Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

23

• Biến độc lập
- MTB: Chỉ số giá thị trường tài sản trên giá sổ sách tài sản của doanh nghiệp
Giá ghi sổ xét về mặt kế toán là giá trị tài sản hay vốn cổ đông được phản ánh trong
bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Giá ghi sổ của toàn bộ cổ phiếu được tính
bằng tổng giá trị tài sản của công ty trừ đi giá trị tài sản vô hình như các phát minh,
sáng chế, giấy phép khai thác, nhãn hiệu, bí quyết, v.v… và các khoản nợ phải trả
bao gồm cả cổ phiếu ưu đãi, cho biết giá trị tài sản công ty còn lại thực sự là bao
nhiêu nếu ngay lập tức công ty rút lui khỏi kinh doanh. Giá ghi sổ là yếu tố tương
đối ổn định, không biến đổi quá nhanh và là một thước đo chính xác giá trị của công
ty nên là chỉ tiêu phân tích thích hợp cho các nhà đầu tư mua cổ phiếu đúng giá trị
để hưởng cổ tức hàng năm hơn là cho các nhà đầu cơ mua đi bán lại để hưởng
chênh lệch. Giá ghi sổ của một cổ phiếu được tính bằng giá ghi sổ của công ty chia
cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành.
Tuy nhiên, giá trị cổ phiếu được giao dịch mua bán trên thị trường không phải là giá
được ghi nhận trên sổ sách mà là giá được người mua và người bán xác lập trên thị
trường. Mức giá này được gọi là giá thị trường hay thị giá của cổ phiếu và được xác
lập tại một thời điểm nhất định bởi quan hệ giữa cung và cầu, do vậy có thể thay đổi
thường xuyên.
Nếu cổ phiếu của một công ty đang được mua bán với giá thấp hơn giá trị ghi sổ,
tức là có tỷ lệ MTB nhỏ hơn 1, khi đó có hai trường hợp có thể xảy ra: một là thị
trường đang cho rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức, hai là thu
nhập trên tài sản của công ty là quá thấp. Ngược lại, nếu một công ty có giá thị
trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây thường là dấu hiệu cho thấy công
ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao. Theo một cách tiếp cận khác, Marakon
Associates1 trong các nghiên cứu của mình đã cho rằng, giá trị cho cổ đông được đo
bởi chênh lệch giữa giá thị trường và giá ghi sổ của vốn chủ sở hữu công ty. Giá ghi

1

Marakon Assosiates là một công ty tư vấn quản trị quốc tế được thành lập năm 1978, đi đầu trong nghiên
cứu lĩnh vực quản lý dựa trên giá trị (value based management)

24

sổ của vốn chủ sở hữu (B) phản ánh tương đối phần vốn góp của cổ đông, trong khi
giá thị trường của vốn chủ sở hữu (M) phản ánh mức độ hiệu quả trong việc sử
dụng phần vốn góp của cổ đông được đánh giá bởi thị trường chứng khoán2. Vì vậy,
giá trị cho cổ đông được tạo ra nếu M > B, mất đi nếu M < B và giữ nguyên nếu M
= B.
Vì những lý do trên, MTB được xem là đại diện cho cơ hội đầu tư của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp có chỉ số MTB lớn hơn 1 hấp dẫn nhà đầu tư và có năng lực
cạnh tranh tốt hơn vì vậy có cơ hội đầu tư và phát triển cao hơn. MTB được xác
định như sau:
Giá sổ sách của tài sản – Giá sổ sách vốn cổ phần
+ giá thị trường vốn cổ phần
MTB

=

(3.3)

Giá sổ sách của tài sản

Những nghiên cứu trên thế giới về nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp cho ra kết
quả khác nhau về mối liên hệ giữa MTB và CASH. Afza và Adnan (2007), Gill và
Shah (2011) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng những doanh nghiệp có cơ
hội đầu tư càng cao, nghĩa là có chỉ số MTB càng lớn sẽ càng giảm lượng tiền mặt
nắm giữ, trong khi Alam và cộng sự (2011) tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa
MTB và lượng tiền mặt nắm giữ ở các công ty Pakistan. Trong đề tài này, tác giả
cho rằng những công ty có nhiều cơ hội đầu tư và thu nhập trên tài sản cao sẽ tận
dụng những cơ hội đầu tư của mình và giảm thiểu lượng tiền mặt do việc nắm giữ
tiền hầu như không tạo ra thu nhập tăng thêm cho doanh nghiệp. Vì vậy, giả thuyết
thứ nhất (H1) được xây dựng như sau: Chỉ số giá thị trường trên giá ghi sổ có mối
quan hệ ngược chiều (-) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

2

Rajnisofat and Preeti Hiro (2011), “Strategic Financial Management”, PHI Learning Private Limited, New
Dehli puslishing

25

- CF: dòng tiền của doanh nghiệp trên tài sản
Dòng tiền thể hiện sự luân chuyển tiền trong một thời kỳ của doanh nghiệp, cho
thấy tiền doanh nghiệp thu vào và chi ra trong một khoảng thời gian xác định. Dòng
tiền thuần của một công ty được xác định bằng sự thay đổi số dư tiền mặt, dòng tiền
thuần tăng lên nếu công ty gia tăng số dư tiền mặt và giảm nếu số dư tiền mặt giảm
đi. Khi lượng tiền mặt tăng hay dòng tiền hoạt động dương sẽ làm tăng tính thanh
khoản cho công ty, và giúp công ty sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu về tiền mặt.
Dòng tiền của doanh nghiệp có thể được chia làm 3 loại chính:
- Dòng tiền hoạt động: là dòng tiền được hình thành từ hoạt động kinh doanh, có
liên quan trực tiếp đến việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa dịch vụ. tính toán trên kết
quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của một doanh nghiệp.
- Dòng tiền đầu tư: là dòng tiền hình thành từ hoạt động đầu tư, gắn liền với việc
mua bán tài sản cố định và các khoản tham gia đầu tư của doanh nghiệp như góp
vốn và thu hồi vốn góp, tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận nhận được.
- Dòng tiền tài trợ: được hình thành từ hoạt động tài trợ của doanh nghiệp, liên quan
đến việc vay nợ và hoàn trả khoản vay, tiền chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu, tiền
chi cổ tức, lợi nhuận, tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp chủ sở hữu.
Dòng tiền thuần là chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, thêm vào
đó dòng tiền thuần được xem là một chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của một
công ty tốt hơn thu nhập, vì một công ty có thể cung cấp số liệu dương về thu nhập
trên các báo cáo tài chính nhưng có thể vẫn không có khả năng trả nợ. Dòng tiền là
yếu tố giúp công ty thanh toán các hóa đơn và các khoản nợ đến hạn của mình.
Dòng tiền hoạt động sẽ tác động đến số dư tiền mặt của doanh nghiệp. Trong đề tài
này, để tính toán mức độ ảnh hưởng của dòng tiền doanh nghiệp lên việc nắm giữ
tiền mặt, tỷ số giữa dòng tiền và tài sản không kể các khoản tiền và tương đương
tiền được sử dụng. Công thức tính CF được viết như sau:

26

Lãi sau thuế + khấu hao
CF

=

(3.4)
Tổng tài sản – tiền và các khoản tương đương tiền

Với những phân tích như trên, các doanh nghiệp sẽ nắm giữ lượng lớn tiền mặt khi
dòng tiền vào của doanh nghiệp tăng. Vì vậy, giả thuyết thứ hai (H2) được xây
dựng như sau: CF có mối quan hệ cùng chiều (+) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của
doanh nghiệp.

- NWC: vốn luân chuyển ròng trên tài sản của doanh nghiệp
Vốn luân chuyển ròng là phần chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và tổng các khoản
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Nói cách khác, vốn luân chuyển ròng biểu thị số dư
tiền còn lại sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ vay ngắn hạn hay khả năng đáp
ứng nhu cầu bằng tiền mặt của một công ty.
Một công ty có thể có tài sản và khả năng sinh lợi cao nhưng có khả năng thanh
khoản thấp nếu tài sản của công ty không thể dễ dàng được chuyển đổi thành tiền
mặt. Vốn luân chuyển lớn hơn 0 là cần thiết để đảm bảo một công ty có thể tiếp tục
các hoạt động của mình và có đủ khả năng để đáp ứng nợ các khoản nợ ngắn hạn
đến hạn cũng như các chi phí vận hành sắp tới. Chính vì vậy, vốn luân chuyển ròng
đại diện cho các tài sản có thể thay thế cho tài sản có tính thanh khoản cao của
doanh nghiệp. Với mục tiêu xác định mức độ tác động của vốn luân chuyển ròng
lên lượng tiền mặt nắm giữ ở các doanh nghiệp, tác giả kế thừa phương pháp tính
NWC đã được đề cập trong nghiên cứu của Afza và Adnan (2007), Gill và Shah
(2011) theo công thức:
NWC

=

Vốn luân chuyển ròng – tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng tài sản – tiền và các khoản tương đương tiền

Trong đó:
Vốn luân chuyển ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

(3.6)

(3.5)

27

Như đã phân tích ở trên, một doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt và có thể
trang trải được các khoản nợ ngắn hạn khi có vốn luân chuyển ròng lớn hơn 0. Vốn
luân chuyển ròng của doanh nghiệp càng lớn chứng tỏ giá trị những tài sản có thể
thay thế cho tài sản có tính thanh khoản của công ty càng lớn, doanh nghiệp có thể
giảm thiểu tích trữ tiền mặt cho các mục tiêu thanh toán và dự phòng. Chính vì vậy,
giả thuyết thứ ba (H3) được xây dựng như sau: Vốn luân chuyển ròng có mối quan
hệ ngược chiều (-) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

- LVRG: đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
Đòn bẩy tài chính là một trong những phương cách giúp công ty nắm giữ tiền mặt
ở một tỷ lệ cao bằng cách vay vốn khi thâm hụt tiền mặt xảy ra nếu công ty có khả
năng phát hành nợ. Baskin (1987) cho rằng chi phí của nguồn vốn đầu tư vào tài
sản có tính thanh khoản gia tăng với mức độ sử dụng đòn bẩy. Tuy nhiên, mối
tương quan này phi tuyến, vay nợ có thể làm tăng khả năng xảy ra kiệt quệ tài
chính. Trong trường hợp đó, công ty có mức độ sử dụng nợ cao nên nắm giữ mức
độ cao hơn những tài sản có tính thanh khoản.
Tuy nhiên, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và tỷ lệ nắm giữ
tiền mặt tại doanh nghiệp đi đến những kết luận khác nhau. Ferreira và Vilela
(2004) tìm thấy bằng chứng cho thấy đòn bẩy tài chính có mối quan hệ ngược chiều
trong khi Gill và Shah (2011) cho rằng đòn bẩy tài chính có mối quan hệ thuận
chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Mặc dù vậy, trong các nghiên cứu về quản trị tiền
mặt, hầu hết các tác giả đều sử dụng cách tính đòn bẩy tài chính bằng tỷ lệ nợ trên
tài sản. Tác giả đề tài này cũng áp dụng công thức tính biến độc lập LVRG như
sau:
Tổng nợ
LVRG

=

(3.7)
Tổng tài sản – tiền và các khoản tương đương tiền

28

Mặc dù các nghiên cứu cho ra kết quả trái ngược nhau về mối liên hệ giữa đòn bẩy
tài chính và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, trong đề tài này tác giả cho rằng nếu các doanh
nghiệp có tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn ở mức cao, họ sẽ gia tăng tiền mặt dự trữ để
đề phòng phá sản hoặc chuẩn bị cho các chi tiêu trong tương lai thay vì đi vay nợ
bên ngoài. Nói cách khác, các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy cao sẽ nắm giữ nhiều
tiền mặt. Vì vậy, giả thuyết thứ tư (H4) được xây dựng như sau: Đòn bẩy tài chính
có mối quan hệ cùng chiều (+) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

- SIZE: quy mô của doanh nghiệp
Quy mô của một doanh nghiệp được xác định dựa trên quy mô tài sản của doanh
nghiệp. Trong đề tài này, ký hiệu quy mô công ty là SIZE, là logarit tự nhiên của
tổng tài sản doanh nghiệp.
SIZE = LN (TỔNG TÀI SẢN) (3.8)
Đã có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa quy mô của doanh
nghiệp và việc quản trị tiền mặt. Một số nghiên cứu đặt giả thuyết về mối tương
quan âm giữa quản trị tiền mặt và quy mô công ty. Miller và Orr (1966) nói rằng
công ty lớn có lợi thế kinh tế về quy mô để quản trị tiền mặt. Do đó, những công
ty lớn sẽ nắm giữ ít tiền mặt. Peterson và Rajan (2003) cũng cho rằng vay mượn
bên ngoài ít tốn chi phí hơn với những công ty lớn vì chi phí tài chính cố định mà
họ trả cho việc huy động vốn chỉ chiếm phần trăm nhỏ trong tổng khoản huy động
vốn. Những công ty nhỏ hơn sẽ nắm giữ tiền mặt lớn hơn vì họ đối mặt với chi
phí cao hơn khi huy động vốn bên ngoài. Trái với những tranh luận này, Opler và
cộng sự (1999) lại cho rằng những công ty lớn thì có vị thế tốt hơn để tích trữ tiền
mặt vì họ có khả năng đạt được lợi nhuận cao hơn.
Tác giả cho rằng tại thị trường Việt Nam, các công ty quy mô lớn có lợi thế kinh tế
về quy mô trong quản trị tiền mặt. Các công ty quy mô lớn dễ dàng tiếp cận các
cách thức khác nhau để quản trị lượng tiền mặt của mình như phát hành nợ vay, huy
động vốn, v.v… vì vậy, nhu cầu nắm giữ tiền mặt ở những công ty này sẽ thấp hơn.

29

Giả thuyết thứ năm (H5) của đề tài được xây dựng như sau: Quy mô công ty có mối
quan hệ ngược chiều (-) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

- DIV: việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp,
Những công ty chi trả cổ tức có thể có thêm một phương pháp quản trị tiền mặt
bằng cách hoãn chi trả cổ tức khi thâm hụt tiền mặt xảy ra. Các nghiên cứu trước
đây về mối liên hệ giữa việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp và tỷ lệ nắm giữ
tiền xác định biến chi trả cổ tức theo hai hướng: Afza và Adnan (2007) tính tỷ
lệ cổ tức được chi trả trên tổng tài sản trong khi Gill và Shah (2011) chỉ xác
định công ty có chi trả cổ tức hay không. Trong đề tài này, tác giả áp dụng
cách xác định biến DIV theo nghiên cứu của Gill và Shah (2011), DIV là biến giả,
có giá trị bằng 1 nếu doanh nghiệp trả cổ tức bằng tiền mặt, bằng 0 nếu không trả
cổ tức bằng tiền mặt.
Giả thuyết đề ra là những công ty không chi trả cổ tức sẽ nắm giữ tiền mặt lớn hơn
Giả thuyết thứ sáu (H6) được xây dựng như sau: Việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt
có mối quan hệ ngược chiều (-) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

- BS: quy mô hội đồng quản trị của doanh nghiệp
Biến quy mô hội đồng quản trị được xác định là số lượng thành viên trong hội đồng
quản trị đó.
BS = SỐ LƯỢNG THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

(3.9)

Việc giới hạn quy mô của một hội đồng quản trị ở một mức nhất định nào đó được
cho là sẽ cải thiện tình hình hình hoạt động của một doanh nghiệp bởi vì những lợi
ích được tạo ra từ việc tăng tính giám sát không bù lại được việc đối thoại và ra
quyết định kém hơn của một hội đồng quản trị lớn. Những nghiên cứu thực nghiệm
về quy mô hội đồng quản trị cho kết quả tương tự nhau – có mối quan hệ ngược
chiều đáng kể giữa quy mô hội đồng quản trị và giá trị doanh nghiệp. Một hội đồng

30

quản trị quá lớn dường như kém hiệu quả trong việc đưa ra quyết định về các vấn đề
quan trọng giữa các thành viên hội đồng với vai trò giám sát quản trị, hoạt động
kém hiệu quả hơn và CEO sẽ dễ dàng điều khiển hơn.
Yermark (1996) ở Phần Lan và Liang và Li (1999) ở Trung Quốc tìm thấy mối quan
hệ ngược chiều giữa quy mô hội đồng quản trị và khả năng sinh lợi. Nghiên cứu của
Eisenberg, Sundgren và Wells (1998), Mak & Kusnadi (2005), Sanda và cộng sự
(2003) cũng cho rằng hội đồng quản trị nhỏ có mối quan hệ tích cực với hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp. Một kết quả nghiên cứu ở Malaysia và Singapore cũng
cho thấy doanh nghiệp được định giá cao nhất khi hội đồng quản trị có 5 thành viên,
một số lượng được xem là khá nhỏ trên thị trường những nước này.
Có thể nhận thấy trên thực tế, hội đồng quản trị của các công ty ở Việt Nam cũng
không nằm ngoài những quy luật trên. Tác giả cho rằng một hội đồng quản trị nhỏ
hiệu quả hơn trong việc đưa ra các quyết định hơn là một hội đồng quản trị lớn. Khi
một hội đồng quản trị lớn, những thành viên trong hội đồng quản trị sẽ trở nên khó
khăn hơn trong việc phối hợp để hoạt động và giải quyết các vấn đề mang tính chiến
lược của công ty và có thể dẫn đến việc nắm giữ tiền quá mức trong doanh nghiệp.
Vì vậy, giả thuyết thứ bảy (H7) được xây dựng như sau: Quy mô hội đồng quản trị
có mối quan hệ cùng chiều (+) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

- CD: vai trò kép của CEO của doanh nghiệp
Trong các công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa một bên là
cổ đông với tư cách người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều
hành công ty với tư cách người trực tiếp quản lý sử dụng vốn. Những người quản lý
là người điều hành mọi hoạt động của công ty và vì vậy có thể họ sẽ ưu tiên các
quyền lợi cá nhân, quyền lợi nhóm hơn là quyền lợi của các cổ đông. Do đó, luật về
quản trị công ty của các quốc gia cũng như những quy định của các thị trường
chứng khoán niêm yết thường yêu cầu trong cơ cấu hội đồng quản trị công ty phải
có sự tham gia của các thành viên hội đồng quản trị độc lập. Tính độc lập của thành

31

viên hội đồng quản trị rất quan trọng trong việc giám sát, làm giảm nguy cơ lạm
dụng quyền hạn của những người quản lý công ty, góp phần bảo vệ lợi ích chính
đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ.
Một số nghiên cứu đã kiểm tra vai trò độc lập của CEO và chủ tịch hội đồng quản
trị và cho rằng những vấn đề đại diện sẽ xảy ra nhiều hơn khi một người nắm giữ cả
hai vị trí. Yermack (1996) đã sử dụng mẫu gồm 452 công ty lớn nhất ở Mỹ từ năm
1984 đến 1991, kết quả cho thấy những công ty có CEO và chủ tịch hội đồng quản
trị là những người khác nhau hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, Liang và Li
(1999) ở Trung Quốc không tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa vai trò độc lập
của CEO và chủ tịch hội đồng quản trị với kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Vai trò kép của CEO và quy mô hội đồng quản trị đóng vai trò quan trọng trong
việc duy trì mức độ nắm giữ tiền mặt của một doanh nghiệp. CEO cùng với hội
đồng quản trị thiết lập các chính sách bao gồm chính sách liên quan đến nắm giữ
tiền. Với vai trò kép của mình các CEO có thể phục vụ lợi ích của ban lãnh đạo và
một cách để bảo vệ vị thế của ban lãnh đạo là nắm giữ tiền mặt quá mức. Thêm vào
đó, khi việc bảo vệ quyền cổ đông không tốt, những nguyên nhân dẫn đến nhu cầu
nắm giữ tiền mặt như cơ hội đầu tư và thông tin bất cân xứng trở nên không còn
quan trọng. Nói tóm lại, các vấn đề đại diện là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến việc nắm giữ tiền mặt.
Trong nghiên cứu này, CDi,t là biến giả, có giá trị bằng 1 nếu CEO cũng là chủ
tịch Hội đồng quản trị, nếu không bằng 0.
Với những lập luận như trên, giả thuyết thứ tám (H8) được xây dựng như sau: Vai
trò kép của CEO có mối quan hệ cùng chiều (+) với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của
doanh nghiệp.

32

- Ngành: biến ngành của doanh nghiệp
Ngành có giá trị là MAN nếu là ngành sản suất, SER nếu là ngành thương mại dịch
vụ. Việc thêm biến ngành vào mô hình nhằm mục đích xác định và so sánh sự khác
nhau của những nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp ở
các ngành khác nhau.

Bảng 3.1 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Tên biến

Kí hiệu

Mô tả biến

Kỳ vọng về dấu

Biến phụ thuộc:
Là tỷ số của các khoản tiền
mặt và tương đương tiền

Tỷ lệ nắm giữ tiền
mặt

của

doanh CASH

nghiệp

trên tài sản doanh nghiệp
không bao gồm các khoản
tiền mặt và tương đương
tiền.

Biến độc lập:
Là tỷ số giữa giá thị trường

Chỉ số giá thị trường
trên giá ghi sổ tài

MTB

sản

của tài sản (M) và giá ghi sổ
của tài sản (B) của doanh

(-)

nghiệp.
Là tỷ số giữa dòng tiền và

Tỷ lệ dòng tiền trên
tài sản

CF

tài sản không kể các khoản
tiền và tương đương tiền
của doanh nghiệp.

(+)

33

Là tỷ số giữa tài sản ngắn
hạn ròng không bao gồm
Tỷ

lệ

vốn

luân

chuyển ròng trên tài

tiền và các khoản tương
NWC

đương tiền trên và tổng tài

(-)

sản không kể các khoản tiền

sản

và tương đương tiền của
doanh nghiệp.
Là tỷ số giữa tổng nợ và tài
Đòn bẩy tài chính

LVRG

sản không kể các khoản tiền
và tương đương tiền của

(+)

doanh nghiệp.
Quy mô của doanh
nghiệp

SIZE

Là Logarite tự nhiên của
tổng tài sản doanh nghiệp.

(-)

Có giá trị bằng 1 nếu doanh
Việc chi trả cổ tức

DIV

nghiệp trả cổ tức bằng tiền

(-)

mặt, nếu không bằng 0.
Quy mô hội đồng
quản trị

Vai trò kép của
CEO

Số lượng thành viên hội
BS

đồng quản trị của doanh
nghiệp.
Có giá trị bằng 1 nếu CEO

CD

cũng là chủ tịch Hội đồng
quản trị, nếu không bằng 0.
Có giá trị là MAN nếu là

Biến ngành

(+)

Ngành

ngành sản suất, SER nếu là
ngành thương mại dịch vụ.

(+)