đẩy tốc độ thanh toán và giúp các doanh nghiệp thu
hồi vốn nhanh. Thông qua TTXNK, còn tạo nên các mối quan hệ tin cậy giữa doanh
nghiệp và ngân hàng, từ đó có thể tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đƣợc
các NH tài trợ vốn trong trƣờng hợp doanh nghiệp thiếu vốn hoặc nếu khách hàng
không có đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của NH thì NH sẽ chiết khấu bộ
chứng từ, hỗ trợ về mặt kỹ thuật thanh toán thông qua việc hƣớng dẫn, tƣ vấn cho

7

doanh nghiệp, hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra trong quá trình TTXNK có thể
xảy ra.
TTXNK là một loại nghiệp vụ liên quan đến tài sản ngoại bảng của ngân
hàng. Hoạt động TTXNK giúp NH đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách
hàng về các dịch vụ tài chính có liên quan tới TTXNK. Trên cơ sở đó, giúp NH tăng
doanh thu, nâng cao uy tín cho NH và tạo dựng niềm tin cho khách hàng. Điều đó
không chỉ giúp NH mở rộng quy mô hoạt động mà còn là một ƣu thế tạo nên sức
cạnh tranh của NH trong cơ chế thị trƣờng. Hoạt động TTXNK không chỉ là một
hoạt động đơn thuần mà còn là hoạt động hỗ trợ bổ sung cho các hoạt động kinh
doanh khác của NH. Hoạt động TTNXK đƣợc thực hiện tốt sẽ mở rộng cho hoạt
động tín dụng xuất nhập khẩu (XNK), phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo
lãnh NH trong ngoại thƣơng, tài trợ thƣơng mại và các hoạt động NH quốc tế khác.
Hoạt động TTXNK làm tăng tính thanh khoản cho NH. Khi thực hiện nghiệp
vụ TTXNK, NH có thể thu đƣợc nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các
doanh nghiệp có quan hệ TTXNK với các NH dƣới hình thức các khoản ký quỹ chờ
thanh toán.
TTXNK còn tạo điều kiện hiện đại hóa công nghệ NH. Các NH sẽ áp dụng
công nghệ tiên tiến để hoạt động TTXNK đƣợc thực hiện nhanh chóng, kịp thời và
chính xác nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng quy mô và mạng lƣới NH.
Hoạt động TTXNK cũng làm tăng cƣờng mối quan hệ đối ngoại của NH,
tăng cƣờng khả năng cạnh tranh của NH, nâng cao uy tín của mình trên trƣờng quốc
tế. Trên cơ sở, đó khai thác nguồn tài trợ của các NH nƣớc ngoài và nguồn vốn trên
thị trƣờng tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của NH.
Thực hiện TTXNK tốt còn có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu gia tăng qui mô hoạt động, tăng khối lƣợng hàng hoá giao
dịch và mở rộng quan hệ giao dịch với các nƣớc với nhau.
Về phƣơng diện quản lý của Nhà nƣớc, thực hiện TTXNK có tác dụng tập
trung và quản lý nguồn ngoại tệ trong nƣớc và sử dụng ngoại tệ một cách có mục
đích, có hiệu quả theo yêu cầu của nền kinh tế, tạo điều kiện thực hiện tốt cơ chế

8

quản lý ngoại hối của nhà nƣớc, quản lý hiệu quả các hoạt động xuất nhập khẩu
theo chính sách ngoại thƣơng đã đề ra.
1.2 Các phƣơng thức thanh toán xuất nhập khẩu
Phƣơng thức thanh toán là điền kiện quan trọng bậc nhất trong các điền kiện
thanh toán quốc tế. Ngƣời ta có thể lựa chọn nhiều phƣơng thức, việc chọn phƣơng
thức nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu của ngƣời bán là thu tiền nhanh, đầy đủ và
từ yêu cầu ngƣời mua là nhập hàng đúng số lƣợng, chất lƣợng và đúng hạn, từ yêu
cầu của phía dịch vụ và sự an toàn trong kinh doanh.
1.2.1 Phƣơng thức chuyển tiền (Remittance)


Khái niệm: Phƣơng thức chuyển tiền là phƣơng thức theo sự ủy nhiệm của

khách hàng, yêu cầu NH phục vụ chuyển một số tiền nhất định từ quốc gia này sang
quốc gia khác cho ngƣời thụ hƣởng tại địa điểm nhất định và trong một thời gian
nhất định.
 Các bên tham gia:
-

Ngƣời chuyển tiền (The Remitter, The Applicant, The Customer): Ngƣời

mua, nhà nhập khẩu (NK),…là ngƣời yêu cầu NH chuyển tiền.
-

NH chuyển tiền (The Remitting bank, The Applicant bank): Là NH nhận ủy

thác chuyển tiền của ngƣời chuyển tiền.
-

Ngƣời thụ hƣởng (The Beneficiary): Là ngƣời bán, nhà xuất khẩu (XK)hoặc

một ngƣời nào đó do ngƣời chuyển tiền chỉ định.
-

NH trả tiền (The Beneficiary bank): Là NH đại lý của NH nhận ủy thác

chuyển tiền ở nƣớc ngoài, NH phục vụ ngƣời thụ hƣởng.


Địa điểm thanh toán: Trong thanh toán ngoại thƣơng địa điểm thanh toán có

thể ở nƣớc ngƣời NK, hoặc ở nƣớc ngƣời XK hoặc ở nƣớc thứ ba. Trong TTXNK
giữa các nƣớc, bên nào cũng muốn trả tiền tại nƣớc mình vì nếu là nhà NK đến
ngày trả tiền mới phải chi thì đỡ đọng vốn, nhà XK thu tiền nhanh chóng luân
chuyển vốn nhanh hơn.

9

 Thời gian thanh toán:
-

Trả tiền trƣớc: Sau khi ký hợp đồng hoặc sau khi bên XK chấp nhận đơn đặt

hàng bên NK, nhƣng trƣớc khi giao hàng bên NK đã trả cho bên XK toàn bộ hay
một phần số tiền hàng. Đây có thể là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn của nhà NK
cho ngƣời XK. Song cũng có thể là nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng cho ngƣời
NK.
-

Trả tiền ngay khi hoàn thành việc giao hàng: Tại nơi giao hàng quy định

hoặc sau khi ngƣời bán lập bộ chứng từ gửi hàng và chuyển đến ngƣời mua, ngƣời
mua trả tiền ngay sau khi nhận bộ chứng từ.
-

Trả tiền sau: Sau x ngày kể từ ngày ngƣời bán hoàn thành việc giao hàng tại

nơi giao hàng. Sau x ngày kể từ ngày nhận đƣợc chứng từ do ngƣời bán gửi đến.


Hình thức chuyển tiền: Có hai hình thức chuyển tiền, chuyển tiền bằng thƣ

(M/T-Mail transfers) và chuyển tiền bằng điện (T/T-Telegraphic transfers). Chuyển
tiền bằng thƣ chi phí thấp nhƣng tƣơng đối chậm, dễ bị ảnh hƣởng biến động của tỷ
giá. Ngƣợc lại, chuyển tiền bằng điện chi phí cao nhƣng nhanh chóng kịp thời nên ít
chịu ảnh hƣởng của biến động tỷ giá.


Đặc điểm: Phƣơng thức này thủ tục đơn giản, nhanh chóng, phí thanh toán

không cao. Đây là hình thức thanh toán trực tiếp giữa ngƣời chuyển tiền và ngƣời
hƣởng lợi, NH chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, theo uỷ nhiệm để hƣởng hoa
hồng và không bị ràng buộc gì đối với cả ngƣời NK và ngƣời XK. Việc chuyển tiền
hoàn tất khi thanh toán hết số tiền cho ngƣời hƣởng lợi, trƣớc thời điểm này số tiền
trong tài khoản vẫn thuộc quyển sở hữu của ngƣời chuyển tiền và ngƣời này có
quyển hủy bỏ lệnh chuyển tiền mà ngƣời thụ hƣởng không có quyển khiếu nại gì
với NH. Nhƣ vậy việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của ngƣời mua, quyền lợi của
ngƣời XK không đƣợc đảm bảo. Điều kiện áp dụng phƣơng thức chuyển tiền là
trƣờng hợp hai bên quen biết, quan hệ thƣờng xuyên và tin tƣởng lẫn nhau. Thƣờng
đƣợc áp dụng thanh toán những khoản tƣơng đối nhỏ, các mặt hàng quen thuộc
truyền thống trong thanh toán hàng XNK.

10

1.2.2Trả tiền lấy chứng từ-CAD (Cash against document)


Khái niệm: C D là phƣơng thức thanh toán mà nhà NK yêu cầu NH mở tài

khoản ký thác để thanh toán tiền cho nhà XK với điều kiện nhà XK xuất trình
những chứng từ theo yêu cầu đã đƣợc thỏa thuận cho NH để đƣợc thanh toán tiền.
Phƣơng thức này còn đƣợc gọi là COD (Cash on delivery).


Đặc điểm: Phƣơng thức này có lợi cho nhà XK chắc chắn thu đƣợc tiền

nhanh chóng, thủ tục đơn giản. Phƣơng thức này đƣợc áp dụng trong các trƣờng
hợp ngƣời mua và ngƣời bán có quan hệ tốt, tin tƣởng lẫn nhau. Ngƣời mua phải có
đại diện bên nƣớc XK để kiểm tra giám sát chặc chẽ quá trình giao nhận hàng nhằm
tránh trƣờng hợp ngƣời bán xuất trình chứng từ không phù hợp với hàng hóa thực
giao. Tuy nhiên, phƣơng thức này có bất lợi là chƣa có cơ sở pháp lý rõ ràng nếu có
tranh chấp xảy ra thì việc xử lý rất phức tạp, nên phạm vi áp dụng còn hạn chế.
1.2.3 Phƣơng thức nhờ thu (Collection of payment)


Khái niệm: Phƣơng thức nhờ thu là phƣơng thức thanh toán trong đó ngƣời

XK sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho NH
phục vụ mình thu hộ số tiền ngƣời NK trên cơ sở hối phiếu và chứng từ hàng hóa
liên quan (nếu có).


Các bên tham gia:

-

Ngƣời ủy thác (Principal): Là ngƣời bán (nhà XK) nhờ NH thu hộ tiền.

-

Ngƣời trả tiền (Drawee): Là ngƣời mua (nhà NK), là ngƣời đƣợc ký phát hối

phiếu.
-

NH chuyển chứng từ (The Remitting bank): Là NH phục vụ cho bên bán

(nhà XK), đƣợc bên bán ủy thác thu hộ tiền bên mua, có nhiệm vụ chuyển giao
chứng từ ra NH nƣớc ngoài để đòi tiền bên mua.
-

NH thu hộ tiền (The Collecting bank): Có nhiệm vụ thu hộ tiền bên mua (nhà

NK) thƣờng là đại lý của NH chuyển chứng từ ở nƣớc ngoài. Nếu trong trƣờng hợp,
NH thu hộ không trực tiếp xuất trình chứng từ đòi tiền nhà NK mà phải thông qua
một NH khác đó là NH xuất trình chứng từ.

11

-

NH xuất trình chứng từ (The Presenting bank): Là NH thu hộ, là NH trực

tiếp xuất trình chứng từ đòi tiền bên mua.

-

Phương thức nhờ thu được thực hiện dưới hai hình thức:
Nhờ thu phiếu trơn: Là phƣơng thức ngƣời bán uỷ thác NH thu hộ tiền ở

ngƣời mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập còn chứng từ hàng gửi thẳng cho
ngƣời mua không qua NH. Phƣơng thức này không áp dụng nhiều trong thanh toán
về mậu dịch vì nó không đảm bảo quyển lợi cho ngƣời bán do việc nhập hàng của
ngƣời mua tách rời khâu thanh toán. Ngƣời mua có thể nhận hàng nhƣng không trả
tiền không đúng hạn.
-

Nhờ thu kèm chứng từ: Là phƣơng thức thanh toán trong đó chứng từ gởi đi

nhờ thu bao gồm: hoặc chứng từ thƣơng mại kèm chứng từ tài chính hoặc chỉ có
chứng từ thƣơng mại. NH thu hộ chỉ trao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu sau khi
nhà nhập khẩu đáp ứng yêu cầu của lệnh nhờ thu, nhƣ chấp nhận trả tiền hối phiếu
(Documents against Acceptance) hoặc trả tiền để đổi lấy chứng từ (Documents
against Payment) hoặc các điều kiện khác (Documentsagainst Other Terms and
Conditions: Signed trust receipt/Bank undertakings –AVAL).


Đặc điểm: Phƣơng thức thanh toán nhờ thu không đảm bảo quyền lợi cho

ngƣời bán vì việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí của
ngƣời mua. Nhà XK có thể không nhận đƣợc tiền thanh toán dù hàng hóa đã đƣợc
giao, chịu chi phí phát sinh thuê kho lƣu hàng hóa, giải phóng tàu, điều tra nguyên
nhân bị từ chối, quảng cáo tìm khách hàng, bán đấu giá hàng hóa, nhờ NH bán
hộ…hoặc trong trƣờng hợp bên mua cố tình kéo dài thời gian thanh toán vì giá cả
hàng hóa giảm xuống, thị hiếu ngƣời tiêu dùng thay đổi. NH tham gia không chịu
trách nhiệm thanh toán mà chỉ đóng vai trò là trung gian trong thanh toán trong việc
chuyển tiếp chứng từ và yêu cầu thanh toán theo chỉ thị của ngƣời bán mà không bị
ràng buộc trách nhiệm về mặt pháp lý nên việc đồng ý hay không là do nhà NK chủ
động. Tuy nhiên, phƣơng thức này cũng có những điểm bất lợi cho ngƣời mua phải
chấp nhận trả tiền hoặc ký chấp nhận hối phiếu mà chƣa kiểm tra hàng hóa trƣớc
khi nhận hàng nên có thể hàng không đúng với hợp đồng đã ký kết.

12

Hiện nay, phƣơng thức thanh toán nhờ thu đƣợc thực hiện trên tinh thần quy
tắc thống nhất về nhờ thu chứng từ thƣơng mại URC phiên bản số 522 của Phòng
thƣơng mại quốc tế ICC, hiệu lực từ ngày 1/1/1996.
1.2.4 Phƣơng thức tín dụng chứng từ (L/C: Letter of Credit)


Khái niệm: Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó NH (NH mở

thƣ tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (ngƣời xin mở thƣ tín dụng) cam kết
thanh toán một số tiền nhất định cho ngƣời thứ ba (ngƣời thụ hƣởng) hoặc trả theo
lệnh của ngƣời này hoặc chấp nhận hối phiếu do ngƣời này ký phát trong phạm vi
số tiền đó, với điều kiện ngƣời này thực hiện đầy đủ những yêu cầu của thƣ tín dụng
và xuất trình cho NH bộ thanh toán phù hợp với các điều khoản, điều kiện đã ghi
trong thƣ tín dụng.

-

Các đối tượng liên quan đến thương thức tín dụng chứng từ:
Ngƣời xin mở thƣ tín dụng (the applicant, the importer, the buyer, accountee)

: Là ngƣời mua, nhà NK, ngƣời trả tiền.
-

NH mở thƣ tín dụng (the opening bank, the issuing bank): Là NH phục vụ

cho nhà NK.
-

Ngƣời thụ hƣởng (the beneficiary, the seller, the exporter): Là ngƣời bán,

nhà XK, hay một ngƣời bất kỳ do ngƣời hƣởng lợi chỉ định, cũng chính là ngƣời ký
phát hối phiếu (Drawer).
-

NH thông báo thƣ tín dụng (the advising bank): Là NH có nhiệm vụ thông

báo thƣ tín dụng cho nhà XK, thƣờng là NH đại lý của NH mở thƣ tín dụng ở nƣớc
ngƣời hƣởng lợi.
Ngoài ra còn có các NH sau:
-

NH xác nhận (the confirming bank): Có thể là một NH thông báo L/C hay

một NH bất kỳ do ngƣời hƣởng lợi yêu cầu, thƣờng là những NH lớn có uy tín trên
trƣờng quốc tế.
-

NH thanh toán (the paying bank): Là NH đƣợc NH mở tín dụng chỉ định

thanh toán cho ngƣời hƣởng lợi L/C. NH thanh toán có thể là NH thông báo hoặc
NH khác.

13

-

NH chấp nhận (the accepting bank): Là NH thay mặt NH mở L/C thực hiện

chấp nhận hối phiếu kỳ hạn.
-

NH chiết khấu (the negotiating bank): Là NH đƣợc NH mở cho phép thực

hiện bộ chứng từ theo L/C. NH chiết khấu có thể là NH thông báo hoặc là NH khác.
-

NH chỉ định (the Nominating bank): Là NH đƣợc ủy quyền để thanh toán

chiết khấu (honour/negotiable) hoặc bất cứ NH nào nếu thƣ tín dụng có giá trị thanh
toán đối với bất cứ NH nào có thể là NH thanh toán, NH xác nhận, NH chấp nhận…
-

NH bồi hoàn (the Reimbursing bank): NH bồi hoàn có trách nhiệm bồi hoàn

tiền cho NH đã thanh toán bộ chứng từ cho ngƣời thụ hƣởng, có thể là NH mở hoặc
đại lý của NH mở.
-

NH chuyển nhƣợng (the transferring bank): Là NH đƣợc phép chuyển

nhƣợng theo giá trị L/C đƣợc quy định trong L/C chuyển nhƣợng.

-

Có các loại thư tín dụng sau đây:
Phân theo thời hạn thanh toán gồm: Thƣ tín dụng trả ngay (At Sight payment

L/C), Thƣ tín dụng trả chậm (Deferred payment L/C).
-

Phân theo hình thức sử dụng:

+ Thƣ tín dụng không thể hủy ngang (irrevocable letter of credit): Là thƣ tín
dụng xác định trách nhiệm thanh toán của NH mở. L/C sau khi đã mở trong thời
gian hiệu lực không đƣợc hủy bỏ, sửa đổi bổ sung nếu nhƣ không có sự đồng ý của
nhà XK và các bên tham gia.
+ Thƣ tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (the irrevocable letter of
credit): Là một L/C không hủy ngang đƣợc một NH khác xác nhận đảm bảo cam kết
thanh toán do ngƣời bán không tin tƣởng vào khả năng thanh toán của NH mở L/C.
+ Thƣ tín dụng không hủy ngang miễn truy đòi (the irrevocable without resource
L/C): Là loại L/C mà sau khi ngƣời hƣởng lợi đã nhận đƣợc tiền thanh toán từ NH
thanh toán L/C và NH thanh toán không đƣợc quyền đòi lại ngƣời thụ hƣởng trong
bất cứ trƣờng hợp nào.
+ Thƣ tín dụng chuyển nhƣợng (the transferable L/C): Là loại thƣ tín dụng
không hủy ngang trong đó cho phép ngƣời thụ hƣởng yêu cầu NH thanh toán hoặc

14

chấp nhận hối phiếu, chiết khấu hối phiếu chuyển nhƣợng một phần hay toàn bộ giá
trị L/C cho ngƣời thụ hƣởng thứ hai. Mỗi L/C chỉ đƣợc chuyển nhƣợng một lần và
chi phí chuyển nhƣợng sẽ do ngƣời thụ hƣởng đầu tiên trả.
+ Thƣ tín dụng giáp lƣng (Back to back letter of credit): Là loại L/C đƣợc mở
trên cơ sở L/C mà nhà NK đã mở cho nhà XK hƣởng. Nhà XK mua hàng từ nhà
cung cấp, căn cứ vào L/C nhận đƣợc, nhà XK yêu cầu NH phục vụ mình mở L/C
cho nhà cung cấp hƣởng với nội dung gần giống nhau, L/C mở sau gọi là L/C giáp
lƣng, L/C đầu gọi là L/C gốc.
+ Thƣ tín dụng đối ứng (Reciprocal letter of credit): Còn gọi là L/C dùng cho
mua bán đối lƣu (L/C for counter trade-transaction), là loại L/C mà khi nhà XK
nhận đƣợc L/C của nhà NK mở thì nhà XK phải mở L/C tƣơng ứng thì mới có giá
trị.
+ Thƣ tín dụng dự phòng (Stand by letter of credit): Là loại L/C đƣợc mở nhằm
đảm bảo quyền lợi cho nhà NK. Trong trƣờng hợp, nhà XK nhận đƣợc L/C nhƣng
lại không có khả năng giao hàng.
+ Thƣ tín dụng thanh toán dần (Deferred payment letter of credit): Là loại thƣ
tín dụng không thể hủy bỏ đƣợc NH mở L/C cam kết với ngƣời hƣởng lợi thanh
toán dần số tiền ghi trong L/C trong thời gian hiệu lực quy định.
+ Thƣ tín dụng ứng trƣớc (Packing letter of credit): Là loại L/C mà trong đó quy
định một khoản tiền đƣợc ứng trƣớc cho nhà XK vào một thời điểm trƣớc khi xuất
trình chứng từ. Đối với khoản ứng trƣớc này, ngƣời ta thƣờng quy định một điều
khoản đặc biệt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên liên quan gọi là L/C điều
khoản đỏ (red clause letter of credit).


Đặc điểm: Trong phƣơng thức tín dụng chứng từ, NH không chỉ là ngƣời

trung gian thu hộ, chi hộ mà còn là ngƣời đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng
cho nhà XK và là ngƣời đảm bảo cho nhà NK nhận đƣợc hàng hóa theo bộ chứng từ
xuất khẩu tƣơng ứng với số tiền thanh toán. Giao dịch bằng L/C có một số đặc điểm
sau:

15

-

L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa: L/C đƣợc hình thành trên cơ sở

hợp đồng ngoại thƣơng nhƣng sau khi đƣợc thiết lập, L/C hoàn toàn độc lập với hợp
đồng cho dù trong L/C có dẫn chiếu hợp đồng hay không.
-

L/C giao dịch chủ yếu dựa trên chứng từ: Các NH dựa trên chứng từ kiểm tra

việc xuất trình để quyết định trên bề mặt chứng từ có tạo thành một xuất trình phù
hợp hay không cho nên chứng từ đóng vai trò quan trọng. Việc nhà xuất khẩu có thu
đƣợc tiền hay không phụ thuộc vào việc xuất trình chứng phù hợp.
-

L/C là công cụ thanh toán và hạn chế rủi ro: So với các phƣơng thức thanh

toán khác, L/C có đặc điểm vƣợt trội là bảo vệ cho nhà xuất khẩu nhận đƣợc tiền
thanh toán và nhà nhập khẩu đƣợc nhận hàng theo bộ chứng từ, nhƣng bên cạnh đó
cũng phát sinh nhiều rủi ro nếu các bên tham gia không tìm hiểu rõ về đối tác của
mình.
Tuy nhiên, L/C là phƣơng thức thanh toán có thủ tục phức tạp và chi phí cao.


Cơ sở pháp lý: Phƣơng thức tín dụng chứng từ là phƣơng thức thanh toán

đƣợc sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế vì đảm bảo quyền lợi của nhà XK
và NK. Hiện tại, phƣơng thức tín dụng chứng từ đƣợc thực hiện theo Quy tắc thống
nhất về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ (Uniform Customs and Practice for
documentary credits - UCP), phiên bản số 600 của Phòng thƣơng mại quốc tế ICC,
và các văn bản pháp lý quốc tế khác nhƣ: Văn bản về thực hành kiểm tra chứng từ
theo tiêu chuẩn NH quốc tế đối với phƣơng thức tín dụng chứng từ gọi tắt là ISBP
(International Standard Banking Practice for the examination of documents under
documentary credits, 2010, ICC), Các qui tắc thống nhất về bồi hoàn chuyển tiền
giữa các NH theo tín dụng chứng từ gọi tắt là URR725 (Uniform Rules for Bank to
Bank Reimbursement under documentary credits N.725, 2010, ICC).