Tải bản đầy đủ
1 Phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế.

1 Phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế.

Tải bản đầy đủ

mún với sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, mở
cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Kinh tế tập thể là hình thức kinh tế mang tính hợp tác, xã hội hóa, là nhân tố
quan trọng để xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh. Nó giáo dục ý thức cộng đồng, tinh thần hợp tác hỗ
trợ lẫn nhau giữa các thành viên xã hội, giữa các thành phần kinh tế để sản xuất,
kinh doanh đúng pháp luật.
Hợp tác xã kiểu mới đã khắc phục những hạn chế của hợp tác xã kiểu cũ.
Nó do các thành viên bao gồm cả thể nhân và pháp nhân (người lao động, hộ gia
đình, trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ…), cả người ít vốn và người nhiều
vốn, người góp sức hoặc góp vốn xây dựng nên, trên cơ sở tự nguyện, tôn trọng
các nguyên tắc, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Hợp tác xã không
tập thể hóa mọi tư liệu sản xuất của các thành viên mà dựa trên sở hữu của các
thành viên và sở hữu tập thể. Tổ chức và hoạt động của hợp tác xã không bị giới
hạn bởi quy mô, lĩnh vực và địa bàn, hoàn toàn tự chủ trong sản xuất, kinh
doanh và tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường. Hình thức phân phối vừa
theo lao động, vừa theo cổ phần và mức độ tham gia, dịch vụ…
Với những ưu việt như vậy, Đại hội IX của Đảng xác định: Kinh tế tập thể
phát triển với nhiều hình thức hợp tác xã đa dạng. Nhà nước phải giúp đỡ hợp
tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học – công nghệ, nắm bắt thông tin, mở
rộng thị trường… để cùng với kinh tế nhà nước ngày càng giữ vai trò nền tảng
vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
* Kinh tế cá thể , tiểu chủ
Trong chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, Đại hội IX của Đảng coi kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu
dài. Loại hình kinh tế này xuất hiện và phát huy tác dụng ở cả thành thị và nông
thôn, cả trong nông nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Sự
38

phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa gắn với
thị trường có vai trò quan trọng trước mắt cũng như lâu dài trong việc thúc đẩy
sản xuất, kinh doanh phát triển.
Qua thực tế hơn 20 năm đổi mới cho thấy, kinh tế hộ cá thể, tiểu chủ là loại
hình tổ chức sản xuất, kinh doanh mang tính chất của một xí nghiệp gia đình
chứa đựng những khả năng lớn của sáng kiến cá nhân. ở đây, nguyên tắc kinh
doanh, theo đuổi mục tiêu doanh lợi kết hợp hài hòa với các giá trị gia đình.
Những thành viên trong hộ gắn bó với nhau bằng quan hệ ruột thịt, nên có tính
cộng đồng, trách nhiệm cao dễ thống nhất. Ngoài các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, chủ hộ còn quan tâm đến việc học hành, giáo dục truyền thống, đạo đức,
pháp luật cho các thành viên để hướng tới sự thành đạt. Quan hệ sản xuất ở đây
là trực tuyến, bỏ qua các khâu trung gian, nên việc quản lý rất chặt chẽ, hiệu
quả. Chất lượng sản phẩm, thương hiệu hàng hóa được quan tâm đầu tiên, bởi
nó tạo nên chữ tín của gia đình. Mọi tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay
nghề, bí quyết, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh… được tích lũy qua nhiều đời
là tiềm năng" chất xám" quan trọng của kinh tế cá thể, tiểu chủ được phát huy.
Quy mô của kinh tế cá thể, tiểu chủ vừa và nhỏ nên dễ tổ chức sản xuất, kinh
doanh, ít tốn kém, dễ thích nghi. Nó có khả năng huy động mọi nguồn lực phân
tán như vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị kỹ thuật… kết
hợp lại với nhau, qua đó giải quyết việc làm cho đông đảo người lao động, tăng
thu nhập, tăng tích lũy, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo cơ hội cho người lao
động tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất và hưởng thụ các thành quả
tăng trưởng nền kinh tế. Kinh tế cá thể, tiểu chủ góp phần tích cực xóa đói giảm
nghèo, nâng cao mặt bằng kinh tế – xã hội, cải thiện đáng kể bộ phận đông đảo
dân cư ở thành thị và nông thôn.
* Kinh tế tư bản tư nhân

39

Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất, kinh doanh dựa
trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao
động làm thuê.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta, thành phần kinh tế này
có vai trò quan trọng xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, về phát
triển nền sản xuất hàng hóa, về giải quyết các vấn đề xã hội. Đại hội VIII của
Đảng khẳng định: "Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất
nước. Khuyến khích kinh tế tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu
dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với
tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân
sinh". Văn kiện Đại hội IX của Đảng cũng khẳng định rõ hơn vai trò vị trí của
kinh tế tư bản tư nhân và Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX, xác định: "Kinh tế
tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển
kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng
cao năng lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế".
* Kinh tế tư bản nhà nước
Theo V.I. Lê-nin, chủ nghĩa tư bản nhà nước là con đường hữu hiệu nhất để
cải tạo các quan hệ tiểu nông, để phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức hợp
tác, liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác
liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài. V.I. Lê-nin cũng nhấn
mạnh: Chủ nghĩa tư bản nhà nước là chủ nghĩa phục tùng sự điều tiết của nhà
nước (giám sát, kiểm tra, quy định các hình thức trật tự, v.v)

(1)

. Chủ nghĩa tư

bản nhà nước gắn liền với nhà nước, phụ thuộc vào bản chất của nhà nước, khả
năng điều tiết của nhà nước và phụ thuộc vào sự vững mạnh của nhà nước.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chúng ta hoàn toàn có khả
40

năng làm được những điều nêu trên. Vì vậy, Đảng ta chủ trương phát triển đa
dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh
tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước trong việc khai thác
các nguồn vốn, máy móc, thiết bị, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tổ chức sản
xuất kinh doanh, mở rộng thị trường v.v.., để mang lại lợi ích thiết thực cho đất
nước.
* Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Từ Đại hội IX Đảng ta khẳng định thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài, phản ánh đúng thực tế đang diễn ra trong nền kinh tế nước ta hiện
nay.
Việc triển khai thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra một
khối lượng đáng kể năng lực sản xuất, đã tiếp nhận được một số kỹ thuật, công
nghệ tiên tiến trong một số ngành kinh tế như thông tin viễn thông, thăm dò dầu
khí, sản xuất phụ tùng, lắp ráp xe máy, hóa chất, trồng trọt theo công nghệ tiên
tiến, nuôi tôm nước lợ theo công nghệ mới, xây dựng khách sạn cao cấp, sản
xuất một số mặt hàng tiêu dùng, thực phẩm có chất lượng cao… Đồng thời đã
tiếp thu được một số phương pháp quản lý tiến bộ, một số kinh nghiệm về tổ
chức sản xuất, kinh doanh.
Đảng, Nhà nước ta đã tạo điều kiện thông thoáng nhằm khuyến khích đầu tư
nước ngoài vào những mục tiêu trọng điểm và lĩnh vực ưu tiên phục vụ công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, như sản xuất hàng xuất khẩu; nuôi
trồng, chế biến nông – lâm – thủy sản; sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện
đại, bảo vệ môi trường sinh thái, đầu tư, chế biến nguyên liệu và sử dụng có
hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; tập trung ở các địa bàn miền núi, vùng sâu,
vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
Trong xu thế toàn cầu hóa, để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, với chính
sách kinh tế mở, chúng ta đang tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư
41

nước ngoài. Dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam ngày một tăng, chiếm tỷ trọng
ngày càng lớn trong cơ cấu GDP. Cho nên việc tạo điều kiện để kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu
kinh tế – xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm là
chủ trương đúng của Đảng, phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình phát
triển nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
2.3 Những vấn đề cần tháo gỡ để phát triển các thành phần kinh tế.
Lý luận cũng như qua thực tiễn hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh sức
sống và vai trò to lớn của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. Các thành phần kinh tế ấy không tồn tại biệt lập với
nhau mà bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau, cạnh tranh với nhau, thúc đẩy nhau
cùng phát triển.
Song để khắc phục những khó khăn, phát huy những thuận lợi, tiếp tục thúc
đẩy phát triển các thành phần kinh tế, phát huy các nguồn lực xây dựng nền
kinh tế quốc dân vững mạnh trước hết cần tập trung tháo gỡ những vướng mắc
chính sau:
1. Nhận thức đúng về sự cần thiết tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Phải thực sự giải phóng tư tưởng cho
các chủ thể các thành phần kinh tế, tạo "sân chơi" bình đẳng, lành mạnh cho các
thành phần kinh tế. Khắc phục tâm lý mặc cảm, kỳ thị, sợ chệch hướng xã hội
chủ nghĩa, mất độc lập chủ quyền, đi theo hướng tư bản chủ nghĩa… Từ đó ngại
ngùng, không dám cho các thành phần kinh tế phát triển với mọi năng lực của
nó. Thực tế chúng ta có Đảng vững mạnh; có Nhà nước với hệ thống pháp luật
và các cấp quản lý chặt chẽ; ý thức độc lập tự chủ của nhân dân rất cao nên
không dễ gì chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội khiến ta phải băn
khoăn, lo ngại không dám chấp nhận nó. Phải coi đây là hình thức quá độ cần
thiết, tạo sức mạnh vật chất cho nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội.

42

2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật để định hướng, điều chỉnh, quản lý kinh tế
vĩ mô đối với các thành phần kinh tế bằng pháp luật; xây dựng hệ thống cơ chế,
chính sách, thích hợp, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế bình đẳng, tự
chủ, tự do phát triển lâu dài. Đổi mới nội dung, phương thức quản lý của Nhà
nước sao cho đúng, hiệu quả, thực sự "chặt" mà không gò ép, cứng nhắc;
"thoáng" mà không buông. Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, chúng ta có cơ chế
"thoáng" song vẫn giữ được độc lập tự chủ của đất nước để tăng tính hấp dẫn
đối với các nhà đầu tư nước ngoài giúp ta phát triển nhanh, mạnh, vững chắc ở
một số ngành, lĩnh vực, địa bàn trọng tâm trọng điểm như một số nước đã làm.
3. Thực hiện công khai, công bằng, dân chủ trong chính sách đầu tư, quản
lý, thuế, tài chính v.v.. đối với các thành phần kinh tế. Xóa cơ chế "xin – cho";
ngăn chặn hữu hiệu xu hướng quay lại bao cấp trong một số ngành, lĩnh vực,
thành phần kinh tế. Khắc phục mọi biểu hiện đặc quyền đặc lợi, ban phát, chạy
chọt, tham nhũng, hối lộ v.v.. trong các khâu của quá trình vận hành nền kinh tế
nhiều thành phần gắn với thị trường.
4. Chăm lo đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ các loại cho các thành phần
kinh tế. Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại vào quá
trình sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Mở rộng thông tin và tăng
khả năng lãnh đạo của Đảng và định hướng của Nhà nước đối với các thành
phần kinh tế để bảo đảm sản xuất, kinh doanh đúng hướng đáp ứng nhu cầu thị
trường trong nước và quốc tế. Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho các chủ thể
các thành phần kinh tế tiếp cận với thị trường khu vực và quốc tế, giúp cho việc
chủ động hội nhập với nền kinh tế thế giới, tăng sức cạnh tranh, tiếp thu được
những tiến bộ khoa học – công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiến bộ của thế
giới.
5. Coi trọng bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh của các thành
phần kinh tế nhằm bảo đảm phát triển ổn định, bền vững. Kiên quyết phát hiện,

43