Tải bản đầy đủ
CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH Ở VIỆT NAMTẠI SAO CHƯA CÓ?

CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH Ở VIỆT NAMTẠI SAO CHƯA CÓ?

Tải bản đầy đủ

2. Phân loại chứng khoán phái sinh:
Có 4 loại chứng khoán phái sinh cơ bản như sau:
i) Hợp đồng tương lai (Future) : Là một thỏa thuận được thiết lập để mua và
bán một chứng khoán trên thị trường giao dịch, với một mức giá và thời gian đã
xác định.
Futures được giao dịch tại các sở giao dịch quy củ, định hình, tập trung và
có quy chế rõ ràng. Sở giao dịch thậm chí còn soạn sẵn các hợp đồng có quy
cách tiêu chuẩn và đặt một số kỳ hạn cho ngày đáo hạn rất cụ thể.
Các giao dịch futures được thanh toán bù trừ thông qua các trung tâm bù
trừ được ủy quyền. Sở giao dịch sẽ thiết kế một cơ chế bù trừ rất tinh tế-phức
tạp để tối thiểu hóa mức độ rủi ro mất khả năng thanh toán.
Các hợp đồng futures được quyết toán theo thị giá cuối ngày. Mỗi ngày hợp
đồng đều được khớp sổ quyết toán và cùng lúc đó một hợp đồng mới được phát
hành vẫn theo các điều khoản ban đầu. Bất kỳ khoản lỗ hay lãi nào phát sinh
trong ngày đều được ghi vào tài khoản của người nắm giữ hợp đồng.
ii) Hợp đồng kỳ hạn (Forward) : Một hợp đồng forward là một thỏa thuận
nghĩa vụ mua (hay bán) một tài sản cơ bản ở một mức giá forward đã biết vào
một ngày đã xác định. Ngày đáo hạn và mức giá forward đều được ghi rõ từ
đầu ngay khi hợp đồng forward được nhất trí. Hợp đồng forward được giao
dịch trên thị trường OTC, thực hiện giao dịch vào ngày đáo hạn và có rủi ro tín
dụng.
Nếu một hợp đồng mua forward được ký, người nắm giữ hợp đồng được gọi
là ở vị thế mua (long position) đối với tài sản cơ bản. Nếu như tại thời điểm đáo
hạn, giá trị tài sản cơ bản cao hơn giá forward, vị thế mua đó tạo ra lợi nhuận
cho người nắm hợp đồng. Ngược lại thì lỗ.
iii) Quyền chọn (Option) : Là loại chứng từ mà nhà đầu tư mua như một bảo
dảm nhưng không bắt buộc phải thực hiện giao dịch. Khi muốn mua (bán) một
lượng chứng khoán theo một mức giá ấn định tại một thời điểm xác định ở
tương lai, nhà đầu tư sẽ trả một khoản tiền (như tiền cược) để mua quyền chọn
(kỳ vọng giá tăng - mua quyền chọn mua; kỳ vọng giá giảm - mua quyền chọn
bán). Đến hạn, nhà đầu tư thực hiện giao dịch để kiếm chênh lệch từ biến động
giá. Nếu không thực hiện, nhà đầu tư sẽ mất tiền đặt cọc đó.

Quyền chọn (Option) là nhóm phái sinh cơ bản. Nếu như hợp đồng forward
và futures có tính bắt buộc đối với người nắm giữ phải giao tài sản hoặc chấp
nhận tài sản tại thời điểm đáo hạn, thì option ngược lại cho người ta nắm giữ
quyền, chứ không phải nghĩa vụ, được mua hay bán một loại tài sản.
iv) Giao dịch hoán đổi (Swaps) : Một swap là một hỗn hợp các giao dịch
vừa mua vừa bán đồng thời các dòng tiền (cash flows) liên quan tới nhiều loại
tiền tệ, lãi suất và một số tài sản tài chính.
Một trong những ví dụ thường sử dụng là swap lãi suất giản đơn, liên quan
tới 2 đối tác có 2 nhu cầu tài sản tài chính ngược nhau, và có hoạt động kinh
doanh sinh ra 2 loại dòng tiền có tính chất ngược nhau. Vì không thỏa mãn với
tính chất dòng tiền do hoạt động của bản thân doanh nghiệp, họ tiến hành swap
lãi suất và bù trừ nhau các phần chênh lệch. Theo đó, vào một thời điểm xác
định ở tương lai, đối tác A sẽ giao một lượng tiền nhất định để lấy một lượng
tiền đã được qui đổi theo tỉ giá ngoại tệ trong hiện tại của đối tác B.
3. Chứng khoán phái sinh ở Việt nam.
i) Trên thị trường tài chính ở Việt nam, các nghiệp vụ phái sinh bắt đầu
xuất hiện khoảng 5 năm trước đây và đến nay xuất hiện nhiều loại công cụ phái
sinh chuẩn và không chuẩn đang được thực hiện. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý các
các nghiệp vụ phái sinh còn mang tính thí điểm và đơn lẻ, ngoại trừ giao dịch
hoán đổi lãi suất đã có qui chế của Ngân hàng Nhà nước (Quyết định số
1133/2003/QĐ – NHNN, ngày 30/9/2003 ban hành kèm theo qui chế).
Các ngân hàng và một số doanh nghiệp đã thực hiện các giao dịch phái sinh
forword, future, option và swap đối với một số sản phẩm như vàng, ngoại tệ
hay gạo, cà phê v.v… Tuy nhiên những giao dịch này chưa được triển khai
rộng rãi, số lượng các giao dịch còn ít khoảng gần 15 hợp đồng hoán đổi lãi
suất và một số ít hợp đồng phái sinh không chuẩn khác đã được cho phép thực
hiện (trong số đó có một số giao dịch đã chưa phát sinh giao dịch). Theo số liệu
của Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong năm 2006 tỉ lệ
doanh thu từ sản phẩm phái sinh của các ngân hàng thương mại chỉ đạt 17,5%.
ii) Trên thị trường chứng khoán, giao dịch phái sinh vẫn còn nhiều xa lạ.
Lâu nay, nhà nước mới chỉ cho phép mua bán trên tài sản của nhà đầu tư.
Những hình thức giao dịch “vay mượn” hoặc “bó một mua mười” (option và
future) không được đề cập tới. Thêm vào đó, các hình thức này khá phức tạp
nên các nhà đầu tư cũng chưa chú ý tìm hiểu.

Từ khi thị trường chứng khoán liên tục biến động, Việt Nam cũng đã manh
nha kế hoạch áp dụng công cụ phái sinh vào giao dịch chứng khoán. Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước đang nghiên cứu để tiến tới thành lập thị trường chứng
khoán phái sinh ở Việt Nam. Tuy nhiên đây mới chỉ đang ở bước nghiên cứu,
để triển khai được thì còn một chặng đường khá dài.
4. Những yêu cầu của thị trường chứng khoán phái sinh.
i) Thị trường phái sinh không phải là sân chơi của các nhà đầu tư nhỏ lẻ.
Tuy là công cụ phòng ngừa rủi ro nhưng giao dịch phái sinh lại đầy mạo hiểm.
Hiện nay các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam vẫn đang rất
lung túng trong việc dự đoán xu hướng và diễn biến thị trường, chưa nói đến
khả năng xác định chính xác giá và thực hiện giao dịch trong tương lai.
Đối với các nhà đầu tư nhỏ, việc xác định chính xác hai ẩn số giá và thời
điểm cùng lúc là chuyện không dễ dàng. Điều này có nghĩa là, trao thêm cơ hội
kinh doanh cho nhà đầu tư bằng những công cụ mới, thị trường chứng khoán
phái sinh cũng đồng thời đòi hỏi ở các thành viên giao dịch một trình độ cao
hơn.
ii) Việc hình thành thị trường phái sinh đòi hỏi cơ quan quản lý cũng phải
chuyên nghiệp từ cách thức tổ chức đến cơ chế quản lý.
Về lý thuyết, chứng khoán phái sinh có vai trò tích cực đặc biệt. Với công
cụ phái sinh nhà đầu tư không đủ tiền vẫn có thể kinh doanh và kiếm lời ngay
khi giá xuống. Những ai không tự tin với quyết định của mình có thể mua
quyền chọn như một hình thức bảo hiểm. Với sản phẩm phái sinh, nhà đầu tư sẽ
có thêm cơ hội kinh doanh, giảm thiểu rủi ro, tối đa hóa lợi nhuận một cách
linh hoạt.
Tuy nhiên không dễ dàng gì để triển khai các công cụ phái sinh trên thị
trường chứng khoán. Thực tế, chỉ khoảng 1/3 trong số các thị trường giao dịch
phái sinh có triển khai chứng khoán phái sinh.
Thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh Chicago (Chicago Board of
Trade - CBOT) là thị trường phái sinh lâu đời và lớn nhất thế giới, cũng phải
mất hàng thế kỷ mới phát triển hoàn chỉnh.
iii) Sự đa dạng về hàng hóa, hoàn thiện khung pháp lý, sự đồng bộ trong
thực thi là những tiêu chuẩn bắt buộc khi áp dụng công cụ phái sinh.

Hiện nay, hàng hóa giao dịch trên thị trường CBOT rất đa dạng, từ các loại
nông sản, năng lượng đến sản phẩm tài chính như chỉ số, trái phiếu, cổ phiếu …
Để quản lý thị trường một cách chặt chẽ, CBOT đã luật hóa mọi hoạt động
bằng bảng điều lệ gồm 31 chương, mỗi chương có trung bình 40-60 điều.
Ngoài ra mỗi đối tượng, mỗi hàng hóa giao dịch sẽ tuân thủ những luật lệ riêng.
Ở hầu hết các thị trừơng giao dịch phái sinh trên thế giới, các yếu tố liên
quan đến giao dịch như số lượng, giá cả, biên độ dao động, thời gian giao dịch
đều được các sở giao dịch kiểm soát nghiêm ngặt. Ở một số thị trường như
Singapore, người ta còn lên lịch giao dịch cho từng sản phẩm phái sinh đến
năm 2010 để nhà đầu tư tiện theo dõi và tính toán.
iv) Ngoài ra, yêu cầu về một thị trường mở và vấn đề hội nhập quốc tế cũng
được đặt ra. Tại Singapore, nhà đầu tư vẫn có thể giao dịch chỉ số Nikkel 225
(Nhật). Liệu Việt Nam đã có đủ điều kiện để đáp ứng những đòi hỏi này hay
chưa?
Chứng khoán phái sinh được kỳ vọng là công cụ kích cầu thị trường. Tuy
nhiên với trình độ hiện nay, công cụ này đã phù hợp với Việt Nam hay chưa ?
Hiện nay còn đang có nhiều tranh cãi xung quanh việc nên hay không nên
thành lập thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam.
Thực sự đây là một thị trường hấp dẫn nhưng lại đòi hỏi rất nhiều ở các chủ
thể tham gia. Có lẽ chúng ta cần phải nghiên cứu, áp dụng từng bước, trước mắt
là áp dụng với hàng hóa xuất nhập khẩu. Đến khi nào các thành viên tham gia
thị trường đã sẵn sàng thì triển khai giao dịch chứng khoán phái sinh mới hiệu
quả.
5. Liệt kê một số Tổ chức tín dụng đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
cho phép thực hiện một số nghiệp vụ phái sinh :
- Ngân hàng Citibank thực hiện thí điểm hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền
từ ngày 1/3/2005 đến 2/2006.
- Ngân hàng Standard Chartered chi nhánh tại Việt Nam thực hiện hoán đổi
lãi suất chéo giữa 2 đồng tiền chéo (Cross Currency Swap- CCS) đối với khoản
vay ngoại tệ của khách hàng sau khi khách hàng vay ngoại tệ; thực hiện cung
cấp sản phẩm gắn với rủi ro tín dụng - lãi suất cơ cấu cho tiền gửi và giấy tờ có
giá, theo đó lãi suất của khách hàng được hưởng sẽ không cố định mà nằm
trong một khoảng giao động nhất định và phụ thuộc vào sự biến động của một
số yếu tố thị trường, như tỷ giá, lãi suất, giá sản phẩm hàng hóa nào đó...

- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, thực hiện thí điểm giao dịch
quyền chọn lãi suất đối với các khoản cho vay hoặc đi vay trung hạn bằng USD
hoặc Euro. Đối tác thực hiện giao dịch quyền chọn lãi suất là các doanh nghiệp
hoạt động tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam
được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn
lãi suất và các ngân hàng nước ngoài. Số gốc của hợp đồng quyền chọn lãi suất
tối đa bằng 15% vốn tự có của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Tổng số là hợp
đồng trong thời gian thí điểm không vượt quá 50% mức vốn tự có của ngân
hàng. Thời hạn hợp đồng không quá 5 năm; thực hiện nghiệp vụ tiền gửi kết
hợp quyền chọn tiền tệ (Dual Currency Deposit); thực hiện hoán đổi tiền tệ
chéo. Đó là việc trao đổi các dòng tiền trong tương lai bằng các đồng tiền khác
nhau. Trong các giao dịch hoán đổi chéo thường có việc hoán đổi thanh toán lãi
(cố định hoặc thả nổi) bằng một đồng tiền sang thanh toán lãi (cố định hoặc thả
nổi) bằng một đồng tiền khác. Số tiền gốc trong giao dịch có thể được hoán đổi
vào kỳ đầu (nếu có) và kỳ cuối, hoặc nhiều kỳ trong thời gian hiệu lực của giao
dịch
- Ngân hàng Ngoại thương thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất kèm theo
điều kiện quyền chọn với các đối tác là tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt
Nam và các pháp nhân khác hoạt động ở trong nước và nước ngoài, phù hợp
với các qui định của pháp luật. Quyền chọn thuộc về Ngân hàng Ngoại Thương
là quyền kết thúc trước hạn hợp đồng Swap đối với các khoản vay của Bộ tài
chính.
- Ngân hàng HSBC thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất cộng dồn - Daily
range accrual, thời hạn của hợp đồng tối đa 5 năm. Theo thoả thuận hoán đổi
này, khách hàng vay của HSBC sẽ trả Sibor cộng với phần chênh lệch và tổng
lãi suất phải trả này không vượt quá mức lãi suất cao nhất đã được định trước.
Đổi lại HSBC sẽ trả Sibor cộng với phần chênh lệch cho những ngày lãi suất
Sibor giao động trong một khoảng được định trước. Cụ thể, hợp đồng này thoả
thuận giữa khách hàng vay vốn với thời hạn 6 năm lãi suất thả nổi. Nếu đến
ngày đáo hạn lãi suất Sibor không vượt quá mức lãi suất xác định trước
(4,5%/năm ) thì HSBC sẽ trả lãi suất cho khách hàng với mức lãi suất (Sibor +
1,1% ). Trường hợp vượt mức lãi suất định trước, thì HSBC không phải trả
mức lãi suất này. Đổi lại, khách hàng sẽ trả cho HSBC mức lãi suất (Sibor +
0,6%), nhưng tối đa không vượt quá 5,1%/ năm; thực hiện giao dịch hoán đổi
lãi suất giữa 2 đồng tiền
- Thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ (Option - ngoại tệ/ VND) : Đã
cho phép thực hiện thí điểm Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế, Ngân
hàng Ngoại thương (8/2005); Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu, Ngân

hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ
thương, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (12/2005).
- Ngân hàng Calyon, Citibank, ABN-AMRO thực hiện nghiệp vụ hoán đổi
lãi suất bắt đầu thực hiện trong tương lai (Forward Start Swap) là thoả thuận để
tham gia giao dịch hoán đổi lãi suất vào một ngày cụ thể trong tương lai theo
một mức lãi suất đã được định trước.
- Cho phép Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương (Teckcombank)
thực hiện giao dịch hợp đồng tương lai trên thị trường hàng hoá từ tháng
9/2004, Vinasin thực hiện giao dịch hoán đổi ngoại tệ.../.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
******
1. Thị trường chứng khoán, GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền- PGS.TS Nguyễn
Đăng Dờn- TS. Bùi Kim Yến- TS Thân Thị Thu Thủy- TS Vũ Thị Minh
Hằng, NXB Thống Kê, 2006.
2. Các báo và tạp chí Đầu tư chứng khoán, Phát triển kinh tế, Bản tin thị
trường chứng khoán.
3. Các website của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Trung tâm lưu ký chứng
khoán, Sở Giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, Trung tâm giao dịch
chứng khoán Hà Nội, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và các
website chuyên về thị trường chứng khoán khác.
4. Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng
khoán, Trung tâm nghiên cứu và bồi dưỡng nghiệp vụ chứng khoán thuộc
Ủy ban chứng khoán Nhà nước, NXB Chính trị Quốc gia, 2002.
5. Điều tiết sự di chuyển của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ở một số
nước đang phát triển, TS Nguyễn Hồng Sơn, NXB Chính trị Quốc gia,
2005.
6. Kinh tế Việt Nam trên đường hội nhập- Quản lý hóa trình tự do tài chính,
PGS.TS Trần Ngọc Thơ, NXB Thống Kê, 2005.