Tải bản đầy đủ
PHỤ LỤC: TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

PHỤ LỤC: TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

Tải bản đầy đủ

Quá trình chuẩn bị 8 năm với việc vài lần trì hoãn mở cửa thị trưởng chứng khoán do
có sự thiếu tin tưởng ở thành công của hình thức hoạt động kinh doanh chứng khoán tại
thời điểm thị trường vốn trong nước chưa phát triển và trong bối cảnh xảy ra cuộc
khủng hoảng tiền tệ khu vực Đông Nam Á (1997-1998).
-

Thị trường chứng khoán chủ yếu giao dịch cổ phiếu của các công ty cổ phần mà
tại thời điểm đó, Việt Nam hầu như chưa có nhiều công ty cổ phần có đủ uy tín
để được niêm yết cổ phiếu trên TTCK.

-

Việt Nam chưa có đủ khung pháp lý, đội ngũ chuyên gia cũng như kinh nghiệm
quản lý thị trường chứa đựng nhiều rủi ro và cao cấp.

Tuy nhiên, vào thời điểm này, các yếu tố cần thiết cho sự hình thành thị trường chứng
khoán cũng đã tạo lập:
-

Xuất hiện nhu cầu mua bán chứng khoán, trước mắt là các chứng khoán nợ
nhằm tạo tính thanh khoản cho loại vốn này, hỗ trợ cho kế hoạch phát hành trái
phiếu chính phủ và doanh nghiệp.

-

Khung pháp lý chung cho hoạt động thị trường chứng khoán cơ bản đã có như
luật thương mại, luật ngân hàng, luật công ty…

-

Các loại hình dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động TTCK như kiểm toán, tư vấn pháp
luật, dịch vụ thanh toán cũng đã có bước phát triển nhất định.

-

Tiến trình cổ phần hóa DNNN, nơi nắm giữ tuyệt đại bộ phận vốn đầu tư đã đạt
được sự nhất trí cao và được cam kết với các tổ chức tài chính quốc tế như một
nỗ lực của Việt Nam trong định hướng hội nhập với kinh tế thế giới….

Sau khi tham khảo ý kiến rộng rãi của các chuyên gia trong nước và nước ngoài, tìm
hiểu mô hình hoạt động cũng như quá trình hình thành và phát triển của TTCK ở nhiều
quốc gia. Chính phủ đã quyết định thử nghiệm xây dựng thị trường chứng khoán Việt
Nam với qui mô và mức độ giao dịch hạn chế giúp công chúng làm quen với hình thức
đầu tư mới nhằm mmục tiêu dài hạn tạo nên sự đa dạng trong hoạt động đầu tư. Hình

2

thức đầu tiên được lựa chọn là một trung tâm giao dịch chứng khoán khiêm tốn đặt tại
thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 20 tháng 07 năm 2000 trung tâm giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh
(HOSTC) đầu tiên đã mở cửa phiên đầu tiên. Trong thời gian đầu, HOSTC chỉ hoạt
động cầm chừng với 2 công ty niêm yết là Công ty cổ phần Cơ Điện lạnh (REE) và
Công ty cổ phần Cáp vật liệu viễn thông (SAM) với tổng số vốn là 270 tỷ đồng, giá trị
giao dịch mỗi phiên chỉ tính bằng vài chục triệu đến vào trăm triệu, với 5 công ty
chứng khoán thành viên, và chỉ có 3 phiên giao dịch/tuần, mỗi phiên kéo dài 2 giờ
đồng hồ.
Đến cuối năm 2000, số tài khoản đã vượt con số 5000 và không khỏi gây bất ngờ cho
nhiều người vốn không tin vào sự thành công của TTCK của Việt Nam vào thời điểm
đó. Tuy TTCK Việt Nam chưa thu hút được sự quan tâm mạnh mẽ nhưng đã gây sự
chú ý của các tổ chức tài chính khu vực. Điều khiến các chuyên gia nước ngoài chú ý
là nhịp độ lớn mạnh của TTCK Việt Nam diễn ra trong bối cảnh ngoài nước thì các nền
kinh tế khu vực sa sút, trong nước thì giao dịch chứng khoán bị giới hạn trong ba phiên
mỗi tuần với những qui định chặt chẽ về biên độ giao động giá cổ phiếu trong một
phiên. Căn cứ vào triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam, về lâu dài, kinh tế Việt Nam
sẽ vươn tới một ttck lành mạnh và sôi động.
Tuy nhiên tình trạng giảm sút của nền kinh tế đã tác động trực tiếp đến hoạt động của
TTCK Việt Nam. Liên tiếp trong hai năm 2002 và 2003 chỉ số chứng khoán sụt giảm
mạnh: từ mức kỷ lục 571,04 điểm vào ngày 25/06/2001 điểm tụt xuống còn 183,05
điểm trong phiên giao dịch cuối năm 2002 và 138,19 điểm vào tháng 11 năm 2003.
Bên cạnh sự trì trệ của thị trường, đã có cổ phiếu phải tạm dừng giao dịch do phát hiện
có gian lận trong hoạt động của công ty niêm yết (gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng tại
công ty cổ phần đồ hộp hạ long-CAN).
Từ 03/2002. HOSTC rút ngắn thời gian thanh toán từ 4 ngày xuống còn 3 ngày, các
phiên giao dịch cũng tăng từ 3 phiên/tuần lên 5 phiên/tuần và áp dụng phương thức

3

giao dịch thỏa thuận đối với cổ phiếu. Đến 01/08/2002, UBCKNN áp dụng biên độ
giao dịch giá cổ phiếu từ 2% lên 3% , thị trường phản ứng tích cực, giá trị giao dịch
gấp 11 lần phiên trước.
Mặc dù hoạt động kinh doanh chứng khoán đã sôi động trở lại, nhưng đến cuối năm
2004, chỉ mới có 26 công ty tham gia niêm yết với tổng giá trị giao dịch trên 132 triệu
USD, chiếm tỷ trọng 0,4% GDP, trong khi mục tiêu đặt ra đến năm 2010 thì tỷ trọng
này phải đạt 50% GDP.
Năm 2005 đánh dấu sự tham gia tích cực của nhà đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt
Nam, khiến cho giá trị giao dịch mỗi phiên tăng cao và duy trì ổn định. Theo quyết
định số 238/2005/QĐ, ngày 29 tháng 09 năm 2005, từ 01/10/2005, tổ chức, cá nhân
nước ngoài được nắm giữ tối đa từ 30% lên 49% số cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao
dịch của một công ty niêm yết, đăng ký giao dịch trên trung tâm giao dịch chứng
khoán. Tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được góp vốn, mua cổ phiếu, góp
vốn liên doanh thành lập công ty chứng khoán hoặc công ty quản lý Quỹ đầu tư chứng
khoán tối đa là 49% vốn điều lệ.
Về mặt quản lý Nhà nước, trong năm 2005, Chính phủ đã quyết định chuyển Ủy ban
chứng khoán quốc gia từ trực thuộc Chính phủ về trực thuộc Bộ tài chính . Quyết định
này nhằm thúc đẩy hoạt động chứng khoán phát triển do được sự chỉ đạo trực tiếp của
một ngành chuyên môn.
Sự phát triển ổn định của HOSTC đã tạo điều kiện phát triển kinh doanh chứng khoán
ra phía Bắc. Quyết định đưa Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà nội (HASTC) vào
hoạt động cuối năm 2004 nhằm xây dựng trung tâm này thành một định chế tài chính
đặc biệt theo hướng thị trường phi tập trung có chức năng tổ chức các hoạt động giao
dịch chứng khoán. Ngày 08 tháng 03 năm 2005, HASTC đã được khai trương với việc
đấu giá thành công cổ phiếu lần đầu của nhà Máy Thiết Bị Bưu Điện (postef). Sau đó,
HASTC nhanh chóng trở thành sân chơi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh
nghiệp trên đường tăng vốn chuẩn bị cho giai đoạn cổ phần hóa.

4

Ngày 8/8/2007, đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ và quan trọng của chứng khoán
TP.HCM nói riêng và chứng khoán Việt Nam nói chung. Đó là sự kiện chuyển Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM thành Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM, với
tên giao dịch quốc tế: Hochiminh Stock Exchange (HOSE).
Tổng kết sau 8 năm hoạt động , TTCK Việt Nam đã tự khẳng định là một kênh quan
trọng trong thị trường vốn.
-Về số lượng doanh nghiệp niêm yết, trên cả hai sàn, hiện có 250 công ty niêm yết và
chứng chỉ quỹ (sàn TP. HCM 138, sàn Hà Nội 112). Mặc dù tăng khá so với thời điểm
khi mới hoạt động cũng như một số thời điểm trước đây (cuối năm 2006 có 193, cuối
năm 2005 có 41), nhưng nếu so với số lượng công ty cổ phần hiện hữu ở Việt Nam thì
chiếm chưa được 2%.
-Về số lượng công ty chứng khoán, hiện có là 74 công ty, cao hơn số 55 trong năm
2006 và 14 trong năm 2005. Số công ty quản lý quỹ hiện có là 24, tăng so với 18 của
năm 2006 và 6 của năm 2005. Tổng khối lượng cổ phiếu niêm yết đạt trên 5,5 tỷ cổ
phiếu, cao gấp hơn 2 lần cuối năm 2006 và gấp 15 lần năm 2005.
- Về vốn hóa thị trường chứng khoán, tổng giá trị vốn hóa thị trường đạt khoảng
492.000 tỷ đồng (sàn TP. HCM 364.000 tỷ đồng, sàn Hà Nội 128.000 tỷ đồng). So với
GDP tính theo giá hiện hành năm 2007 (ước đạt 1.144.000 tỷ đồng), thì tổng giá trị vốn
hóa TTCK Việt Nam đạt 43%, cao hơn rất nhiều so với các mốc thời gian trước đây;
thuộc loại khá cao đối với một số nước mà TTCK mới ra đời cách đây 5 - 7 năm; gần
đạt mục tiêu đề ra cho đến năm 2010. Tuy nhiên, nếu tính bằng USD theo tỷ giá hối
đoái, thì tổng giá trị vốn hóa thị trường của Việt Nam mới đạt khoảng 30,7 tỷ USD,
còn thấp xa so với quy mô của các thị trường trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới.
Công ty niêm yết có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất Việt Nam cho đến nay là Ngân
hàng TMCP Á Châu (ACB) đạt 41.417 tỷ đồng tương đương 2,7 tỷ USD, và số công ty
niêm yết đạt từ 1 tỷ USD trở lên hiện mới có 10 công ty.

5

Số nhà đầu tư trên TTCK chính thức hiện có trên 307.000 tài khoản (Trong đó Nhà
ĐTNN có 535 tổ chức và 8598 cá nhân đăng ký mở tài khoản thông qua Trung tâm lưu
ký), mặc dù tăng nhanh so với các thời điểm trước đây, nhưng so với dân số thì chiếm
chưa đến 0,4%, thấp xa so với nhiều nước trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới
(Trung Quốc là 7%). Đáng lưu ý, trong tổng số nhà đầu tư, nếu như ở các nước, nhà
đầu tư tổ chức chiếm khoảng 70%, còn nhà đầu tư cá nhân chỉ chiếm khoảng 30%, thì
trên TTCK Việt Nam các con số trên đã ngược lại: số nhà đầu tư cá nhân chiếm 70%,
các nhà đầu tư tổ chức chỉ chiếm 30%. Chính tỷ trọng đảo ngược này cộng với nguồn
vốn còn phụ thuộc lớn từ nguồn vay ngân hàng của các nhà đầu tư cá nhân nên tính đầu
tư theo phong trào khá cao; khi giá chứng khoán xuống thường ào ào bán ra, khi giá lên
lại đẩy mạnh mua vào, vừa làm cho thị trường dễ biến động mạnh mà hậu quả làm cho
các nhà đầu tư nhỏ lẻ dễ bị thua lỗ nặng.

- Về chỉ số chứng khoán, Trên sàn TP.HCM, chỉ số VN-Index đã lập kỷ lục 1.170,67
điểm vào ngày 12/03/2007. Đây cũng là đỉnh điểm của sự thăng hoa toàn thị trường
nhiều tháng trước đó và cũng là điểm bắt đầu của một chu kỳ điều chỉnh khá dài sau
đó. Trên sàn Hà Nội, chỉ số HASTC-Index đạt kỷ lục 454,81 điểm vào ngày
09/03/2007, nhưng cũng như VN-Index, HASTC-Index bắt đầu sụt giảm từ nửa cuối
tháng 3 cho đến hết năm 2007.

6

- Về giá cổ phiếu, tính đến thời điểm này, mức giá 847.000 đồng/cổ phiếu mà cổ phiếu
BMC của Công ty Cổ phần Khoáng sản Bình Định xác lập vào ngày 21/05/2007 vẫn là
một mức giá thách thức khó đánh đổ .
- Về kỷ lục số lượng nhà đầu tư tham gia một cuộc đấu giá cổ phần, con số cao chưa
từng có trong lịch sử thuộc về cuộc đấu giá cổ phần Bảo Việt với 20.368 nhà đầu tư
đăng ký, vượt trội so với con số 9473 nhà đầu tư mà Ngân hàng Ngoại Thương Việt
Nam (VCB) từng thu hút được trong cuộc đấu giá cổ phần lần đầu. Tuy nhiên sự kiện
IPO Vietcombank, được đánh giá là được nhiều nhà đầu tư quan tâm nhất, có ảnh
hướng lớn nhất đến TTCK nước ta. Và vì thế sự kiện này cũng được coi là tốn nhiều
giấy mực nhất của giới truyền thông trong lĩnh vực chứng khoán…
Tuy nhiên Thị trường chứng khoán trong thời gian gần đây cũng chứng kiến những
diễn biến rất bất ngờ. Sự sụt giảm của thị trường đang gây ra tâm lý hoang mang trong
giới đầu tư. Các biện pháp kiềm chế lạm phát, siết chặt tiền tệ của chính phủ cũng gây
ảnh hưởng tâm lý không nhỏ. Tuy có những tín hiệu lạc quan từ Bộ tài chính và Ngân
hàng Nhà nước về hỗ trợ sự phát triển của thị trường chứng khoán nhưng thị trường
vẫn liên tục sụt giảm. Chỉ số VN-index trên sàn thành phố Hồ Chí Minh xuống mức

7

thấp kỷ lục 366,02 điểm ngày 20/06/2008, trong khi đó chỉ số HASTC trên sàn Hà Nội
giảm mạnh còn 109,9 điểm vào ngày 25/06/2008.
Tính đến ngày 30/6/2008 vốn hoá của thị trường chỉ còn hơn 188.000 tỷ dồng. So với
mức 364.000 tỷ đồng hồi cuối năm 2007 thì giá trị thị trường của cổ phiếu hiện nay đã
giảm gần 50%. Trong nửa đầu năm 2008, thị trường đã có 3 lần điều chỉnh biên độ: lần
đầu giảm từ mức 5%-10% xuống mức 1%-2% tương ứng đối với sàn HOSE, sàn
HASTC từ ngày 28/3 nhằm hạn chế đà giảm giá của cổ phiếu, và lần thứ 2 là tăng biên
độ hai sàn lên 2%;3% từ ngày 7/4 và lần 3 tiếp tục tăng lên 3%;4% vào ngày 19/6
nhằm tăng khả năng thanh khoản cho thị trường.
Tuy nhiên, sau lần tăng biên độ thứ 3 thì thị trường đã dần phục hồi trở lại do các yếu
tố kinh tế vĩ mô đang dần được cải thiện, đặc biện là chỉ số lạm phát tháng 6 được
Chính phủ báo cáo là đã giảm xuống còn 2,14%, mức tăng thấp nhất trong 1 tháng kể
từ đầu năm. Đây là tiền đề cho việc hi vọng các chính sách kiếm soát lạm phát của
Chính phủ sẽ thành công, tạo điều kiện để nới lỏng tiền tệ, trong đó có việc giảm lãi
suất, khơi thông lại nguồn vốn vào kênh chứng khoán và đưa thị trường hồi phục.

8

CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH Ở VIỆT NAM
TẠI SAO CHƯA CÓ?
Nhắc đến chứng khoán, mọi người thường chỉ nghĩ đến cổ phiếu, trái phiếu
như những công cụ đầu tư hiệu quả, trong khi thị trường chứng khoán còn rất
bao la, mà cổ phiếu, trái phiếu chỉ là một vài trong số đó. Còn vô số những
khái niệm và công cụ đầu tư khác phải kể đến, mà chứng khoán phái sinh
chính là yếu tố quan trọng đầu tiên không thể bỏ qua.

1. Khái niệm về chứng khoán phái sinh.
Trong thế giới tài chính thực hành ngày nay “phái sinh chứng khoán” hay
cũng còn gọi là "chứng khoán phái sinh" được hiểu là các hợp đồng tài chính
mà giá trị của hợp đồng được sinh ra từ các công cụ tài chính của thị trường có
thể giao dịch tiền mặt.
Theo định nghĩa của Ingersoll, tác giả cuốn sách rất quan trọng về lý thuyết
quyết định tài chính Theory of Financial Decision Making (1987), Rosman and
Littlefield: “Một hợp đồng tài chính được gọi là một chứng khoán phái sinh
(derivative security), hoặc một tài sản tài chính có giá trị phụ thuộc (contingent
claim), nếu giá trị của hợp đồng tài chính đó tại thời điểm đáo hạn T có thể
được xác định hoàn toàn bởi giá trị thị trường (thị giá) của công cụ tiền mặt
(hay tài sản cơ bản)”.
Chứng khoán phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở các
loại chứng khoán đã có như cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số nhằm mục đích giảm
thiểu rủi ro, bảo toàn vốn đầu tư và thu lợi nhuận.
Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các các
đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ
phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ
được duy trì ở mức ban đầu.
Thị trường chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại
các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền
chọn.

2. Phân loại chứng khoán phái sinh:
Có 4 loại chứng khoán phái sinh cơ bản như sau:
i) Hợp đồng tương lai (Future) : Là một thỏa thuận được thiết lập để mua và
bán một chứng khoán trên thị trường giao dịch, với một mức giá và thời gian đã
xác định.
Futures được giao dịch tại các sở giao dịch quy củ, định hình, tập trung và
có quy chế rõ ràng. Sở giao dịch thậm chí còn soạn sẵn các hợp đồng có quy
cách tiêu chuẩn và đặt một số kỳ hạn cho ngày đáo hạn rất cụ thể.
Các giao dịch futures được thanh toán bù trừ thông qua các trung tâm bù
trừ được ủy quyền. Sở giao dịch sẽ thiết kế một cơ chế bù trừ rất tinh tế-phức
tạp để tối thiểu hóa mức độ rủi ro mất khả năng thanh toán.
Các hợp đồng futures được quyết toán theo thị giá cuối ngày. Mỗi ngày hợp
đồng đều được khớp sổ quyết toán và cùng lúc đó một hợp đồng mới được phát
hành vẫn theo các điều khoản ban đầu. Bất kỳ khoản lỗ hay lãi nào phát sinh
trong ngày đều được ghi vào tài khoản của người nắm giữ hợp đồng.
ii) Hợp đồng kỳ hạn (Forward) : Một hợp đồng forward là một thỏa thuận
nghĩa vụ mua (hay bán) một tài sản cơ bản ở một mức giá forward đã biết vào
một ngày đã xác định. Ngày đáo hạn và mức giá forward đều được ghi rõ từ
đầu ngay khi hợp đồng forward được nhất trí. Hợp đồng forward được giao
dịch trên thị trường OTC, thực hiện giao dịch vào ngày đáo hạn và có rủi ro tín
dụng.
Nếu một hợp đồng mua forward được ký, người nắm giữ hợp đồng được gọi
là ở vị thế mua (long position) đối với tài sản cơ bản. Nếu như tại thời điểm đáo
hạn, giá trị tài sản cơ bản cao hơn giá forward, vị thế mua đó tạo ra lợi nhuận
cho người nắm hợp đồng. Ngược lại thì lỗ.
iii) Quyền chọn (Option) : Là loại chứng từ mà nhà đầu tư mua như một bảo
dảm nhưng không bắt buộc phải thực hiện giao dịch. Khi muốn mua (bán) một
lượng chứng khoán theo một mức giá ấn định tại một thời điểm xác định ở
tương lai, nhà đầu tư sẽ trả một khoản tiền (như tiền cược) để mua quyền chọn
(kỳ vọng giá tăng - mua quyền chọn mua; kỳ vọng giá giảm - mua quyền chọn
bán). Đến hạn, nhà đầu tư thực hiện giao dịch để kiếm chênh lệch từ biến động
giá. Nếu không thực hiện, nhà đầu tư sẽ mất tiền đặt cọc đó.