Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀM VIỆC TẠI XƯỞNG SẢN XUẤT CỬA NHỰA- CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT KẾ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CỬU LONG.

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀM VIỆC TẠI XƯỞNG SẢN XUẤT CỬA NHỰA- CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT KẾ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CỬU LONG.

Tải bản đầy đủ

18

Sơ đồ tổ chức:
Hiện tại, công ty có 50 nhân viên chính thức (không kể nhân viên thời vụ và bán
thời gian). Sơ đồ tổ chức của công ty nhƣ sau:

Tổng
Giám
Đốc

BP. Xây
Dựng

Thiết
kế

Kế toán

BP.Cửa

Công
nhân

Văn
phòng

Thi
công

Báo
giá/Sale

Thiết kế

Thu
mua

Thủ kho

CN Sản
xuất

CN Lắp
đặt

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của công ty.
Chức năng của từng bộ phận:
Tổng giám đốc: là ngƣời đại diện cho toàn công ty, có tính chất quyết định với tất
cả những vấn đề quan trọng nhất của công ty.
Bộ phận Xây Dựng: quản lý thiết kế, thi công các công trình xây dựng.
Bộ phận kế toán: chịu trách nhiệm quản lý chung về hoạt động kế toán của công ty.
Bộ phận cửa: chịu trách nhiệm về thiết kế, sản xuất và lắp đặt các công trình cửa
(bao gồm cửa nhựa uPVC, cửa sắt, nhôm, kính, cầu thang kính, lan can kính...). Trong
đó: văn phòng bao gồm các nhiệm vụ nhƣ: tiếp nhận đơn hàng, báo giá, bán hàng,
soạn thảo hợp đồng, thiết kế cửa, đặt mua vật tƣ sản xuất...bộ phận sản xuất có nhiệm
vụ chủ yếu là sản xuất, vận chuyển, lắp đặt và bảo hành cửa.

19

Hoạt động hiện tại của công ty:
Mặc dù mới thành lập đƣợc 4 năm nhƣng bộ phận cửa nhựa của công ty Cửu Long
đã đạt đƣợc những thành quả nhất định về doanh số và với mức giá cạnh tranh.Cửu
Long liên tục mở rộng thị trƣờng ra nhiều tỉnh thành trên cả nƣớc. Phƣơng châm hoạt
động: : “Chất lƣợng- Gía cả hợp lý- Hiệu quả thời gian” nhằm mang đến cho khách
hàng” Sự hài lòng, tiện nghi và tinh tế trong từng chi tiết”. đã đem lại lòng tin cho
khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm. Tuy nhiên,dù đã đạt đƣợc một số thành công
nhất định trong lĩnh vực sản xuất cửa uPVC và đạt đƣợc doanh số tƣơng đối ổn định
song thời gian gần đây mức tăng trƣởng của công ty đang có xu hƣớng chững lại một
phần do ảnh hƣởng tình trạng khó khăn của thị trƣờng chung, một phần do chính sách
chất lƣợng tại công ty. Theo nguồn của phòng kế toán, một số dự án gần đây của công
ty mặc dù đảm bảo mức tăng doanh số so với cùng kỳ năm ngoái nhƣng chi phí cho
hoạt động sản xuất lại tăng quá cao có những công trình chi phí lên tới 40% so với tổng
doanh thu của công trình đó.Đồng thời trong quá trình làm việc tại bộ phận cửa, tác giả
đã tiến hành quan sát xƣởng làm việc cũng nhƣ tìm hiểu môi trƣờng làm việc tác giả đã
nhận thấy rất nhiều vấn đề liên quan đến việc sử dụng nguyên liệu sản xuất sử dụng
một cách không hiệu quả. Ở đây, rất nhiều nguyên liệu bị vứt bỏ khi còn có thể sử
dụng đƣợc, việc sắp xếp bố trí kho xƣởng và nguyên vật liệu lộn xộn gây khó khăn
trong quá trình sử dụng, môi trƣờng làm việc không đảm bảo…Vì vậy, việc đƣa ra giải
pháp để pháp khắc phục tình trạng trên nhằm mục đích giảm sự lãng phí, cải thiện môi
trƣờng làm việc một điều cần thiết và quan trọng hiện nay.
2.2 Thực trạng môi trƣờng làm việc tại bộ phận sản xuất cửa nhựa - Công
Ty Cổ Phần Thiết Kế Đầu Tƣ Xây Dựng Cửu Long.
Việc phân tích môi trƣờng làm việc nhằm tìm ra vấn đề hiện tại mà doanh nghiệp
đang gặp phải, từ đó cơ sở đó tác giả tiến hành tìm hiểu nguyên nhân và đƣa ra giải
pháp khắc phục tình trạng hiện tại của công ty.

20

2.2.1 Thực trạng bố trí mặt bằng tại công ty.
Diện tích mặt bằng xƣởng hiện tại của công ty không lớn khoảng 300 m2 trong đó
diện tích kho phụ kiện 36m2, diện tích phòng trƣởng xƣởng chiếm 4m2, diện tích để
nguyên vật liệu là 40m2, vị trí mỗi máy cắt, máy hàn là 2.25m2, diện tích còn lại sử
dụng để sản xuất và để bán thành phẩm và thành phẩm của công ty.Việc bố trí hiện tại
của mặt bằng có ƣu điểm đó là nguyên vật liệu và máy móc để gần nhau và gần khu
vực sản xuất nên r t ngắn đƣợc thời gian di chuyển trong quá trình sản xuất. Bên cạnh
đó còn tồn tại những nhƣợc điểm nhƣ sau:
Thứ nhất, vì diện tích sản xuất quá nhỏ nên gây ra nhiều khó khăn trong quá
trình làm việc của công nhân. Điều này đƣợc thể hiện rõ khi công ty có nhiều đơn hàng
thì diện tích chủ yếu đƣợc sử dụng chứa cửa thành phẩm, các công việc khác không
phải sử dụng nhiều tới máy móc và thiết bị nhƣ: luồn gioăng vào khe cửa hay đóng nẹp
thì đƣợc chuyển ra bãi đất trống bên ngoài xƣởng để làm nhƣờng vị trí xƣởng cho các
thao tác chính của quá trình.
Thứ hai, tủ đựng dụng cụ chƣa đƣợc giữ cẩn thận, các thiết bị trọng tủ thƣờng
xuyên bị thất lạc và mất. Số liệu thống kê số lƣợng máy bị mất trong tháng 7 và tháng
8 năm 2013 của công ty:
Bảng 2.1 Thống kê số lƣợng máy bị mất trong tháng 7 và 8 năm 2013.
Thiết bị mất/thất lạc

Số lƣợng

Hiện trạng

Tiền mua mới

Máy hàn tay

2

Thất lạc

2.230.000 vnđ/chiếc

Máy bắn keo silicon

1

Mất tại công trình

620.000 vnđ/chiếc

Máy bắn vít

1

Mất tại công trình

1.200.000 vnđ/chiếc

Ngoài ra, phòng giữ phụ kiện trời mƣa thƣờng bị ngấm nƣớc dẫn tới nhiều phụ
kiện bằng sắt bị hoen rỉ và không thể sử dụng.(Xem bảng 2.2 thống kê số lƣợng phụ
kiện không thể sử dụng đƣợc 2013)

21

Thứ ba, máy móc đƣợc bố trí chƣa hợp lý,máy cắt sắt đƣợc đặt trƣớc cửa ra vào
gây khó khăn cho việc đi lại và mất an toàn trong lao động.

Hình 2.2 Sơ đồ bố trí mặt bằng và lƣu đồ sản xuất tại công ty
Thứ tƣ, việc đặt tủ đựng dụng cụ và kho phụ kiện xa nhau sẽ gây mất thời gian
trong quá trình đi lại.
Thứ năm, kính lắp cửa sau khi đặt mua về không đƣợc bảo quản ở bên trong mà
để ở bên ngoài xƣởng nên đôi xảy ra tình trạng kính vỡ hoặc bị mất gây lãng phí cho
công ty.
Thứ sáu, chƣa có đƣờng kẻ để vạch để phân biệt lối đi và khu vực làm việc nên
việc đi lại của công nhân cũng lộn xộn.

22

Quy trình

Nhân viên thực hiện

Tiếp nhận đơn
hàng

văn Báo giá đơn hàng, làm hợp đồng
sản phẩm, chuyển đơn hàng cho
nhân viên thiết kế.

Thiết kế bản vẽ

Nhân viên thiết kế

Mua nguyên vật
liệu

Mua những nguyên liệu cần thiết
Thủ kho và bộ phận
cho sản xuất.
thu mua.

Thiết kế cửa theo đ ng yêu cầu của
khách hàng.

Cắt

Công nhân sản xuất

Sử dụng máy cắt để cắt nhựa uPVC,
cắt lõi sắt và cắt nẹp.

Hàn

Công nhân sản xuất.

Sử dụng máy hàn để hàn các thanh
sắt và nhựa thành khung cửa.

3

Bào

Công nhân sản xuất.

Sử dụng máy bào tay và máy bào
góc để làm nhẵn các mối hàn.

4

Phay

Công nhân sản xuất.

Sử dụng máy phay để phay lỗ thoát
nƣớc.

5

Bắn phụ
kiện

Công nhân sản xuất.

Sử dụng máy bắn phụ kiện để bắn
vít, khóa…vào cửa

Công nhân sản xuất.

Lắp kính vào khung cửa và đóng
nẹp nhựa bao quanh kính.

1

2

Không
đạt

Nhân
viên
phòng.

Nhiệm vụ

Lắp kính, đóng
nẹp
6
Kiểm tra
Đạt

Lắp đặt

Nhân viên thiết kế Kiểm tra kích thƣớc cửa, mối hàn,
(Đồng thời làm kính và nẹp.
KCS)
Công nhân lắp đặt
Lắp đặt cửa lên công trình.

Hình 2.3 Lƣu đồ sản xuất cửa nhựa tại công ty

23

Theo hình 2.3 Lƣu đồ sản xuất cửa nhựa tại công ty, có thể thấy thanh nhựa
uPVC đƣợc mua về và đặt lên kệ. Sau đó, những nguyên vật liệu này sẽ đƣợc di
chuyển ra vị trí máy cắt để cắt theo kích thƣớc bản vẽ (đây còn đƣợc gọi là giai đoạn
cắt khung và cắt nẹp cửa).Ở công đoạn này, công việc cắt khung và cắt nẹp diễn ra
đồng thời. Một điều bất tiện khi công nhân sử dụng máy cắt khung đó là vị trí của đặt
máy cắt ngay gần cửa ra vào và cửa kho phụ kiện, gây khó khăn cho quá trình di
chuyển và hoạt động.Theo quan sát của tác giả, trong quá trình cắt nguyên vật liệu thì
hầu hết các công nhân trong xƣởng bị hạn chế qua lại, nếu thủ kho muốn vào kho phụ
kiện thì phải yêu cầu ngừng máy cắt trong ít ph t.Thông thƣờng, thời gian vào kho mất
khoảng từ 4-5 ph t và nhiều khi lên tới 15-20 ph t nếu phụ kiện bị thất lạc hoặc nằm
sâu bên trong.Trung bình, một ngày thủ kho ra vào kho nguyên vật liệu khoảng 10 lần
thì thời gian chờ bị mất trong một ngàyít nhất là 40-50 ph t làm việc của 2 công nhân
cắt nhựa và thời gian này có thể tăng lên tới hơn 1 giờ nếu phải tìm phụ kiện thất lạc
trong kho.Vì vậy,việc bố trí máy và sắp xếp kho một cách hợp lý gi p công ty có thể
giảm thiểu đƣợc thời gian chờ bị lãng phí.
Nguyên vật bị dƣ thừa sau khi cắt đƣợc dồn vào một chỗ gần ngay máy cắt và
cuối ngày, công nhân sẽ mang những nguyên liệu này bỏ vào một góc phía dƣới
kho,chờ thanh lý mà không sàng lọc lại. Để thấy đƣợc số lƣợng vật liệu bị lãng phí tác
giả đã tính nhƣ sau, mỗi thanh uPVC có chiều dài 5.8m và đƣợc cắt ra thành từng kh c
nhỏ để ghép thành khung cửa, cứ mỗi cánh cửa có chiều dài 2.2mx1m thì cần sử dụng
2 thanh dài uPVC, trong đó 1 thanh đƣợc cắt thành 2 thanh nhỏ có chiều dài 2.2m và
thanh còn lại cắt thành 2 thanh nhỏ có chiều dài 1m. Nhƣ vậy, số lƣợng uPVC dƣ ở
thanh thứ nhất là 1.4m và ở thanh thứ 2 là 3.8m và thông thƣờng với thanh 1.4m sẽ
đƣợc công nhân loại ra để vào một chỗ khi thiếu thì sẽ sử dụng, nếu không sẽ bán
thanh lý. Trung bình 1 ngày, các công nhân trong xƣởng cắt khoảng 22 cây nhựa có
chiều dài 5.8m và số lƣợng cây có chiều dài <1.4m dƣ khoảng 20 cây, và số lƣợng này
nếu bán thanh lý sẽ có giá 10.000 vnđ/kg và số tiền có đƣợc khoảng 286.400vnđ trong

24

khi cũng số vật liệu này nếu mua mới sẽ có giá là 39.500 vnđ.kg và số tiền phải trả là
1.131.000 vnđ đắt gấp 4 lần so với số tiền bán thanh lý.Thấy đƣợc thực trạng này, từ
đầu năm 2014 trƣởng phòng bộ phận cửa đã yêu cầu tất cả các công nhân giữ lại và sàn
lọc lại tất cả những thanh nhựa để tái sử dụng nhƣng việc này chỉ thỉnh thoảng mới
đƣợc thực hiện vì lý do việc và hàn những thanh uPVC ngắn sẽ khó và mất nhiều thời
gian hơn việc sử dụng một thanh dài, vì vậy việc sàng lọc nhựa uPVC chỉ đƣợc các
công nhân thực hiện khi có trƣởng phòng hoặc ban lãnh đạo xuống kiểm tra.
Thanh nhựa đƣợc cắt sẽ đƣợc đem đi hàn thành khung hoàn chỉnh, thời gian hàn
xong 1 cánh cửa mấy khoảng từ 15-20 ph t, sau đó đƣợc đƣa tới máy bào để bào phẳng
góc ở những mối hàn và ở những vị trí bị cong vênh, rồi đƣợc chuyển tới khu vực phay
lỗ thoát nƣớc, sau đó cửa sẽ đƣợc di chuyển về vị trí sản phẩm dở dang và chờ bắn phụ
kiện.
Sau đó cửa bán thành phẩm (dở dang) đƣợc đƣa đi bắn phụ kiện và đóng
kính.Khi bắn phụ kiện các công nhân trong xƣởng phải sử dụng nhiều công cụ và thiết
bị nhƣ máy bắn phụ kiện các loại, máy khoan tay, máy hàn tay...Các thiết bị này bình
thƣờng đƣợc thủ kho cất giữ và sẽ giao cho công nhân khi cần sử dụng. Tuy nhiên,
những khi có nhiều đơn hàng thì những thiết bị không trả lại cho thủ kho với lý do
“ngày mai còn sử dụng”, chính điều này gây ra sự mất mát và thất lạc của thiết bị,
khiến công nhân mất rất nhiều thời gian tìm kiếm.Theo thống kê của bộ phận kho
xƣởng, thời gian gần đây công ty nhận nhiều đơn hàng thì đồng nghĩa với việc tỷ lệ
thiết bị bị mất và thất lạc cũng tăng lên, trong tháng 8 mất 2 chiếc máy hàn tay và giá
trị khi mua mới là 2.230.0000 vnđ/chiếc, tháng 7 thất lạc 1 máy bắn vít giá 1.200.000
vnđ và 1 máy bắn keo silicon giá 620.000 vnđ, những con số này chỉ cho thấy những
giá trị về mặt vật chất bị mất đi do việc thiếu tổ chức, sắp xếp trong quá trình quản lý
thiết bị, còn chi phí về thời gian cho công tác tìm kiếm cũng là một điều đáng lo ngại,
giả sử một công nhân mất 20 ph t để tìm kiếm một chiếc máy cầm tay, tức là các công
đoạn phía sau nhƣ phay lỗ thoát nƣớc, lắp kính, đóng nẹp… sẽ bị dừng lại 20 ph t, cứ

25

nhƣ vậy sẽ ảnh hƣởng tới cả một tiến trình.Ở công đoạn tiếp theo, sản phẩm đƣợc đƣa
đi đóng kính và nẹp, kính đƣợc chuyển từ bên ngoài vào khu vực sản xuất rồi lắp vào
cửa và đƣợc đóng nẹp.Vấn đề thƣờng gặp phải và gây nhiều lãng phí trong giai đoạn
này là tình trạng kính bị vỡ và mất, nguyên nhân là do kính đƣợc đặt ở bên ngoài
xƣởng, không có mái che nên khi thời tiết quá nắng hoặc bị va chạm với các vật bên
ngoài thì sẽ bị vỡ và hƣ hỏng không thể sử dụng, có những trƣờng hợp bị mất và phải
tiến hành đặt mua lại, thời gian đặt mua lại thƣờng mất từ 3-4 ngày, điều này đồng
nghĩa với việc phải lùi thời gian lắp đặt từ 3-4 ngày, chính điều này đã làm mất niềm
tin của khách hàng với công ty.
Từ những phân tích ở trên có thể thấy sự bố trí mặt bằng không hợp lý cũng ảnh
hƣởng khá nhiều tới tình trạng hiện tại của công ty.
2.2.2 Phân tích môi trường làm việc tại bộ phận sản xuất cửa nhựa công ty Cổ
Phần Thiết Kế Đầu Tư Xây Dựng Cửu Long.
Việc phân tích rõ môi trƣờng làm việc hiện tại của công ty gi p làm rõ vấn đề, đƣa
ra các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng hiện tại, đạt đƣợc các mục tiêu về năng
suất, chất lƣợng, tạo môi trƣờng làm việc an toàn.Để có thể làm rõ hơn vấn đề tác giả
đã tiến hành phân tích thực trạng sắp xếp và quản lý vật dụng của công ty, thực trạng
vệ sinh nơi làm việc và thực trạng về thái độ làm việc của công nhân.


Thực trạng về cách thức sắp xếp và quản lý vật dụng.
Từ kết quả khảo sát theo bảng câu hỏi phụ lục 2, tác giả tiến hành quy đổi điểm

nhƣ sau: với những công nhân cho điểm câu hỏi lớn hơn hoặc bằng 2 điểm tƣơng
đƣơng với mức đánh giá “đồng ý” với nhận định trong câu hỏi, với những công nhân
cho điểm câu trả lời nhỏ hơn 2 điểm tƣơng đƣơng với mức đánh giá “không đồng ý”
với nhận định trong câu hỏi, từ đó tác giả đã đƣa ra đƣợc nhận xét nhƣ sau:
Với câu hỏi “tại nơi làm việc không có các vật dụng không cần thiết” có 14%
công nhân đồng ý với quan điểm này và có tới 87% là không đồng ý. Những vật dụng

26

không cần thiết thƣờng xuất hiện tại nơi làm việc nhƣ: vật liệu cũ, phụ kiện đem ra để
sử dụng nhƣng không sử dụng đƣợc, các loại thiết bị mƣợn trƣớc đó nhƣng không
đƣợc trả về vị trí cũ…và họ cũng cho rằng những vật này ít khi đƣợc dọn dẹp mà chỉ
để qua một bên nếu nó gây vƣớng trong quá trình đi lại. Có thể thấy, sự xuất hiện của
những vật này tại nơi làm việc có thể làm giảm không gian sản xuất, gây lộn xộn và
mất an toàn cho công nhân khi làm việc.
80% ngƣời đƣợc phỏng vấn trả lời không có sự phân biệt rõ ràng giữa lối đi và
khu vực làm việc nên họ sẽ đi tới khu vực làm việc bằng cách nào nhanh nhất, 20%
còn lại cho rằng có xác định đƣợc lối đi nhƣng không đi theo lối đó vì bất tiện và mất
thời gian.Mặc dù, có thể phân biệt đƣợc lối đi và vị trí làm việc song hiện tại công ty
không có đƣờng kẻ vạch hay dấu hiệu để phân biệt 2 vị trí này.
Đồng thời, 100% công nhân cho rằng, tại xƣởng sản xuất có rất nhiều vật dụng
không cần thiết và đa phần trong số đó là nằm trong kho phụ kiện.Nguyên nhân của
vấn đề này là do kho phụ kiện rất ít khi đƣợc kiểm tra và sàng lọc, các phụ kiện hỏng
không sử dụng đƣợc tại công trình đều đƣợc cho vào kho lại, không có nhãn phân biệt,
nguyên vật liệu sử dụng sản xuất không lấy theo nguyên tắc FIFO (First In, First Out)
nên tình trạng vật liệu hết hạn xảy ra thƣờng xuyên dẫn tới lãng phí cho công ty. Bảng
thống kê nguyên vật liệu không thể sử dụng năm 2013 thấy rõ điều này.
Với các vật lạ xuất hiện tại nơi làm việc thì 93% công nhân cho rằng họ không
quan tâm tới sự xuất hiện của các vật lạ nên họ cũng không quan tâm tới lý do tại sao
có vật lạ xuất hiện tại đó.
Và 93% công nhân đồng ý cho rằng tin tức sẽ đƣợc cập nhật mới khi có sự thay
đổi trên bộ phận văn phòng và đa phần họ đều nắm bắt đƣợc những thông tin này vì nó
ảnh hƣởng trực tiếp tới công việc hàng ngày của họ.

27

Bảng 2.2 Số lƣợng vật liệu không thể sử dụng năm 2013
Tên nguyên vật

Gía thành

Số lƣợng

liệu

(vnđ/chiếc/ống)

hƣ hỏng

Foam bắn cửa

31.000

120

3.720.000

Hết hạn sử dụng

Thanh khóa lấy gà

420.000

20

8.400.000

Bị hoen rỉ và gãy.

Ổ khóa cửa

20.000

10

200.000

Thanh nhựa CP6

28.000

200

5.600.000

Chầy xƣớc do để lâu

Thanh nhựa CP90

189.000

20

3.780.000

Chầy xƣớc do để lâu

Thanh khóa cửa đi

180.000

15

2.700.000

Bị gãy thanh chốt.

Vít inox

55.000

10

550.000

Không sử dụng đƣợc

Bản lề chữ 2D

31.000

202

6.262.000

Không sử dụng nữa

Khóa bán nguyệt

24.000

84

2.016.000

Bị chầy

681

33.228.000

Tổng

Tổng chi phí

Ghi ch

Bị hoen rỉ

Nguồn: Kế toán công ty.
Từ những phân tích ở trên tác giả r t ra những kết luận thứ nhất: công việc dọn
dẹp và sàng lọc lại nơi làm việc không đƣợc các công nhân ở đây quan tâm tới nên dẫn
đến tình trạng thƣờng xuyên xuất hiện những vật dƣ thừa tại nơi làm việc, gây ảnh
hƣớng tới quá trình sản xuất của công nhân.
Để có thể hiểu rõ hơn hiện trạng sắp xếp nguyên vật liệu tại xƣởng tác giả
đã tiến hành thống kê lại những vật dụng và thiết bị hiện tại tại công ty đồng thời nếu
lên hiện trạng của thiết bị dựa theo những quan sát thực tế của tác giả. Dựa vào bảng
2.2: thống kê nguyên vật liệu, thiết bị hiện tại tại công ty tác giả tiếp tục sử dụng bảng
khảo sát các yếu tốt trong vấn đề sắp xếp hiện tại tại xƣởng sản xuất.

28

Bảng 2.3 Thống kê nguyên vật liệu, thiết bị hiện tại tại công ty.
Vị trí

Phân loại

Tên thiết
bị/NVL
Khu vực Máy móc máy cắt sắt,
xƣởng
sản xuất
máy hàn, máy
sản xuất
cắt nẹp, máy
phay, máy bào
Tủ thiết bị Máy hàn tay,
máy bắn phụ
kiện, phụ kiện
mẫu
Nguyên vật Nhựa uPVC
liệu thô

Lõi sắt
Kính
Bán thành Cửa dở dang
phẩm
Thành
Cửa
thành
phẩm
phẩm
Kho phụ Phụ kiện Thanh chuyển
kiện
sản xuất
động
quay,
trƣợt,
thanh
chống gió.
Bản lề, con lăn,
gioăng,
vít,
thanh, ổ khóa,
tay nắm,nêm
kính, silicon…

Hiện trạng
Bị dính nhiều bụi bẩn do chƣa đƣợc vệ
sinh.
Các thiết bị để chung với nhau, không dán
nhãn phân biệt
Sắp xếp trên kệ và trên trần nhà, một số
thanh mới nằm bên trên, bên dƣới những
thanh nhựa bị dinh bụi bẩn và chầy xƣớc,
không có nhãn dãn phân biệt các thanh
uPVC khác nhau.
Để dƣới nền đất và để lẫn lộn các loại sắt
cùng với nhau, nhiều cây sắt bị hoen rỉ.
Đặt bên ngoài xƣởng, không có mái che và
không có vật bảo quản, có dãn nhãn phân
biệt kính của từng công trình.
Đặt dựa vào kệ đựng thanh nhựa, không
đƣợc bảo quản chầy xƣớc.
Đặt dựa vào tƣờng, cửa thành phẩm bị
hỏng đặt bên trong, bên ngoài là những sản
phẩm mới chuẩn bị đƣợc đƣa đi lắp đặt.
Đặt trên kệ cùng với các thanh bị hỏng,
không có vật bảo vệ bên ngoài, một số
thanh bị rỉ vì ngấm nƣớc.
Đặt dƣới nền đất, một số đƣợc đựng bằng
thùng cát tông, một số đựng bằng tuí ni
lông, không có nhãn dán phân biệt các t i
phụ kiện với nhau và không có chỗ rành
riêng cho phụ kiện hƣ hỏng.

Thứ nhất, về vấn đề xác định rõ vị trí để vật liệu, dụng cụ hoặc phụ tùng thì
100% ý kiến cho rằng không có vị trí rõ ràng cho những vật này. Vì xƣởng sản xuất