Tải bản đầy đủ
Chủ nghĩa xã hội

Chủ nghĩa xã hội

Tải bản đầy đủ

Chủ nghĩa xã hội là thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể.
Trong những năm thực thi Chính sách kinh tế mới, những mạch máu kinh tế
cơ bản như công nghiệp, ngân hàng, tài chính, tín dụng luôn nằm trong tay
Chính quyền Xôviết, thuộc sở hữu nhà nước, tạo thành thành phần kinh tế xã
hội chủ nghĩa. Khi Chính sách kinh tế mới được thực hiện, mối quan hệ hàng
hoá - tiền tệ đã được xác lập trên phạm vi cả nước, Lênin chủ trương chuyển
các xí nghiệp quốc doanh sang chế độ tự hoàn vốn, chế độ hạch toán kinh tế.
Nhờ đó các xí nghiệp quốc doanh được giải phóng khỏi những quy định hết sức
ngặt nghèo đối với sản xuất trong những năm thi hành mô hình Chính sách cộng
sản thời chiến. Các xí nghiệp này được tự do hành động, tự chịu trách nhiệm vật
chất với kết quả hoạt động của mình.
Việc cho phép các xí nghiệp quốc doanh hoạt đọng theo chế độ hạch toán
kinh tế, tự quản và tự chủ trong sản xuất kinh doanh không có nghĩa là từ bỏ chế
độ kế hoạch hoá. Khi thực hiện Chính sách kinh tế mới, dưới sự chỉ đạo của
Lênin, kế hoach hoá ở đây được hiểu là kế hoach hoá mang tính chất điều tiết
chứ không phải mang tính chất pháp lệnh. Những chức năng quan trọng của kế
hoạch là xác định tỷ lệ cân đối kinh tế theo ngành và theo khu vực. Nói đến tính
thiết yếu của kế hoach trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần khi thực
hiện Chính sách kinh tế mới, Lênin nhấn mạnh: “Chính sách kinh tế mới không
thay đổi kế hoạch thống nhất của nhà nước và không vượt ra ngoài giới hạn của
kế hoach đó, nhưng thay đổi biện pháp thực hiện kế hoạch đó”. V.I.Lênin toàn
tập, sđd, t 54, tr.131. Tuân theo những chỉ thị đó của Lênin trong những năm
thực hiện Chính sách kinh tế mới, các xí nghiệp quốc doanh đã hoạt động một
cách có hiệu quả và điều đó đã làm cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa
trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dần dần đóng vai trò chủ đạo.
Trong những năm thực hiện chính sách kinh tế mới nền kinh tế của nước
Nga Xôviết có những bước phát triển rất mạnh. Thành phần kinh tế tư bản tư
25

nhân, sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế nông dân mang tính tự nhiên, đặc biệt kinh
tế tư bản nhà nước đã phát triển trong nhiều lĩnh vực, thậm chí có lúc còn mạnh
hơn cả khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa. Chính điều đó đã tạo nên nét độc đáo
của sự thi đua hoà bình, cạnh tranh lành mạnh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa tư bản ở Nga lúc bấy giờ. Tính độc đáo không chỉ ở sức mạnh của nhà
nước xã hội chủ nghĩa mà còn ở chỗ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa
đã buộc phải đóng vai trò “trợ thủ cho xã hội chủ nghĩa”. Khẳng định tính biện
chứng trong mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế ở những năm thực hiện
Chính sách kinh tế mới, Lênin viết: “Chúng ta sẽ tăng cường sản xuất, đẩy
mạnh trao đổi,…tăng cường giai cấp tiểu tư sản, nhưng ta sẽ củng cố thật nhiều
nền sản xuất lớn và giai cấp vô sản. Cái nọ gắn liền với cái kia”. V.I.Lênin toàn
tập, sđd, t 43, tr.446
Trong quan niệm của Lênin về các thành phần kinh tế ở nước Nga sau nội
chiến, cần lưu ý một số điểm sau: Lênin xếp các thành phần kinh tế theo cấp độ
tăng lên của tính chất xã hội chủ nghĩa; tỷ trọng các thành phần kinh tế trong
từng giai đoạn lịch sử; sự biến đổi tỷ trọng trong các thành phần kinh tế phải
theo hướng xã hội chủ nghĩa; tính đan xen và mâu thuẫn và sự đấu tranh giữa
các thành phần kinh tế là giai cấp tiểu tư sản cộng với chủ nghĩa tư bản tư nhân
chống lại cả chủ nghĩa tư bản nhà nước lẫn chủ nghĩa xã hội.
Tiếp đến, phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Nga. Những
chính sách trong tác phẩm Bàn về thuế lương thực tất yếu dẫn đến phục hồi và
phát triển chủ nghĩa tư bản. Lênin cho rằng: “Chủ nghĩa tư bản là xấu so với chủ
nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản là tốt so với thời trung cổ, với nền tiểu sản xuất,
với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của những người tiểu sản xuất
tạo nên.” V.I.Lênin toàn tập, sđd, t 43, tr.276 .Trong điều kiện kinh tế - xã hội
Nga lúc đó “có thể sử dụng chủ nghĩa tư bản tư nhân (chứ đừng nói gì chủ nghĩa
tư bản nhà nước nữa) để xúc tiến chủ nghĩa xã hội”. V.I.Lênin toàn tập, sđd, t
43, tr.281. Lênin cho rằng, một khi chủ nghĩa tư bản phục hồi mà “tìm cách
26

ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân…là một
sự dại dột và tự sát…đảng nào định thi hành một chính sách như thế, nhất định
sẽ bị phá sản”. V.I.Lênin toàn tập, sđd, t 43, tr.267. Lênin quả quyết: một khi
chủ nghĩa tư bản phục hồi và phát triển thì chính sách hợp lý, đúng đắn nhất
“không tìm cách ngăn cấm hay chặn đứng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà
tìm cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước” V.I.Lênin toàn
tập, sđd, t 43, tr.267-268 rằng, chủ nghĩa tư bản nhà nước hoàn toàn có thể tồn
tại dưới Chính quyền Xôviết.
Quan điểm của Lênin về sự tất yếu phục hồi chủ nghĩa tư bản ở Nga sau
Cách mạng Tháng Mười, nhưng theo định hướng chủ nghĩa tư bản nhà nước. Ở
đây cần lưu ý: Trong điều kiện kinh tế- xã hội nước Nga, có thể sử dụng kinh
nghiệm của chủ nghĩa tư bản để xúc tiền chủ nghĩa xã hội, vì chủ nghĩa tư bản
tích cực chống chủ nghĩa quan liêu, nhanh chóng xoá bỏ tình trạng phân tán của
những người sản xuất nhỏ (Theo Lênin đây là lực lượng chủ yếu chống Chính
quyền Xôviết). Điều quan trọng là phải hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư
bản nhà nước; giai cấp vô sản phải là giai cấp lãnh đạo, giai cấp thống trị nhà
nước.
Tiếp đến, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng bộ máy quản lý nhà
nước, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân.Trong tác phẩm Bàn về thuế
lương thực, Lênin rất chú ý đến việc nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng
Bônsêvích Nga, xây dựng và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, phát huy khả
năng sáng tạo, tính năng động của quần chúng nhân dân, sử dụng đội ngũ
chuyên gia tư sản, thực hiện dân chủ chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa quan
liêu, thể hiện ở một số mặt sau: Về nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
Lênin chỉ rõ: người cộng sản “không nên “tự mình” làm “tất cả”, làm quá sức
mà vẫn không kịp,làm một lúc cả hàng hai chục việc mà không được một việc
nào ra trò, mà phải kiểm tra công việc của hàng chục, hàng trăm người phụ
giúp…chỉ đạo công tác và học tập những người có kiến thức chuyên môn
27

(những chuyên gia),…(các nhà tư bản)”. V.I.Lênin toàn tập, sđd, t 43, tr.293.Vì
“Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ
thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được, vì
chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất quần chúng để
đi tới một năng suất lao động cao hơn năng suất của chủ nghĩa tư bản”.
V.I.Lênin toàn tập, sđd, t 36, tr.217. Như vậy, người đảng viên cộng sản không
được bao biện làm thay mà phải biết phân công, chỉ đạo công việc và tổ chức
cho quần chúng kiểm tra kết quả công việc đó.
Người cộng sản phải biết học tập kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm quản
lý của các chuyên gia cũng như của các nhà tư bản để phục vụ cho sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩ xã hội: cải thiện bộ máy, chống chủ nghĩa quan liêu. Lênin
chỉ ra rằng: Muốn cải thiện bộ máy đó một cách triệt để hơn, muốn cho nó được
bổ sung nhiều sinh lực mới, muốn chiến thắng chủ nghĩa quan liêu, muốn khắc
phục tình trạng thủ cựu nguy hại đó, thì phải có sự giúp đỡ của các tổ chức ở địa
phương, của cơ sở”; V.I.Lênin toàn tập, sđd, t 43, tr.282 hướng về cơ sở: công
việc làm tốt ở một địa phương, dù là địa phương nhỏ, vẫn có lợi cho nhà nước
hơn là sự hoạt động của một số cơ quan trung ương mắc phải tình trạng trì trệ
nguy hại đó; Lênin chủ trương đưa cán bộ có năng lực ở cấp trên về cơ sở: “Một
số cán bộ phụ trách có thể và phải thôi công tác ở các cơ quan trung ương và
phải về các địa phương, nhận chức vụ lãnh đạo các huyện, các tổng… sẽ giúp
ích được nhiều vô cùng… nhiều hơn là giữ một chức vụ nào đó ở trung ương”.
V.I.Lênin toàn tập, sđd, t 43, tr.284.Về công tác cán bộ, Lênin lưu ý các cấp: thắt
chặt hơn nữa mối liên hệ với quần chúng lao động bằng cách đưa quần chúng
“tham gia vào công tác của các Xôviết, mà trước hết là vào công tác kinh tế.
Hàng trăm và hàng nghìn người không đảng làm việc trong bộ máy của chúng
ta”. V.I.Lênin toàn tập, sđd, t 43, tr.292. Đồng thời phải kiểm tra, “thử thách họ
một cách có hệ thống và thường xuyên.” V.I.Lênin toàn tập, sđd, t 43, tr.292 –
293.
28

6. Ý nghĩa lý luận của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần
trong tác phẩm Bàn về thuế lương thực củaV.I.Lênin.
Chính sách kinh tế mới của Lênin đã khẳng định sự tồn tại các thành phần
kinh tế trong thời ký quá độ là một tất yếu khách quan, các thành phần kinh tế
nằm trong một cơ cấu kinh tế thống nhất, mỗi thành phần kinh tế có vị trí, vai
trò, đặc điểm khác nhau làm điều kiện và tiền đề cho nhau. Vì thế, phải phát
triển và xây dựng tất cả các thành phần kinh tế nhằm phát huy hết sức mạnh nội
lực và ngoại lực để phát triển kinh tế.
Lênin đã vận dụng kế thừa và sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác
về thời kỳ quá độ, về đặc điểm, nhiệm vụ kinh tế của thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội . Nghĩa là trong giai đoạn quá độ thì tồn tại đồng thời các thành
phần kinh tế của Chủ nghĩa tư bản và Chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách
quan.
Qua tác phẩm, Lênin đã chỉ ra cách quản lý và phát triển các thành phần
kinh tế. Phân tích con đường và biện pháp sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước
với tư cách là trạm trung gian, là cầu nối để đưa nền sản xuất nhỏ lên nền sản
xuất lớn Xã hội chủ nghĩa.
III QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA
LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ SỞ HỮU VÀ CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, lạc hâu, nền kinh tế kém phát triển, sau
khi giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thì
hoàn cảnh nước ta cũng gần giống với nước Nga. Vì vậy, sự tồn tại đa dạng các
hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan. Vì khi
bước vào thời kỳ quá độ, lực lượng sản xuất và trình độ phát triển kinh tế thấp,
không đồng đều giữa các ngành, các vùng trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, xã
hội cũ để lại không ít các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế, không thể
29

xoá bỏ hay cải biến ngay được. Quan hệ sản xuất xã hội chũ nghĩa ra đời phải
phát triển từ thấp đến cao. Vì vậy, việc tồn tại kinh tế tư nhân và sản xuất nhỏ
của nông dân, thợ thủ công trong nền kinh tế là một tất yếu. Sử dụng hiệu quả
các thành phần kinh tế sẽ tạo điều kiện tiềm năng về vốn, công nghệ, kinh
nghiệm quản lý…tạo thuận lợi cho người lao động.
1.Về sở hữu.
1.1 Việt Nam thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu.
Đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở nước ta là một tất yếu khách quan:
Thứ nhất, từ đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
nền kinh tế chưa thể đơn nhất hoá hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Nhận thức
được tính khách quan của sự tồn tại các loại hình sở hữu trong thời kỳ quá độ,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta chỉ rõ: “…phù hợp với sự
phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa từ thấp đến cao, với sự đa dạng về hình thức sở hữu.”
Thứ hai, từ sự phát triển không đều của lực lượng sản xuất giữa các vùng,
ngành kinh tế ở nước ta hiện nay. Nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông
nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến, ảnh hưởng nhiều của chiền tranh. Do đó, sự
phát triển lực lượng sản xuất rất không đều nhau giữa các ngành, các vùng kinh
tế; giữa miền xuôi với miền ngược; giữa thành thị với nông thôn. Chính vì vậy,
đòi hỏi phải có các hình thức sở hữu tương ứng, phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất ở từng ngành, từng vùng, miền kinh tế khác nhau. Điều
đó cũng có nghĩa là, với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta
hiện nay, chưa thể đơn nhất hoá, mà đa dạng hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
trở thành tất yếu khách quan.
Thứ ba, từ thực tiễn nước ta trước đây và hiện nay. Trước đổi mới, nền kinh
tế nước ta chỉ tồn tại hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Sự vượt trước của quan hệ sản xuất, trong khi tính chất và trình độ của lực
30

lượng sản xuất chưa cho phép, đã kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước.
Đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI của Đảng đã mở ra thời kỳ mới cho đất nước bằng sự nghiệp đổi mới
toàn diện nền kinh tế xã hội. Thực hiện nhất quán đa dạng hoá hình thức sở hữu,
xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta từng bước thoát khỏi khủng hoảng
và bước vào thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
1.2 Những tác dộng của quá trình đa dạng hoá các hình thức sở hữu vào
sự phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Việc đa dạng hoá hình thức sở hữu tư liệu sản xuất ở nước ta là quá trình có
tính hai mặt. Một mặt, quá trình này có tính tích cực, mặt khác nó lại đặt ra
nhiều thách thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
1.2.1 Tác động tích cực của việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong
phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Thứ nhất, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất.
Từ các hình thức sở hữu tư bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư
nhân hình thành 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế
cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài. Chính sự vận động của nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang đến cho nền kinh tế nước
ta một sức sống mới. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1991 – 2000 đạt bình
quân 7% năm, sau 10 năm GDP tăng 2,07 lần, các năm 2001, 2002 và 7 tháng
đầu năm 2003 GDP đều tăng xấp xỉ 7%. Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp
bình quân trong 10 năm 1991 – 2000 đạt 13%, 7 tháng đầu năm 2003 đạt trên
15%. Các năm gần đây tốc độ tăng trưởng đều tăng trên 10%. Cơ cấu ngành
kinh tế theo hướng hiện đại đang dần được hình thành. Trong GDP, tỷ trọng
nông ngiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%; công nghiệp và xây dựng từ 22,7%
tăng lên 36,6%; dịch vụ từ 38% tăng lên 39,1%.
31