Tải bản đầy đủ
Bảng 3.5: Diện tích bề mặt lớp phủ được chiết tách từ kết quả phân loại ảnh vệ tinh

Bảng 3.5: Diện tích bề mặt lớp phủ được chiết tách từ kết quả phân loại ảnh vệ tinh

Tải bản đầy đủ

Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đ ồ án t ốt

nghiệp

Quy trình đánh giá biến động bề mặt không thấm

SV: Lê Thanh Huỳnh

Trắc Địa Mỏ - CT K56

Trường Đại học Mỏ - Địa chất

nghiệp

Đ ồ án t ốt

Hình 3.14.Bản đồ biến động bề mặt quận Hoàng Mai giai đoạn 2003-2009

Hình 3.14.1 Biểu đồ biến động bề mặt quận Hoàng Mai giai đoạn năm 2003 - 2009
Từ bảng 3.5 và hình 3.14 cho thấy diện tích bề mặt không thấm có sự biến động diện
tích tương đối lớn, diện tích tăng từ năm 2003 là 654.58 ha tăng lên 892.09 ha năm
2009. Tốc độ trung bình tăng qua mỗi năm là 29.688 ha/ năm. Diện tích bề mặt không

SV: Lê Thanh Huỳnh

Trắc Địa Mỏ - CT K56

Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đ ồ án t ốt

nghiệp

thấm trong giai đoạn này chủ yếu do diện tích lớp phủ thực vật chuyển sang đồng thời
các lớp phủ bề mặt khác có xu hướng giảm xuống.
3.6. Đánh giá quá trình mở rộng đô thị Quận Hoàng Mai-Hà Nội qua sự gia tăng
bề mặt không thấm
Diện tích bề mặt không thấm được định nghĩa là diện tích của các bề mặt như
đường xá, cầu cống, nhà ở khu dân cư hay các bãi đỗ xe, các công trình công nghiệp…
Trong giai đoạn từ năm 2003-2009 có sự tăng lên rõ rệt về diện tích bề mặt không
thấm do nhu cầu về nhà ở cho người dân ngày càng tăng dẫn đến sự xuất hiện của các
khu đô thị mới.Cùng với sự mở rộng các khu dân cư từ đơn lẻ thành các cụm dân cư
đông đúc mở rộng theo chiều ngang dọc theo các tuyến đường chính. Quá trình đô thị
hóa cùng với việc phát triển mở rộng các làn đường giao thông như : đường Giải
Phóng,đường Kim Đồng,đường 2,5(đoạn từ cầu Đền Lừ đến ngã 3 hồ Đền Lừ),xây
dựng nhiều bãi đỗ xe... nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân
Hay sự xuất hiện ngày càng nhiều các công trình công cộng như trường học,
bệnh viện, các công viên nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống của người dân. Những
điều đó đều dẫn đến sự gia tăng của các bề mặt không thấm nước. Phần lớn diện tích
bề mặt không thấm được chuyển từ diện tích lớp phủ thực vật do quyết định thu hồi
đất nông nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng các khu đô thị mới như:khu
đô thị mới Định Công,khu đô thị mới Thịnh Liệt,khu đô thị mới Đại Kim,…, giao
thông, các công trình công cộng.
Như vậy ta có thể khẳng định được việc gia tăng các bề mặt không thấm đồng
thời khẳng định được tốc độ đô thị hóa của khu vực quận Hoàng Mai giai đoạn từ năm
2003 đến năm 2009. Tốc độ đô thị hóa diễn ra chủ yếu ở khu vực phía Tây của quận
Hoàng Mai. Tuy nhiên ở đây ta mới chỉ thấy được sự thay đổi về mặt diện tích của các
bề mặt không thấm, để có thể có những nhận định chính xác hơn về sự biến động các
bề mặt này cũng như quá trình đô thị hóa ta đi phân tích sâu hơn về sự thay đổi hình
thái, cấu trúc cảnh quan của các bề mặt không thấm thông qua việc phân tích trắc
lượng hình thái các đối tượng bề mặt không thấm khu vực quận Hoàng Mai.

SV: Lê Thanh Huỳnh

Trắc Địa Mỏ - CT K56

Trường Đại học Mỏ - Địa chất

nghiệp

Đ ồ án t ốt

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong đề tài này cho ta thấy việc lựa chọn các dữ liệu ảnh vệ tinh đa phổ đa thời
gian đã giúp cho việc phân loại các đối tượng một cách dễ dàng hơn cũng như xác
định được xu hướng biến đổi lớp phủ bề mặt không thấm qua các năm. Kết quả phân
loại đã chứng tỏ khả năng ưu việt của phương pháp phân loại định hướng đối tượng
bằng phần mềm eCognition trong nghiên cứu các đối tượng bề mặt không thấm trong
không gian đô thị.
Thêm vào đó, việc lựa chọn ngưỡng cho các chỉ số Brightness, Maxdiff,
NDVI trong quá trình chiết tách các đối tượng từ ảnh viễn thám là rất cần thiết,
nhằm nâng cao độ chính xác kết quả phân loại. Với sự trợ giúp của Patch analyst
5 trong phần mềm ArcGIS ta có thể xác định được sự thay đổi của các chỉ số
hình thái của lớp phủ từ đó có thể phân tích sự thay đổi của các bề mặt không
thấm về diện tích, hình dạng, kích thước, độ phân mảnh…trên địa phận quận
Hoàng Mai.
Từ kết quả trên ta thấy việc theo dõi các yếu tố biến động theo thời gian và
không gian, cấu trúc hình thái bề mặt không thấm rất hữu ích giúp các nhà quản lý và
quy hoạch có biện pháp phù hợp cho phát triển đô thị bền vững và quy hoạch nguồn
tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý.
Như vậy ta có thể khẳng định được việc gia tăng các bề mặt không thấm đồng
thời khẳng định được tốc độ đô thị hóa của khu vực quận Hoàng Mai giai đoạn từ năm
2003 đến năm 2009. Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh trong giai đoạn từ năm 20032009. Diễn ra chủ yếu ở khu vực phía Tây của Quận Hoàng Mai. Tuy nhiên ở đây ta
mới chỉ thấy được sự thay đổi về mặt diện tích của các bề mặt không thấm, để có thể
có những nhận định chính xác hơn về sự biến động các bề mặt này cũng như quá trình
đô thị hóa ta đi phân tích sâu hơn về sự thay đổi hình thái, cấu trúc cảnh quan của các
bề mặt không thấm thông qua việc phân tích trắc lượng hình thái các đối tượng bề mặt
không thấm khu vực quận Hoàng Mai.
2. Kiến nghị
Việc nghiên cứu bề mặt không thấm cần kết hợp với nghiên cứu sự thay đổi về
dân số cũng như quá trình phát triển kinh tế để các thể đánh phân tích quá trình đô thị
hóa một cách chính xác nhất.
SV: Lê Thanh Huỳnh

Trắc Địa Mỏ - CT K56

Trường Đại học Mỏ - Địa chất

nghiệp

Đ ồ án t ốt

Với tốc độ phát triển kinh tế thị trường, tốc độ đô thị hóa như hiện nay thì xu
thế gia tăng bề mặt không thấm càng ngày càng thay thế dần cho các loại lớp phủ
khác không chỉ ở khu vực quận Hoàng Mai mà còn ở tất cả các khu vực khác trên
địa bàn Hà Nội cũng như tại các khu đô thị ở Việt Nam. Vì vậy nhà nước ta cần có
những biện pháp quản lý chặt chẽ, theo dõi liên lục để có thể quản lý một cách có
hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai. Góp phần thúc đẩy nền kinh tế văn hóa xã hội
của đất nước.

SV: Lê Thanh Huỳnh

Trắc Địa Mỏ - CT K56

Trường Đại học Mỏ - Địa chất

nghiệp

Đ ồ án t ốt

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Trần Vân Anh, bài giảng cơ sở viễn thám, Trường Đại học Mỏ địa chất Hà Nội.
[2]. Hai Pham Minh and Yasushi Yamaguchi , A case study on the relation between
urban growth and city planning using remote sensing and spatial metrics, Nagoya
university, Japan.
[3]. Nguyễn Ngọc Thạch (chủ biên), (1997), Viễn thám và GIS trong nghiên cứu tài
nguyên và môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia,
Hà Nội.
[4]. Nguyễn Trường Xuân, Giáo trình Hệ thông tin địa lý, Trường Đại học Mỏ địa chất
Hà Nội.
[5]. Impervious surfaces and the quality of natural and built environonments by Kent
B. Barnes, John M. Morgan III, and Martin C. Roberge Department of Geography
and Environmental Planning Towson University 8000 York Road Baltimore,
Maryland 21252-0001.
[6]. Quy phạm thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, (2007), NXB Bản đồ.
Một số trang wed:
[7].

http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn

[8].

http://ashui.com/mag/tuongtac/phanbien/6483-vai-tro-cua-quy-hoach-do-thi-

trong-viec-giai-quyet-ngap-lut-tai- tphcm.html?tmpl=component&print=1&page
[9].

http://123doc.org/document/2604537-nghien-cuu-qua-trinh-do-thi-hoa-phuc-vu-

cho-quan-ly-dat-do-thi-o-quan-hoang-mai-ha-noi.htm
[10]. http://luanan.nlv.gov.vn/luanan.

SV: Lê Thanh Huỳnh

Trắc Địa Mỏ - CT K56