Tải bản đầy đủ
CH ƯƠNG III:GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TÍNH HỮU DỤNG CỦA THÔNG TIN ÀICHÍNH VÀ CÔNG BỐ BÁO CÁO THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRONG MỐILIÊN HỆ VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

CH ƯƠNG III:GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TÍNH HỮU DỤNG CỦA THÔNG TIN ÀICHÍNH VÀ CÔNG BỐ BÁO CÁO THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRONG MỐILIÊN HỆ VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Tải bản đầy đủ

bản trở nên không thuận lợi, giá cổ phiếu hạ xuống một cách khoa học phù hợp với
các thay đổi về thu nhập và cổ tức.
Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng giá cổ phiếu là giá trị hiện tại
của tất cả các ước tính cổ tức trong tương lai (mô hình định giá cổ phiếu – chiết
khấu dòng cổ tức (DDM); định giá dựa trên sự tăng trưởng cổ tức (Gordon)). Tuy
nhiên, cũng có thể thấy rằng cổ tức chỉ có thể trích ra từ nguồn thu nhập mà thu
nhập sẽ làm thay đổi cố tức và dẫn tới thay đổi giá cổ phiếu một cách phù hợp. Mọi
điều kiện phản ánh thay đổi về thu nhập của một công ty cụ thể, của một ngành
hoặc của cả nền kinh tế đều ảnh hưởng tới giá cổ phiếu, mà những điều này lại
thường diễn ra trước khi có những thay đổi thực sự về thu nhập và cổ tức.
Quan điểm này đánh giá cổ tức là một nhân tố quan trọng, nhưng chỉ đứng
hàng thứ hai (đứng sau thu nhập) và sẽ thay đổi khi thu nhập thay đổi. Biến động
giá thường diễn ra trước khi có những thay đổi về hoạt động kinh doanh và khả
năng thu nhập.
3.1.2. Quan điểm định tính
Ngược lại quan điểm trên, về mặt định tính thì nhiều quan điểm cho rằng
nguyên nhân cơ bản của sự biến động giá cổ phiếu là việc tăng hay giảm niềm tin
của các nhà đầu tư vào tương lai của giá cổ phiếu, thu nhập và cổ tức. Quan điểm
này cũng là sự biến tướng quan điểm trên, tức là giá cổ phiếu phụ thuộc vào thu
nhập, điểm khác biệt cơ bản ở chỗ là quan điểm này giải thích sự biến động giá cổ
phiếu trên cơ sở tâm lý thị trường chứ không phải theo các nhân tố cơ bản thể hiện
qua số liệu thống kê. Thị trường sẽ không phản ứng lại các số liệu thống kê và kinh
tế ở mức độ chính xác cao. Thị trường nhiều khi thường có thái độ “bàng quan”
đáng kể đối với các thông tin tốt và xấu. Theo các nghiên cứu trước đây ở một số thị
trường phát triển thì các thước đo giá cổ phiếu như hệ số P/E và tỷ suất lợi nhuận
liên tục thay đổi, có lúc rất cao, có lúc rất thấp nhưng hiếm khi không thay đổi. Cuối
cùng, về mặt định tính có thể nói “thị trường có thể làm bất kỳ điều gì”. Nếu một số
lượng đáng kể nhà đầu tư lạc quan về các điều kiện cơ bản hoặc triển vọng của một
công ty nào đó, họ sẽ mua cổ phiếu. Nếu họ trở nên quá lạc quan, họ sẽ mua cổ
68

phiếu cho tới khi giá cổ phiếu vượt quá mức đảm bảo, được đo bằng mặt bằng
thông thường của giá cổ phiếu, thu nhập và cố tức. Ngược lại, khi nhà đầu tư trở
nên quá bi quan họ sẽ bán cổ phiếu mà không tính tới các điều kiện cơ bản và chủ
yếu. Nếu nhà đầu tư quá bi quan, họ sẽ mang cổ phiếu ra bán trên thị trường cho
đến khi giá cổ phiếu giảm xuống mức không tưởng theo các thước đo thông thường.
Lúc này người mua và người bán cổ phiếu là những người theo chủ nghĩa cựa đoan
có trạng thái tinh thần thay đổi từ quá lạc quan sang quá bi quan. Điều này giải thích
hiện tượng xuống giá của thị trường trong tình huống nền kinh tế đang phát triển
mạnh. Nó cũng giải thích sự xuống giá của thị trường khi xuất hiện những yếu tố
không thuận lợi của nền kinh tế. Đồng thời cũng giải thích sự xuống giá của cổ
phiếu trong những thời kỳ thu nhập tăng hoặc ngược lại.
Có thể minh họa cho quan điểm trên bằng ví dụ về sự xuống giá của thị
trường chứng khoán Mỹ vào năm 1946. Vào thời điểm đó, các điều kiện cơ bản
đang rất thuận lợi, tổng sản phẩm quốc dân (GNP) tăng, việc kiểm soát giá được thả
lỏng, giá cả bán buôn lẫn bán lẻ đều tăng. Cổ tức và thu nhập công ty được cải
thiện. Khi đó, công chúng đầu tư lại trở nên bi quan. Điều này được giải thích do sự
suy thoái của thời kỳ hậu chiến như đã xảy ra nhiều lần trước đó. Cổ phiếu được
mang ra bán và thị trường bị sụt giá nghiêm trọng vào tháng 8 và tháng 9 năm 1947.
Năm 1947 được xem như là “năm suy thoái nhất trong lịch sử”. Các điều kiện kinh
tế tiếp tục được cải thiện suốt đến cuối năm 1948 nhưng cho đến năm 1950, giá cổ
phiếu mới phục hồi được mức như đầu năm 1946.
Một ví dụ khác minh chứng cho sự tăng giá không theo quy luật cũng tại thị
trường Mỹ vào năm 1985 – 1986. Trong 2 năm này, sự cạnh tranh khắc nghiệt; lãi
suất cho dù có thấp hơn mức lãi suất rất cao trong những năm trước nhưng vẫn
được xếp vào loại lãi suất cao trong lịch sử; đồng USD mạnh, gây ra sự thâm hụt
trong cán cân thương mại; mức thâm hụt của ngân sách nước Mỹ ngày càng trở nên
trầm trọng; giá hàng hóa hạ và hoạt động kinh doanh của các công ty tăng trưởng
không đáng kể. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán vẫn hoạt động sôi nổi: tổng khối
lượng giao dịch khổng lồ, giá cổ phiếu tăng mạnh. Đền năm 1991, tình hình kinh tế
69

nước Mỹ vẫn tiếp tục suy giảm, nhiều công ty bị lỗ, nhiều công ty khác tìm kiếm sự
bảo vệ của pháp luật để tránh bị phá sản, báo chí liên tục đưa tin về thực trạng kinh
doanh giảm sút của các công ty niêm yết nhưng giá cổ phiếu trên thị trường lại bước
vào thời kỳ tăng trưởng mới.
Tuy nhiên tính minh bạch của các thông tin tài chính và các dữ liệu thống kê
vẫn đem lại cho quan điểm mang tính định lượng về sự thay đổi của giá cổ phiếu có
tính hiện thực và có vai trò nhất định trong các quyết định đầu tư.
3.1.3. Quan điểm dựa trên sự phát triển, thay đổi và hội nhập của TTCK VN
Có thể nói so với các TTCK mới nổi thì TTCK Việt Nam là một thị trường
có quá nhiều biến động. Mặc dù đã trải qua hơn 6 năm hoạt động nhưng vẫn chưa
có tính ổn định. Sự biến động bất thường của nó cũng bởi nhiều lý do. Trong những
giai đoạn đầu khi thị trường chứng khoán Việt Nam mới đi vào hoạt động động cho
đến 5 năm tiếp theo, thị trường tương đối trầm lắng mặc dù có những biến động
nhất định trong năm đầu tiên bởi số lượng công ty niêm yết còn ít, những công ty
niêm yết chưa phải là những công ty được công chúng quan tâm và nhiều lý do
khác. Tuy nhiên trong hơn 1 năm trở lại đây, với sự phát triển của nền kinh tế Việt
Nam, sự xuất hiện của các nhà đầu tư nước ngoài, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO,
tổ chức thành công hội nghị APEC… thì thị trường trở nên quá sôi động. Tuy nhiên
để có thể phát triển và hội nhập thì rất cần tính ổn định của thị trường. Có nhiều
phát biểu cho rằng “Thị trường chứng khoán Việt Nam không giống ai”, và nhiều
lắm những nhận định như thế từ các chuyên gia để thấy sự bất ổn của thị trường
chứng khoán Việt Nam. Việc dựa vào thông tin bất kỳ để thực hiện lệnh bán hay
mua cổ phiếu của các nhà đầu tư là việc hết sức bình thường diễn ra trong hoạt động
của thị trường chứng khoán. Thế nhưng tâm lý và quyết định mua bán của các nhà
đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang tiềm ẩn những rủi ro
khó lường khi cùng một loại cổ phiếu, phiên trước có thể tăng kịch trần, phiên sau
lại giảm kịch sàn rồi sau đó lại kịch trần không phải do nguyên nhân nội tại công ty
mà do phong trào “lao vào mua rồi tranh nhau bán”. Có thể nói, tại thị trường chứng
khoán Việt Nam, vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ các nhà đầu tư, đặc biệt các
70

nhà đầu tư cá nhân vốn ít, thiếu kiến thức, thời gian và thông tin về thị trường đang
thực hiện chiến lược mua bán theo những biến động giá ngắn hạn, chưa kịp trang bị
kiến thức và thông tin cần thiết về công ty và cổ phiếu mình muốn giao dịch.
Tuy nhiên, những biến động trong ngắn hạn thực tế rất khó lường nên khả
năng phòng tránh rủi ro của những đối tượng đề cao tiêu chí lợi nhuận này là rất
thấp. Nếu như thời điểm “nổi lửa nóng bỏng” cuối tháng 3/2006, tại mức VN_Index
500 điểm và mặt bằng giá cao hơn hiện tại, giới quan sát chứng kiến công chúng
đầu tư đổ xô đi mua cổ phiếu, đẩy thị giá tăng chóng mặt. Thế nhưng tại mặt bằng
mức giá còn thấp hơn như hiện nay và khi các công ty niêm yết có thêm lợi nhuận
tích luỹ sau 1 quý tăng trưởng nữa thì người ta lại đẩy cổ phiếu ra bán không
thương tiếc. Có thể thấy, đối với nhóm đối tượng này, thị giá cổ phiếu quyết định
bởi tình hình hoạt động của doanh nghiệp không quan trọng bằng việc thị giá bị tác
động của xu hướng thị trường lên xuống trong ngắn hạn.
Trong khi đó, nhóm đối tượng đầu tư trung và dài hạn như các quỹ đầu tư
nước ngoài (ĐTNN), các công ty chứng khoán và các tổ chức khác thường hành
động ngược lại để giảm thiểu những tác động của xu hướng ngắn hạn. Khi các công
ty trên sàn có mức tăng trưởng tốt hơn cùng kỳ năm ngoái mà giá cổ phiếu lại đi
xuống trong ngắn hạn thì chắc chắn sẽ xuất hiện xu hướng chuyển dịch cổ phiếu từ
các nhà đầu tư ngắn hạn sang nhà đầu tư trung và dài hạn. Những nhà đầu tư dài
hạn có tầm nhìn xa hơn, họ sẽ tận dụng việc mua cổ phiếu tăng trưởng tốt tại các
mức giá phù hợp để có thể tận dụng cơ hội tăng giá trong tương lai. Các đối tượng
là các nhà ĐTNN, chiếm tỷ trọng áp đảo là các quỹ và tổ chức đầu tư dài hạn để tận
dụng xu thế đi lên trong dài hạn, thời gian qua chủ yếu thường mua vào chứ không
bán ra.
Qua những nhận xét trên có thể thấy, để có thể phát triển, thay đổi và hội
nhập với xu hướng phát triển của nền kinh tế thì thị trường chứng khoán Việt Nam
cần lắm sự phát triển nhưng ổn định. Đó mới là sự cần thiết để có một thị trường
phát triển bền vững.
3.2. Giải pháp thông tin tài chính được trình bày và công bố
71

3.2.1. Chuẩn hóa và nâng cao chất lượng công bố thông tin (CBTT) từ tổ chức
phát hành, tổ chức niêm yết
3.2.1.1. Đối với cơ quan quản lý
Có thể nói trong suốt thời gian qua về xét về mặt quản lý, BTC, UBCKNN
và TTGDCK TP.HCM đã có những quy định và chính sách phù hợp nhằm phát
triển thị trường chứng khoán nói chung và hoạt động công bố thông tin nói riêng
(Nghị định số 144/2003/NĐ-CP, thông tư số 57/2004/TT-BTC). Tuy nhiên, việc
thông tin tài chính công bố đã thực sự công khai?, tính chuẩn hóa trong quá trình
công bố, trình bày thông tin tài chính thì chưa đề cập nhiều khiến cho nhà đầu tư
gặp khó khăn trong việc so sánh đối chiếu khi phân tích hoặc nghiên cứu. Do đó, đề
xuất một số giải pháp sau nhằm tăng cường tính công khai và hiệu quả của việc
công bố thông tin trên thị trường sơ cấp và thứ cấp:
• UBCKNN và TTGDCK thường xuyên phối hợp nghiên cứu, bổ sung, sửa
đổi, cụ thể hóa các quy định về CBTT tài chính đặc biệt liên quan đến những vấn đề
như công bố ấn phẩm thường niên, phương tiện công bố, cách thức trình bày…
Những quy định này cần cụ thể và phù hợp để theo kịp với thực tế thị trường ngày
càng phát triển và nhằm tạo điều kiện cho các công ty niêm yết thực hiện tốt các
quy định này.
Ngoài ra, theo quy định về công bố thông tin hiện nay (Thông tư
57/2004/TT-BTC), “Báo cáo tài chính năm, Báo cáo Thường niên của tổ chức phát
hành, tổ chức niêm yết được công bố trên các ấn phẩm của tổ chức đó và lưu trữ ít
nhất 02 năm tại trụ sở chính của tổ chức để nhà đầu tư tham khảo”, quy định về
thời gian lưu trữ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên 2 năm là hơi ngắn. Nếu
nhà đầu tư muốn tìm hiểu kỹ thông tin tài chính, phân tích và nghiên cứu thì thông
tin tài chính phải lâu hơn, ít nhất là 5 năm mới thấy được xu hướng về tình hình tài
chính của công ty dự định đầu tư. Với thời gian lưu trữ 5 năm cũng không gây khó
khăn cho các tổ chức niêm yết vì theo quy định của Luật kế toán thì báo cáo tài
chính của các công ty cũng phải lưu trữ trong thời gian ít nhất là 10 năm, trong khi
đó điều này lại tạo thuận lợi hơn cho nhà đầu tư khi họ muốn tìm hiểu thông tin.
72

Một nội dung liên quan đến yêu cầu về phương tiện công bố thông tin. Hiện
nay, theo quy định về công bố thông tin thì chỉ có BCTC tóm tắt mới phải công bố
“trên 03 số báo liên tiếp của một tờ báo Trung ương hoặc một tờ báo địa phương nơi
tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết đóng trụ sở chính hoặc thông qua phương tiện
công bố thông tin của TTGDCK hoặc SGDCK”. Nhưng BCTC năm, báo cáo thường
niên thì chưa đề cập đến việc công bố trên các phương tiện thông tin mà chủ yếu chỉ đề
cập đến việc đưa vào ẩn phẩm và lưu trữ tại công ty niêm yết. Điều này cũng gây trở
ngại cho nhà đầu tư khi tham khảo các báo cáo năm.
• Hiện nay Luật chứng khoán đã ra đời (Luật số 70/2006/QH 11) và chính
thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2007, điều này đánh dấu một bước phát triển trong hoạt
động của thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, các cơ quan có liên quan
trên tinh thần Luật chứng khoán cần nhanh nhạy ban hành những thông tư hướng
dẫn kịp thời để nhà đầu tư và các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán có
cơ sở vận dụng tốt các quy định của pháp luật, tránh tình trạng như việc ban hành
luật đầu tư vừa qua (luật đã có hiệu lực thi hành nhưng chờ hoài chưa có nghị định
và thông tư hướng dẫn gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thi hành luật).
• Cần có sự thống nhất trong quy định giữa chuẩn mực kế toán nói chung
về những nội dung liên quan đến công bố tình hình tài chính (trình bày báo cáo tài
chính, những sự kiện liên quan đến tình hình tài chính…) và những thông tư hướng
dẫn việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, tránh tình trạng chuẩn mực
yêu cầu thế này, thông tư hướng dẫn về công bố thông tin lại yêu cầu khác… Cụ
thể, có sự khác biệt về mẫu biểu BCTC giữa quyết định 15/TT-BTC (kế toán doanh
nghiệp) và thông tư TT57/TT-BTC:

73

Đơn vị báo cáo:………
Mẫu số B 01a – DN
(Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC Ngày 20/03/2006)
Địa chỉ:………………
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN GIỮA NIÊN ĐỘ
Quý.... năm ...
Tại ngày... tháng... năm...
Số
Số
TÀI SẢN

Thuyết
cuối quý
đầu năm
số
minh
a - TÀI SẢN NGẮN HẠN
100
...

BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH GIỮA NIÊN ĐỘ
Quý ...năm...
Mã Thuyết
số
minh

CHỈ TIÊU

Quý.....
Năm
nay

Năm
trước

Luỹ kế từ đầu năm
đến cuối quý này
Năm
nay

Năm
trước

17. Lợi nhuận sau thuế TNDN
18. Lãi cơ bản trên cổ phiếu (*)

Tên công ty

BÁO CÁO TÀI CHÍNH TÓM TẮT
(Theo Thông tư số 57/2004/TT-BTC về việc Công bố thông tin trên TTCK)

(Quý / năm)
STT
I

STT
1
18

I. BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Nội dung
Số dư đầu kỳ
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

II-A. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Chỉ tiêu
Kỳ báo cáo

Cổ tức trên mỗi cổ phiếu

Số dư cuối kỳ

Luỹ kế

Qua 2 mẫu biểu trên, có thể thấy có sự khác biệt trong mẫu biểu của TT 57
và QĐ 15 về việc ghi nhận giữa cột số đầu kỳ/số cuối kỳ (TT57) và số cuối quý/Số
đầu năm (QĐ15). Chỉ tiêu số đầu kỳ và số đầu năm của 2 quy định trên dễ khiến
cho 2 doanh nghiệp vận dụng theo 2 quy định sẽ đưa ra kết quả báo cáo khác nhau.
Điều này vừa gây khó khăn cho công ty niêm yết khi lập và trình bày BCTC vừa
gây khó khăn cho người sử dụng khi nghiên cứu, so sánh thông tin trên các BCTC.
Hoặc theo thông tư 57 thì công ty niêm yết chỉ cần “công bố BCTC quý và 6
tháng dưới dạng tóm tắt” (chỉ cần có một số thông tin chủ yếu), trong khi đó theo
74

QĐ 15 thì “các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán phải lập báo
cáo tài chính giữa niên độ (quý, 6 tháng) dưới dạng đầy đủ” (báo cáo có đầy đủ các
chỉ tiêu như BCTC năm).
Như vậy, cùng với sự ra đời của Luật chứng khoán thì khi ban hành những
nghị định hoặc thông tư hướng dẫn, Bộ tài chính cũng như UBCKNN nên có sự đối
chiếu với chuẩn mực kế toán (hiện nay về việc lập và trình bày BCTC thì chuẩn
mực kế toán đã có quy định tương đối kỹ và rõ ràng) để có thể tạo nên sự thống
nhất trong quy định của mình. Đồng thời một số quy định liên quan đến BCTC đã
được quy định trong chuẩn mực kế toán thì không nên nhắc lại hoặc nhắc lại
“không đến nơi đến chốn” gây khó khăn, hoặc hiểu lầm cho công ty niêm yết và
người sử dụng thông tin. Có thể những quy định mà chuẩn mực kế toán đã nêu rõ
thì chỉ cần yêu cầu vận dụng theo chuẩn mực kế toán và chỉ đưa thêm những gì cần
thiết cho hoạt động công bố thông tin liên quan đến các công ty niêm yết mà chuẩn
mực kế toán chưa nhắc đến.
• Ngoài ra, trên quan điểm về sự phát triển và hội nhập ngày càng sâu của
Việt Nam vào tổ chức thương mại thế giới, các tổ chức quốc tế khác thì việc ban
hành các chuẩn mực kế toán cũng như các quy định dành cho các công ty niêm yết
nên có sự kế thừa cũng như tiếp cận những thông lệ của quốc tế để có sự vận dụng
phù hợp trong điều kiện thực tế của Việt Nam.
• UBCKNN và TTGDCK cần quản lý và triển khai các hoạt động giám sát
chặt chẽ hơn các vi phạm về chế độ CBTT trên kênh CBTT chính thức của
TTGDCK cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng khác.
• Số lượng công ty niêm yết ngày càng nhiều, quá trình kiểm soát và quản
lý thông tin càng phức tạp và khó khăn do đó cần tổ chức các buổi hội thảo, tập
huấn và chuẩn hóa biểu mẫu, quy định về công bố thông tin cho các nhân viên có
trách nhiệm CBTT của các công ty niêm yết. Ngoài ra có thể viết quy trình, thủ tục
và chế độ công bố thông tin thành cẩm nang phát hành cho các công ty niêm yết để
việc CBTT được hiệu quả hơn, đồng thời cũng giúp cho UBCKNN và TTGDCK
quản lý tốt hơn hoạt động này.
75

• Xuất phát từ quan diểm “TTGDCK là đơn vị bảo chứng chất lượng, tính
xác thực của thông tin” nên theo quy trình công bố thông tin hiện nay thì “các công
ty niêm yết phải chuyển các tài liệu, thông tin về doanh nghiệp mình đến TTGDCK
để các trung tâm công bố”. Thời gian từ lúc thông tin gửi về TTGDCK đến lúc
được công bố có lúc kéo dài đến 4-5 ngày. Với thời gian dài như vậy, những người
nắm được các thông tin này hoàn toàn có thể trục lợi nhờ biết trước thông tin so với
các nhà đầu tư khác. Quy định trên đã vô tình không đảm bảo tính kịp thời cho nhà
đầu tư khi họ tiếp cận thông tin vì phải qua khâu trung gian là TTGDCK và khi quy
mô thị trường phát triển mạnh thì sẽ khó đáp ứng được yêu cầu của thị trường.
Ngoài ra, nếu TTGDCK quản lý không tốt, sẽ tạo cơ hội cho một số cá nhân có
thông tin trước trục lợi trên thị trường. Thực tế diễn biến thị trường vừa qua có thể
thấy đã có hiện tượng trục lợi nhờ thông tin “nội gián” 4. Trong khi đó một nguyên
tắc của TTCK là các nhà đầu tư phải được công bằng trong việc nắm bắt thông tin
do UBCKNN, TTGDCK và các tổ chức niêm yết công bố ra công chúng. Do đó, để
giúp cho thị trường hoạt động ổn định, thông tin công bố công khai, có chất lượng
thì có thể kết hợp giữa hình thức CBTT gián tiếp như hiện nay kết hợp với CBTT
trực tiếp. Cụ thể, cần phân biệt và quy định rõ những thông tin thuộc dạng nhạy cảm
thì phải chuyển về TTGDCK xử lý trước khi công bố (CBTT gián tiếp). Còn những
thông tin chi tiết, mang tính định kỳ như: báo cáo tài chính, báo cáo tình hình sản
xuất kinh doanh định kỳ… hoặc những thông tin mà đa phần các công ty niêm yết
đã thực hiện tốt thì nên để các công ty niêm yết công bố trực tiếp (CBTT trực tiếp)
cho nhà đầu tư, các phương tiện truyền thông, công ty chứng khoán. Dĩ nhiên tất cả
những thông tin công bố trực tiếp đó phải do người có vị trí cao nhất của công ty
niêm yết cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về độ tin cậy và tính trung thực
của thông tin… Thêm vào đó, TTGDCK phải có cơ chế giám sát chặt chẽ, các biện
pháp chế tài rõ ràng và nghiêm túc để tránh tình trạng thông tin bất đối xứng hoặc
rò rỉ thông tin trước khi công bố.
Quy trình công bố thông tin có thể thực hiện như sau:
4

Câu nói dựa trên tựa đề bài viết trên báo Tuổi Trẻ ngày 191/2007.

76

CÔNG TY 
NIÊM YẾT 

THÔNG TIN
GIÁN TIẾP

THÔNG TIN
TRỰC TIẾP

TRUNG TÂM GIAO 
DỊCH CHỨNG 
KHOÁN 

HỆ THỐNG
TRUYỀN
THÔNG

BÁO CHÍ

CƠ QUAN GIÁM 
SÁT THỊ TRƯỜNG

BẢN TIN
CHÍNH THỨC
CỦA TTGDCK

CÔNG TY
CHỨNG
KHOÁN

PHÒNG TUYÊN
TRUYỀN
THÔNG TIN
TTGDCK

NHÀ ĐẦU TƯ
3.2.1.2

Đối với các tổ chức niêm yết
Kể từ lúc TTCK Việt Nam đi vào hoạt động đến nay, có thể thấy có 2 sự

kiện xấu ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và tâm lý nhà đầu tư nhất là sự kiện BBC công
bố tình hình tài chính không rõ ràng, 4 lần trì hoãn việc công bố thông tin trên thị
trường (xảy ra khoảng tháng 10/2002 – năm thứ 3) và CAN không công bố thông
tin việc “lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT xảy ra tại công ty”dẫn đến cổ
phiếu của CAN bị ngưng giao dịch (xảy ra cũng khoảng tháng 10/2002). Đây là
năm mà giá cổ phiếu của cả 2 công ty trên sụt giảm thê thảm, kéo theo sự sụt giảm
mạnh nhất giá cổ phiếu trên toàn thị trường (VN_Index giảm mạnh). Lòng tin của
nhà đầu tư vốn đã suy giảm càng sụt giảm nặng nề dẫn đến tác động “lây lan” đến

77

toàn thị trường. Hậu quả của những sự việc trên là một bài học đắc giá về sự thiếu
trung thực, không xây dựng tốt quy trình công bố thông tin cũng như công tác kế
toán tài chính của mình mà các công ty niêm yết khác cần đặc biệt lưu tâm để
không mắc phải. Việc cung cấp cho nhà đầu tư thông tin tốt nhất, trung thực nhất,
đầy đủ nhất không chỉ xuất phát từ quyền lợi của nhà đầu tư mà còn là cách thức
công ty niêm yết bảo vệ quyền lợi của chính mình. Ngoài ra, qua kết quả khảo sát
về mục đích đầu tư vào cổ phiếu của nhà đầu tư và sự quan tâm của họ đối với
BCTC 5 thì kết quả cho thấy có tới 65% ý kiến của nhà đầu tư cho rằng động cơ đầu
tư “dài hạn, mong chờ sự tăng trưởng giá trị gia tăng” của công ty được họ đầu tư
và 97% cho rằng có quan tâm đến các báo cáo tài chính của các công ty khi ra quyết
định. Điều này cho thấy tầm quan trọng của BCTC mặc dù một số nhận định hiện
nay cho rằng nhà đầu tư Việt Nam đầu tư theo phong trào nhưng kết quả trên khiến
các công ty niêm yết phải suy nghĩ khi cung cấp thông tin BCTC.

Phụ lục 12: Bảng câu hỏi và kết quả khảo sát về “Ảnh hưởng thông tin tài
chính đến quyết định đầu tư vào các công ty niêm yết” tại TTGDCK TP.HCM
Kết hợp những phân tích trên và các ý kiến thu thập được qua cuộc khảo sát
đã được mô tả ở phần trên xin đề xuất dưới đây một số giải pháp để quá trình quản
5

Cuộc khảo sát được thực hiện dựa trên bảng hỏi phát ra và kết quả thu về 150 phiếu trả lời, cuộc khảo sát
được thực hiện vào đầu tháng 12/2006, tại buổi hội thảo “Nhà đầu tư và công ty niêm yết – Đối thoại để cùng
phát triển” do câu lạc bộ các công ty niêm yết và TTGDCK TP.HCM phối hợp tổ chức. Mặc dù số lượng nhà
đầu tư trả lời câu hỏi còn thấp nhưng đây là những nhà đầu tư có số tiền tham gia đầu tư tương đối lớn – 70%
nhà đầu tư có số vốn tham gia > 100 triệu đồng.

78