Tải bản đầy đủ
Chương I: Một số khái niệm liên quan

Chương I: Một số khái niệm liên quan

Tải bản đầy đủ

con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử nhằm thỏa mãn các nhu cầu về
vật chất và tinh thần của con người.
Ví dụ: Văn hóa dân gian, văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, văn
hóaứng xử, văn hóa chính trị, văn hóa kinh tế, văn hóa cồng chiêng, văn hóa
Văn Lang – Âu Lạc....
Còn riêng Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hóa:
"Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng
tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc,
ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là
văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"
Về sau này, nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều
cách định nghĩavề văn hóa:
Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và
NXB Văn hóa - Thông tin,1997, cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con
người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó
có văn hóa.
Còn theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm trong cuốn Tìm về bản sắc văn
hóa Việt Nam thì: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa
bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia.
................
5

Như vậy, từ tất cả có thể thấy rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật
thể, những giá trị văn hóa được kết tinh theo không gian và thời gian do con
người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên.

6

2. Khái niệm Từ chức
Từ xa xưa, Chức đã được hiểu là danh vị thể hiện các cấp bậc, quyền
hạn và trách nhiệm của một người.
Từ đó khái niệm về từ chức được hiểu là xin thôi không làm chức vụ
hiện đang giữ. Việc từ chức chỉ có thể sảy ra ở những người có chức, có quyền.
Từ chức một cách tự nguyện, tự giác là thái độ trung thực với chính mình, biết
xấu hổ khi làm điều trái với đạo lý, đi ngược lại nguyện vọng của cơ quan, tổ
chức và cộng đồng, là biểu hiện của sự cao thượng, dũng cảm, tự trọng.
3. Khái niệm Văn hóa Từ chức
Hiện nay, vấn đề văn hóa từ chức ở nước ta đang được nhiều nhà
nghiên cứu đề cập đến và luận bàn. Vấn đề Từ chức chỉ được xem là một
hành vi có văn hóa khi người ta tự nguyện và mang lại ý nghĩa tốt đẹp cho xã
hội. Ở các nước phát triển, từ chức là văn hóa hành xử của những người có
chức, có quyền và đã trở thành trách nhiệm của người có chức, có quyền,
được dư luận xã hội chấp nhận.
Còn ở Việt Nam, chuyện từ chức đã sớm có trong lịch sử nhưng để trở
thành Văn hóa từ chức và khi nào có Văn hóa từ chức thì vẫn còn là một câu
hỏi lớn.
Định nghĩa về Văn hóa Từ chức VoH.com.Vn đưa ra rằng: Văn hóa từ
chức là cụm từ chỉ hành động được dùng ở thời đương đại, còn bản chất, nội
dung chính là “Treo ấn từ quan” mà hết thảy đông tây kim cổ đều có. Đó là
một hành động xuất phát từ nhận thức đúng đắn về tính hiệu quả trong công
việc và nghệ thuật dùng người vì lợi ích chung.
Tạp chí cộng sản chỉ ra rằng:Văn hóa từ chức là một dạng văn hóa cá
nhân của những người có chức, có quyền. Họ được cơ quan, tổ chức và xã hội
7

tôn trọng khi ở họ có nhân cách đạo đức, biết lãnh đạo bằng tấm gương. Nếu
không có nhân cách và gương mẫu thì không thể thuyết phục được mọi người.
Và như vậy, một đất nước văn minh, phát triển thì không thể thiếu văn
hóa từ chức, và nói về văn hóa từ chức thì dễ nhưng để thực hiện được nó
trong một môi trường đang phát triển, đang hòa nhập trong xu thế toàn cầu
hóa, sự phức tạp của kinh tế, chính trị và sự xuống cấp đạo đức và những hệ
lụy từ tư tưởng hàng ngàn năm của Việt Nam lại là những rào cản cho việc
phát triển và xây dựng văn hóa từ chức ngày nay. Để làm rõ hơn những hạn
chế cũng như đưa ra một số biện pháp thức đẩy, xây dưng văn hóa từ chức ở
nước ta hiện nay, chúng ta cùng bàn vấn đề ở chương sau khi đề cập đến
những cơ sở tác động tiêu cực đến Văn hóa Từ chức ở Việt Nam.

8

Chương II. Những cơ sở tác động tiêu cực đến văn hóa từ
chức ở Việt Nam
1. Văn hóa từ chức trong lịch sử dân tộc.
Trong lịch sử nước ta, từ chức hay còn gọi là treo ấn từ quan có nghĩa
treo trả cái ấn tại công đường mà bỏ về, không làm quan nữa.Có nhiều người
tài giỏi như Chu Văn An, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Khuyến, Nguyễn Siêu... đã treo ấn từ quan.Các ông từ chức không phảivì
không làm tròn chức trách, gây tác hại lớn mà phần nhiều là do khảng khái,
giữ khí tiết thanh liêm, không đồng ý với quan điểm của vua...
Các bậc hiền tài ngày ấy có nhiều cách xuất thế hành đạo, các bậc ấy,
học sách thánh hiền, tuân thủ lễ nghĩa, dù là làm quan hay dạy học đều cố giữ
cho tròn đạo vua tôi, quần thần, đạo trung với nước, đạo hiếu với dân… khi
đã mang cả tài sản, trí lực ra phụng sự tổ quốc, phụng sự đất nước, phò vua
đánh giặc hay giữ cho đất nước, dân an mà khi bất mãn với triều đình, các vị
đó sẵn sàng từ quan để giữ đạo, về sống điền viên, cuộc đời ở ẩn. chứ nhất
định không chịu làm việc sai trái, không chịu đi theo những hèn kém trong
triều đình. Xa lánh chốn quan trường về ở ẩn đọc sách,dạy học, làm thơ…
được xã hội chấp nhận ở một góc độ nào đó được và được nhân dân yêu mến,
tôn vinh. Chính vì lẽ đó mà hành vi treo ấn từ quan hoặc còn gọi là cáo quan
về ở ẩn đã trở thành một nét đẹp văn hóa hay đúng hơn có thể gọi là Văn hóa
treo ấn từ quan.
Trong lịch sử cũng đã chứng minh, khi rời bỏ chốn kinh thành phồn
hoa,chốn quan trường nhiều thị phi, nhũng nhiễu, các vị ấy cáo quan về quê ở
ẩn. Sống ở quê, trồng rau, nuôi cá, lao động chân tay mà “tránh sự đời” nhưng
nét đẹp tâm hồn không bị mai một, phôi phai mà được vun đắp qua thời gian
cùng những triết lý nhân sinh sâu sắc. Dù lui về ở ấn, nhưng trong các vị ấy,
9

vẫn có người sẽ trở lại quan trường khi được mời, được trọng dụng, tài sức
vẫn phụng sự cho nhân dân, tổ quốc khi cần, mộng sĩ phu vì thế đã tô điểm
thêm cho nét đẹp của văn hóa treo án từ quan mà không đánh mất sự thanh
liêm, đáng kính trong tư cách và nhân cách.
Là một nhà sử học, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đã từng có
lời khẳng định: “xa xưa, các cụ nhà ta coi việc cáo quan hồi hương là một
cách giữ tiết tháo”. Và sau này, trong Đảng ta cũng có Tổng bí thư Trường
Chinh - người có công lớn với Cách mạng tháng Tám năm 1945, sau khi nhận
trách nhiệm chính trị về những sai lầm trong cải cách ruộng đất 1956, ông đã
từ chức và tiếp tục phấn đấu để rồi ba thập kỷ sau trở lại với cương vị Tổng bí
thư, kịp góp phần khởi động công cuộc đổi mới trước khi từ trần". Đó là
những tấm gương sáng, những tấm gương làm nên nét đẹp của Văn hóa Từ
chức của Việt Nam.
Tuy nhiên, trong thời gian hiện đại ngày nay, cùng với sự phát triển của
đất nước lại kéo theo sự suy đồi của nhân cách, đạo đức người làm cán bộ,
người làm quan. Khí chất thanh liêm không còn và trong nhiều năm trở lại
đây, văn hóa Từ chức đã trở thành một nếp sống xa xỉ trong đời sống cán bộ,
viên chức và dù có hàng ngàn sai phạm họ vấn cố giữ cho được chức vị của
mình. Lý do cho vấn đề đó là tại đâu? Và Văn hóa từ chức bao giờ mới có thể
trở thành một nếp văn hóa ở nước ta, điều đó vẫn còn là một vấn đề đáng bàn.
2. Văn hóa Từ chức Việt Nam đương đại và những tác động tiêu
cực.
2.1 Văn hóa Từ chức ở Việt nam đương đại và những trở ngại
Người ta vẫn hay quan niệm văn hóa từ chức là một hành động rất đặc
biệt trong xã hội. Khi người được giao trách nhiệm đã cố tình hay không đủ khả
năng làm tròn thì với lòng tự trọng của mình người đó sẽ tự nguyện xin từ chức.
Hiện nay, vấn đề văn hóa từ chức ở nước ta đang được nhiều nhà nghiên
cứu đề cập đến. Từ chức chỉ được xem là một hành vi có văn hóa khi người ta
10