Tải bản đầy đủ
2 Những tác dộng của quá trình đa dạng hoá các hình thức sở hữu vào sự phát triển kinh tế ở Việt Nam.

2 Những tác dộng của quá trình đa dạng hoá các hình thức sở hữu vào sự phát triển kinh tế ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ

Thứ hai, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Đa
dạng hoá các hình thức góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống vật
chất tinh thần cho nhân dân ta. Cụ thể là, góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo
(theo tiêu chuẩn nước ta) từ 30% xuống 10%, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng
thế giới (IMF) thu nhập dưới 2 đô la/người/ngày là nghèo, Việt Nam đã giảm
nhanh tỷ lệ người nghèo từ 90% năm 1990 xuống còn 60% năm 2002. Với nền
kinh tế nhiều thành phần hàng năm có thêm 1,2 triệu việc làm mới. Với phương
châm nhà nước và nhân dân cùng làm điện, đường, trường, trạm đã vươn tới
mọi miền Tổ quốc. Tốc độ đô thị hoá nông thôn diễn ra nhanh chóng, chất
lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng được nâng cao. Tuổi thọ bình quân
từ 65,2 tuổi tăng lên 68,3 tuổi. Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và
tính năng động xã hội được nâng lên đáng kể. Với hệ thống trường lớp đa thành
phần tham gia, nước ta đã hoàn thành mục tiêu xoá nù chữ và phổ cập giáo dục
tiểu học, phổ cập trung học cơ sở và bắt đầu phổ cập phổ thông trung học ở một
số thành phố, tỉnh đồng bằng. Số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 6 lần.
Đào tạo nghề được mở rộng. Các hoạt động thông tin văn hoá về tới mỗi bản
làng, thôn xóm, từ hải đảo xa xôi đến vùng sâu, vùng xa đều có sóng truyền
hình và đài phát thanh. Vì thế, lòng tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới
ngày càng tăng và sự nghiệp đổi mới của Đảng đang từng ngày, từng giờ đi vào
cuộc sống của người dân.
Thứ ba, góp phần ổn định chính trị, xã hội và nâng cao vị thế của nước ta
trên trường quốc tế. Vào cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nền
kinh tế xã hội nước ta đang trong tình trạng khủng hoảng. Đó cũng là thời điểm
chúng ta bắt đầu tiến hành đổi mới, bạn bè quốc tế không ít người lo ngại cho
tình hình kinh tế xã hội của nước ta. Còn kẻ thù của chủ nghĩa xã hội coi đây là
cơ hội để thực hiện “diễn biến hoà bình”, gây mất ổn định chính trị xã hội nhằm
thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhưng điều đó đã không xảy, vì
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước xã hội chủ
32

nghĩa, nền kinh tế nước ta chỉ sau một thời gian ngắn đã thoát khỏi khủng
hoảng, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế phát triển là nhân tố quyết
định sự ổn định chính trị xã hội, còn ổn định chính trị xã hội lại tạo tiền đề
thuận lợi cho kinh tế phát triển. Vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta từ năm 1998
đến năm 2002 đạt 42 tỉ USD, vốn thực hiện đạt 21 tỉ USD, chúng ta đã có trên
40 dự án đầu tư vào 12 nước và vùng lãnh thổ v.v. Kim nghạch xuất khẩu tăng
từ khoảng 1 USD những năm cuối thập kỷ 80 lên 16 tỉ 530 triệu USD năm 2000
và dự kiến đạt 19 tỉ USD năm 2003.
Sự phát triển về kinh tế, ổn định về chính trị xã hội đã nâng cao uy tín của
Việt Nam trên trường quốc tế. Đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 166
nước và vùng lãnh thổ, là thành viên của ASEAN, thành viên của Liên hợp
quốc, thành viên chính thức của AFEC. Quan hệ của nước ta với các nước trên
thế giới không ngừng được cải thiện về mọi mặt.
1.2.2 Những thách thức đối với Việt Nam do đa dạng hoá các hình thức sở
hữu cho sự phát triển kinh tế.
Thứ nhất, giảm tỷ trọng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trong cơ cấu
GDP của nước ta dễ gây chệch hướng xã hội chủ nghĩa về kinh tế. Trước đổi
mới, tuyệt đại bộ phận GDP (trên 90%), do kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể
tạo ra. Sau gần 20 năm đổi mới tỷ trọng đó đã có sự thay đổi: “Đến năm 2000,
tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước trong GDP vào khoảng 39%; khu vực kinh tế
tập thể 8,5%; khu vực kinh tế tư nhân 3,3 %; khu vực kinh tế cá thể 32%, khu
vực kinh tế hỗn hợp 3,9% và khu vực kinh tế có vốn đàu tư nước ngoài 13,3%.”
Như vậy, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, hai thành phần kinh tế nền tảng
của chủ nghĩa xã hội, chỉ chiếm 47,5% GDP. Đây là một thực tế đặt ra cần được
xem xét để có chiến lược và các chính sách kinh tế chủ động, linh hoạt nhằm
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế nước ta.
Thứ hai, nhiều vần đề xã hội mới nảy sinh và môi trường sinh thái bị tàn
phá. Cùng vơi sự phát triển kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường, tình
33

trạng phân hoá giàu nghèo, các tệ nạn xã hội, tiêu cực xã hội và mội trường sinh
thái bị tàn phá có xu hướng gia tăng. Đó là hậu quả khó tránh khỏi bởi sự tác
động của mặt trái của cơ chế thị trường. Đây là một thách thức lớn đang đặt ra,
đòi hỏi chúng ta phải giải quyết. Những vấn đề này không được giải quyết kịp
thời, kiên quyết sẽ rất dễ nảy sinh thành những vấn đề chính trị phức tạp.
Ba là, thông qua hoạt động hợp tác đầu tư các thế lực thù địch đang tiến
hành mạnh mẽ chiến lược “diễn biến hoà bình” đối với cách mạng nước ta.
Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu
hướng tất yếu khách quan đối với nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, so với các
nước trong khu vực và thế giới, nền kinh tế nước ta còn nhiều hạn chế. Đặc biệt,
chúng ta còn thiếu kinh nghiệm và trình độ tổ chức quản lý một nền kinh tế
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường. Đây chính là kẽ hở để các thế
lực thù đich lợi dụng một mặt thâm nhập cài cắm các lực lượng chống đối, mặt
khác tuyên truyền, xuyên tạc đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”. Những thách thức trên
đây có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Do đó, trong quá trình tổ chức và quản lý
nền kinh tế đa hình thức sở hữu, chúng ta không nên xem nhẹ một thách thức
nào.
2 .Về thực hiện nhiều thành phần kinh tế
2.1 Sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
Một trong những thành tựu lớn nhất của hơn 20 năm đổi mới ở nước ta là
đổi mới kinh tế, tạo nên những tiềm lực mới cho sự phát triển của đất nước.
Có được thành tựu ấy là do nhiều nguyên nhân, trong đó đổi mới tư duy
kinh tế, thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, gắn với thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là cơ bản nhất.

34

Một thời chưa xa, chúng ta lúng túng trong nền kinh tế chỉ thừa nhận hai
thành phần là quốc doanh và tập thể. Và không ít người cho rằng, chỉ có như
vậy mới thực sự là xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta không phê phán một cách phi lịch sử, nhưng quan trọng là đã nhận
ra những lẽ cần thiết của sự tồn tại hai thành phần kinh tế đó và những hạn chế
làm kìm hãm sự phát triển của đất nước khi thực hiện nền kinh tế chỉ có hai
thành phần như vậy để từ đó tìm ra cách làm ăn mới phù hợp với quy luật phát
triển.
Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện trong đó có
đổi mới kinh tế, phát triển các thành phần kinh tế với nhiều hình thức rất phong
phú, đa dạng và sáng tạo. Nhờ đó, chỉ sau hơn 10 năm, vẫn những con người ấy,
cũng những điều kiện tự nhiên ấy, từ một đất nước thiếu ăn quanh năm, trông
chờ chủ yếu vào sự viện trợ từ bên ngoài; hàng tiêu dùng khan hiếm, người lao
động không có việc làm… đã trở thành một đất nước không những đủ ăn, mà
còn có lương thực, thực phẩm dự trữ và đến nay xuất khẩu gạo đứng hàng thứ
hai thế giới; nhu cầu tiêu dùng trong nước được thỏa mãn về nhiều mặt, kết cấu
hạ tầng phát triển, nền kinh tế – xã hội sôi động, đất nước không ngừng phát
triển. Chính nhờ đổi mới cơ chế, chính sách nhằm không ngừng phát triển các
thành phần kinh tế, các tiềm năng của xã hội được khai thác, nội lực được phát
huy, sức mạnh của bên ngoài được huy động.
Chính sách đối với phát triển các thành phần kinh tế là một bộ phận trong
chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Từ chỗ không
thừa nhận kinh tế tư nhân đến chỗ thừa nhận nó; từ chỗ thừa nhận kinh doanh
nhỏ ở một số ngành nghề, đến chỗ không hạn chế về quy mô và lĩnh vực mà
luật pháp không cấm. Từ chỗ cho làm, đến chỗ được làm, mỗi lần thay đổi tư
duy như vậy là một lần nhận thức của chúng ta được mở rộng, sâu thêm và kinh
tế tư nhân cùng các thành phần kinh tế phát triển. Những biến đổi như vậy đã
thúc đẩy các thành phần kinh tế đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế,
35