Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THÔNG TIN TÀI CHÍNH VÀ CÔNG BỐTHÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠITRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP. HCM

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THÔNG TIN TÀI CHÍNH VÀ CÔNG BỐTHÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠITRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP. HCM

Tải bản đầy đủ

nghiệp, sau khi điều chỉnh cho phù hợp với nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì quy
mô các doanh nghiệp niêm yết như sau:


Nhóm 1 - nhóm công ty có quy mô lớn (Vốn điều lệ >=100 tỷ đồng),

chỉ có 10 công ty (chiếm 23% số công ty) nhưng có tổng số vốn đăng ký trên 6.400
tỷ đồng, chiếm tới trên 84% quy mô vốn toàn thị trường


Nhóm 2 – nhóm công ty có quy mô vừa (Vốn điều lệ >= 20 tỷ đồng)

có tới 23 công ty (chiếm trên 50% số công ty) nhưng tổng vốn đăng ký trên 1.000 tỷ
đồng, chiếm gần 14% quy mô vốn toàn thị trường.


Nhóm 3 – nhóm công ty có quy mô nhỏ (Vốn điều lệ < 20 tỷ đồng)

gồm 11 công ty nhưng vốn đăng ký chỉ có hơn 167 tỷ, chỉ chiếm 2,2% quy mô vốn
toàn thị trường.
Phụ lục 6: Danh sách các công ty niêm yết theo quy mô vốn
2.2. Thực trạng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết hiện nay
Nội dung trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết rất quan
trọng. Nó truyền đạt thông tin giúp người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được tình
hình hoạt động của công ty, từ đó giúp nhà đầu tư tham khảo để định hướng cho
việc đầu tư chứng khoán. Việc lập và trình bày báo cáo tài chính đã được quy định
và ban hành theo Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 và sửa đổi, bổ
sung theo các thông tư sau: thông tư 89/2002/TT-BTC, thông tư 105/2003/TT-BTC
và VAS 21 kèm hướng dẫn ở thông tư số 23/2005/TT-BTC ngày 30/03/2005 của
Bộ trưởng Bộ Tài Chính, các quyết đinh 234/2003/QĐ-BTC (VAS 21, 25),
12/2005/QĐ-BTC (VAS 22, 23, 27, 28, 29), 100/2005/QĐ-BTC (VAS 30)… Tuy
nhiên việc áp dụng những quy định ấy vẫn còn nhiều vấn đề đáng nói. Qua phân
tích báo cáo tài chính của một số công ty niêm yết vào năm 2005, có thể thấy thực
trạng việc trình bày báo cáo tài chính của các công ty niêm yết còn rất nhiều sai
phạm và thiếu sót.
Phụ lục 7: Báo cáo tài chính của một số công ty niêm yết
2.2.1. Bảng cân đối kế toán.
39

Đây là một trong những báo cáo tài chính tổng hợp quan trọng, cách lập và
trình bày tương đối đơn giản nhưng còn nhiều công ty niêm yết khi công bố bảng
cân đối kế toán vẫn không thực hiện đầy đủ những yêu cầu theo đúng thông tư 23.
Các công ty trước đây trình bày bảng cân đối kế toán theo quyết định 167/2000/QĐBTC ngày 25/10/2000, nhưng kể từ ngày 30/03/2005 khi quyết định này được sửa
đổi và bổ sung theo Thông tư 23/2005/TT-BTC thì các công ty bắt đầu gặp nhiều
khó khăn trong việc thay đổi cách trình bày bảng cân đối kế toán của mình. Bảng
cân đối kế toán theo mẫu mới có khá nhiều sự thay đổi so với mẫu cũ như:
9 Các khoản mục có chung tính chất được gộp chung lại và ghi chi tiết
trong thuyết minh (tiền, hàng tồn kho, các khoản đầu tư ngắn hạn)
QĐ 167 trước khi sửa đổi bổ sung
theo TT23

Khoản mục
số
I. Tiền
1. Tiền mặt tại quỹ
2. Tiền gửi ngân hàng
3. Tiền đang chuyển
II. Các khoản đầu tư tài chính
NH
1. Đầu tư chứng khoán ngắn hạn

QĐ 167 sau khi sửa đổi bổ sung
theo TT23

Khoản mục
số
I. Tiền và khoản tương đương
110
110
tiền
111 1. Tiền
111
112 2. Các khoản tương đương tiền
112
113
120 II. Các khoản đầu tư TCNH

120

121 1. Đầu tư ngắn hạn

121

2. Đầu tư ngắn hạn khác

128 2. Dự phòng giảm giá CK NH

129

3. Dự phòng giảm giá đầu tư NH
IV. Hàng tồn kho
1. Hàng mua đang đi trên đường
2. Nguyên liệu, vật liệu tồn kho
3. Công cụ, dụng cụ trong kho
4. Chi phí sản xuất dở dang
5. Thành phẩm tồn kho
6. Hàng hoá tồn kho
7. Hàng gửi bán
8. Dự phòng giảm giá hàng tồn
kho
V. Tài sản lưu động khác
1. Tạm ứng
2. Chi phí trả trước

129
140 IV. Hàng tồn kho
141 1. Hàng tồn kho
142 2. Dự phòng giảm giá HTK
143
144
145
146
147

140
141
149

149
150 V. Tài sản ngắn hạn khác
151 1. Chi phí trả trước ngắn hạn
152 2. Các khoản thuế phải thu
40

150
151
152

QĐ 167 trước khi sửa đổi bổ sung
QĐ 167 sau khi sửa đổi bổ sung
theo TT23
theo TT23
3. Chi phí chờ kết chuyển
153 3. Tài sản ngắn hạn khác
158
4. Tài sản thiếu chờ xử lý
154
5. Các khoản cầm cố, …
155
9 Lược bỏ và bổ sung bớt một số các khoản mục …
Chính những sự thay đổi này, cùng với sự chậm trễ của Bộ tài chính trong
việc ban hành những quyết định, thông tư hướng dẫn thực hiện làm cho các công ty
niêm yết gặp nhiều khó khăn trong lập bảng cân đối kế toán theo mẫu mới. Bằng
chứng là đến cuối năm 2005 vẫn còn nhiều công ty niêm yết trình bày bảng cân đối
kế toán theo theo thông tư 105 ban hành vào năm 2003, một số công ty khác trình
bày theo mẫu mới đã sửa đổi, bổ sung theo thông tư 23 nhưng cũng không tránh
khỏi những thiếu sót, sai phạm. Những sai sót thường mắc phải như sai thứ tự các
chỉ tiêu, sai mã số, sai các khoản mục.
2.2.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trong các báo cáo tài chính thì báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tương
đối đơn giản, ngắn gọn và dễ hiểu hơn. Đây cũng là báo cáo tài chính được công bố
rộng rãi và được nhiều nhà đầu tư quan tâm nhất, đặc biệt là các nhà đầu tư không
chuyên nghiệp chỉ quan tâm đến kết quả lãi lỗ của công ty. Chính vì vậy khi công
bố báo cáo kết quả kinh doanh các công ty niêm yết thường trình bày rõ ràng và ít
sai sót hơn so với các báo cáo tài chính khác. Những quy định về lập và trình bày
theo thông tư 23 đã được sửa đổi bổ sung không thay đổi nhiều so với mẫu báo cáo
cũ (chỉ đánh lại số thứ tự, thêm cột thuyết minh) nên việc áp dụng mẫu báo cáo mới
theo thông tư 23 của các công ty niêm yết không gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy vẫn
còn nhiều công ty niêm yết chưa áp dụng hoàn toàn mẫu báo cáo mới dẫn đến hình
thành hai dạng báo cáo kết quả kinh doanh chính: theo thông tư 23/2005/TT-BTC
và theo thông tư 105/2003/TT-BTC.
Ngoài ra, một số công ty dù theo mẫu quy định của thông tư nào cũng mắc
phải sai sót này là chỉ đưa ra một cột số liệu năm nay mà không trình bày cột số liệu
năm trước (đối với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm) hay chỉ đưa ra số

41

liệu của kỳ báo cáo mà không trình bày số liệu luỹ kế từ đầu năm cho đến ngày lập
báo cáo (đối với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lập theo kỳ kế toán quý)
điều này là sai với nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính, đó là nguyên tắc có
thể so sánh được quy định trong chuẩn mực kế toán số 21.
2.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Mẫu biểu báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo quy định tại thông tư số
105/2003/TT-BTC ngày 4/11/2003 của bộ tài chính không có gì thay đổi so với
mẫu biểu đã được sửa đổi và bổ sung theo thông tư 23/2005/TT-BTC. Điều này
giúp các công ty không gặp khó khăn trong việc sửa đổi mẫu báo cáo của mình. Tuy
nhiên, không phải công ty nào cũng thực hiện đúng theo mẫu báo cáo mới này mà
thể hiện nhiều dạng báo cáo khác nhau. Một số công ty trình bày báo cáo theo thông
tư 105 (không có cột thuyết minh), đồng thời mắc một số sai sót như: không có số
thứ tự các chỉ tiêu, không có cột thuyết minh, sửa tên “Mã số” thành “Ghi chú”,
không có cột số liệu cùng kỳ gần nhất để so sánh, các khoản mục trong báo cáo
khác so với quy định.
2.2.4

Thuyết minh báo cáo tài chính
Có thể nhận thấy trong hầu hết báo cáo tài chính của công ty niêm yết khi

công bố, thường tự lược bỏ cột thuyết minh. Và như vậy khi công bố báo cáo tài
chính trên các phương tiện thông tin đại chúng, hầu hết các công ty niêm yết thường
không công bố Bản thuyết minh báo cáo tài chính.
Bên cạnh đó cũng có một số công ty có công bố Bản thuyết minh báo cáo tài
chính nhưng các Bản thuyết minh này vẫn còn nhiều sai sót. Cụ thể: một số công ty
lập Bản thuyết minh không theo cơ sở quy định nào cả, hoặc vừa thực hiện theo
mẫu thông tư cũ vừa thực hiện theo thông tư mới…
2.3. Thực trạng về việc công bố thông tin của các công ty niêm yết đối với quy
định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Thông tin là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động của TTCK. Nếu thông tin
cung cấp cho nhà đầu tư càng nhiều và càng chính xác thì họ càng đưa ra các quyết
định phù hợp và sẽ đầu tư nhiều hơn. Tuy nhiên, việc công bố thông tin vẫn chưa
42

đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư. Hầu hết các vi phạm thường thấy là do
thiếu kinh nghiệm, cung cấp thông tin không theo định kỳ, không công bố thông tin
kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng, đưa ra những nhận định không
chính xác, thiếu độ tin cậy ra thị trường. Chẳng hạn như, vào 06/04/2006, CTCP
dây và cáp điện Taya Việt Nam đã gởi công văn xin gia hạn công bố và gửi báo cáo
thường niên 2005, lý do công ty mới niêm yết trên thị trường chứng khoán nên chưa
có kinh nghiệm.
Việc công bố thông tin chậm đã làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty
đó vì nhiều người cho rằng “tốt khoe, xấu che” và nghi ngờ rằng công ty này có vấn
đề nên cố tình trì hoãn việc công bố thông tin và thực tế đã minh chứng, chẳng hạn
như việc trì hoãn công bố thông tin của công ty Bibica trước đây. Có thể nói giới
đầu tư đã quen thuộc với thực trạng này nên họ không lấy làm ngạc nhiên khi một
công ty nào đó công bố một thông tin bất lợi nhưng giá cổ phiếu vào phiên giao
dịch có thông tin xấu được đăng tải không hề suy giảm, mà thậm chí còn tăng do họ
chưa nắm được thông tin đó. Cổ phiếu BBC là một điển hình. Tại thời điểm đầu
năm 2003, khi TTGDCK công bố kết quả hoạt động năm 2002 của Bibica lỗ 5.4 tỷ
đồng, giá cổ phiếu lại tăng 300đ/CP. Cụm từ “tin xấu đến muộn” thường được giới
đầu tư sử dụng mỗi khi TTGDCK công bố thông tin không hay về một công ty niêm
yết nào đó.
Tình trạng “rò rỉ” thông tin vẫn còn tồn tại. Thông tin bị “rò rỉ” trước khi
chính thức thông qua Trung tâm giao dịch chứng khoán để gởi đến nhà đầu tư. Đơn
cử trường hợp của CTCP bông Bạch Tuyết là một ví dụ. Cổ phiếu BBT đã được các
nhà đầu tư bán ra ồ ạt trước cả ngày các công ty chứng khoán nhận được thông tin
chính thức (16/7/2004). Nhiều nhà đầu tư đang nắm giữ nhiều cổ phiếu BBT đã lỗ
nặng chỉ vì không biết thông tin sớm hơn.
¾ Việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính vẫn còn thiếu sót và
chưa chính xác làm ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp và quyết định
của nhà đầu tư mặc dù các thông tin đó đều được kiểm toán.

43

Ngoài một số công ty kiểm toán có uy tín, chất lượng kiểm toán báo cáo tài
chính của một số công ty ở nước ta còn nhiều hạn chế, có thể bỏ qua sai sót của
doanh nghiệp được kiểm toán,.... Điều này cũng ảnh hưởng rất lớn đến niềm tin của
nhà đầu tư đối với các thông tin tài chính được trình bày và công bố. Điều này làm
ta nhớ đến các vụ đổ bể (nộp đơn xin bảo hộ phá sản) của các đại gia tại nước Mỹ
như: Enroll, World Com... mà một trong những nguyên nhân cơ bản là hệ thống
quản lý và kiểm soát tài chính của các công ty niêm yết này “có vấn đề”, hoặc có sự
tiếp tay giữa công ty niêm yết và công ty kiểm toán mặc dù chúng được kiểm toán
bởi các công ty kiểm toán hàng đầu thế giới.
Hiện nay có rất nhiều trang web cung cấp thông tin về thị trường chứng
khoán. Song, các trang web này lại chưa phát huy hết tác dụng là cung cấp thông tin
về thị trường chứng khoán và cập nhật kiến thức kịp thời cho các nhà đầu tư. Điển
hình như trang web của Uỷ ban chứng khoán nhà nước: trang web này cung cấp báo
cáo tài chính của các công ty niêm yết nhưng chủ yếu chú trọng vào báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh từ 2000-2003. Trang web của công ty chứng khoán Ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam thì cung cấp đủ báo cáo tài chính từ năm 20002005, tuy nhiên lại không cập nhật đủ bốn bảng báo cáo, số lượng công ty niêm yết
có đủ bốn bảng báo cáo khoảng 10/36 công ty. Phần lớn các công ty niêm yết chưa
tận dụng website như một công cụ đắc lực để truyền tải thông tin kịp thời cho các
nhà đầu tư. Các thông tin chưa được sắp xếp, lưu trữ có hệ thống và theo thời gian
khiến nhà đầu tư khó theo dõi. Ngoài ra, các trang web về chứng khoán vẫn còn hạn
chế trong việc cung cấp thông tin bằng tiếng Anh nên hạn chế tính phổ biến và hội
nhập về thông tin cho các nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán.
2.4. Thực trạng về nhu cầu của người sử dụng đối với thông tin tài chính
Báo cáo tài chính của doanh nghiệp luôn cung cấp các thông tin cần thiết cho
các đối tượng sử dụng có liên quan. Thông tin báo cáo tài chính càng trở nên quan
trọng hơn khi người sử dụng thông tin lại là các nhà đầu tư tham gia trên TTCK Vai
trò của nhà đầu tư hiện nay được đánh giá là tâm điểm giúp thị trường chứng khoán
tăng trưởng mạnh, điều này phản ánh từ các con số tài khoản mới được gia tăng
44

trong từng giờ. TTCK luôn có những cơn “sốt nóng” rồi “sốt lạnh” trong thời gian
gần đây khiến các nhà đầu tư chao đảo. Lúc này, thông tin trên báo cáo tài chính
của các công ty niêm yết trở nên quan trọng, giúp họ vạch ra những định hướng đầu
tư thích hợp trước thị trường “đầy biến đổi” như thế. Rất nhiều nhà đầu tư coi cảm
tính (yếu tố tâm lý) là định hướng cho quyết định đầu tư của họ. Rủi ro sẽ được hạn
chế nếu nhà đầu tư biết thu thập tất cả các thông tin liên quan và biết cách phân tích
chúng, làm cơ sở cho các quyết định của họ và báo cáo tài chính của công ty niêm
yết sẽ đáp ứng nhu cầu thông tin của họ.
Nhu cầu của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính ngày càng nhiều,
nhất là các nhà đầu tư đã, đang, và sẽ đầu tư vào chứng khoán. Tuy nhiên, nhà đầu
tư còn hoang mang khi thu thập thông tin tài chính của các công ty niêm yết. Thông
tin dù có đầy đủ và được phổ biến rộng rãi nhưng trong thực tế nó chưa thật sự gần
gũi với công chúng. Hiện nay các nhà tư nhất là các nhà đầu tư nhỏ, không biết cách
phân loại, xử lý thông tin, không biết cách phân tích báo cáo tài chính. Họ chỉ dựa
vào kết quả lãi, lỗ của hoạt động đầu tư. Một số nhà đầu tư thường dựa vào cảm tính
mà không quan tâm đến thông tin tài chính. Tâm lý là một yếu tố tác động đến
quyết định đầu tư và nó có thể là sự lựa chọn đúng đắn hoặc sai lầm. Thị trường
hiện nay luôn biến động. Ví dụ như trường hợp “cơn sốt lạnh” đột ngột vào những
ngày đầu tháng 5/2005 vừa qua đã làm không ít nhà đầu tư đã vội vàng bán tháo cổ
phiếu, để rồi nuối tiếc vào những phiên tiếp theo khi thị trường hồi phục nhanh
chóng. Một thực tế cho thấy, nhà đầu tư mới, có trình độ hiểu biết trung bình sẽ có
kết quả lợi nhuận luôn thấp hơn các nhà đầu tư giàu kinh nghiệm. Các nhà đầu tư
lâu năm luôn cập nhật thường xuyên các thông tin trên chính để đưa ra những quyết
định đầu tư hợp lý với khả năng am hiểu thị trường cao. Thời gian qua là khoảng
thời gian mà các nhà đầu tư thấy giá chứng khoán thay đổi lên xuống liên tục,
nhiều nhà đầu tư đã xa rời thị trường chứng khoán. Điều này gây tâm lý hoang
mang cho các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu. Nguyên nhân là do các
nhà đầu tư chỉ vì lợi nhuận nhất thời đầu tư vào mà không tìm hiểu kỹ thị trường,
chưa có kinh nghiệm trong việc phân tích báo cáo tài chính.
45

Nhu cầu sử dụng các thông tin trên BCTC của nhà đầu tư là rất nhiều, nhất là
các nhà đầu tư mới tham gia vào thị trường chứng khoán, họ cần phải biết phân tích
báo cáo tài chính giúp họ có thêm kinh nghiệm định hướng đầu tư. Tuy nhiên, các
thông tin từ Trung tâm giao dịch chứng khoán mà công ty chứng khoán nhận được
thường ở dạng “thô” (chưa phân tích). Và thực tế, không có công ty chứng khoán
nào dám diễn giải, bình luận, nhận định rủi ro hoặc lợi nhuận kém của doanh nghiệp
đã có cổ phiếu niêm yết. Do đó, nhà đầu tư phải tự phân tích, định hướng đầu tư và
vai trò tư vấn của công ty chứng khoán coi như không có hiệu quả.
Mặc dù, thông tin tài chính rất quan trọng, thiết thực, giúp định hướng cho
các nhà đầu tư. Nhưng báo cáo tài chính chưa được sử dụng một cách triệt để bởi vì
các thông tin báo cáo tài chính thường đến chậm, không trung thực, chính xác, trình
bày trên báo cáo khó hiểu, thuyết minh không rõ ràng. Nhà đầu tư luôn mong đợi
một báo cáo tài chính minh bạch, có độ tin cậy cao, nhưng các thông tin trên báo
cáo tài chính của công ty niêm yết chưa đáp ứng được nhu cầu của họ. Các công ty
niêm yết thường đưa ra báo cáo tài chính không đầy đủ, không phản ánh đúng thực
chất tình hình hoạt động của công ty. Chẳng hạn như công ty BBC công bố kết quả
hoạt động kinh doanh 9 tháng đầu năm 2002 là có lãi 4,1 tỷ đồng và sau bốn lần xin
gia hạn thêm thời gian, BBC công bố báo cáo kết quả kinh doanh năm 2002 là lỗ
5,422 tỷ đồng. Khoản lỗ này đã gây sốc cho khá nhiều nhà đầu tư .
Thêm vào đó chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính còn nhiều sai sót như
không kiểm soát kỹ các thông tin trên báo cáo tài chính, trình bày cẩu thả... Việc
thông tin công bố chậm và thông tin không có chất lượng làm cho nhà đầu tư trở
nên e dè hơn với các thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết. Các chuyên
gia trên TTCK cho rằng “ sự thiếu rõ ràng trong công bố thông tin sẽ khiến ít người
đầu tư dài hạn vào thị trường chứng khoán, đó là một mối nguy cho hoạt động
chứng khoán ở Việt Nam”. Từ những sự việc xảy ra vừa qua trên thị trường chứng
khoán đã khiến cho nhà đầu tư không thực sự tin tưởng vào BCTC.
2.5. Khảo sát giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trong thời gian qua
2.5.1. Mô tả dữ liệu
46

Để thực hiện nội dung nghiên cứu, chúng tôi thu thập số liệu về các cổ phiếu
niêm yết từ ngày bắt đầu giao dịch phiên đầu tiên và phân theo từng năm như sau:
NĂM NGÀY BẮT NGÀY KẾT SỐ LƯỢNG CÔNG SỐ PHIÊN
THỨ
ĐẦU
THÚC
TY NIÊM YẾT
GIAO DỊCH

1
2
3
4

28/7/2000
28/7/2001
28/7/2002
28/7/2003

28/7/2001
28/7/2002
28/7/2003
28/7/2004

6
11
4
3

151
191
248
251

5

28/7/2004

28/7/2005

7

251

6

28/7/2005

28/7/2006

14

251

45

1.343

TỔNG
CỘNG

GHI CHÚ

1 chứng chỉ
quỹ

Tổng hợp từ nguồn: www.bsc.com.vn và www.ssc.gov.vn
Giá mỗi cổ phiếu đều được ghi nhận theo giá đóng cửa (cũng giống như
truyền thống các thị trường trên thế giới), số lượng giao dịch và giá trị giao dịch
trong ngày. Ở đây, về số lượng cổ phiếu giao dịch, chúng tôi chỉ tính đến giao dịch
khớp lệnh mà không tính đến giao dịch thỏa thuận, bởi vì giao dịch thỏa thuận rất
không thường xuyên và giá cả, vì là thỏa thuận nên cũng không phản ánh chính xác
xu hướng cung cầu trên thị trường. Với thị trường chúng tôi tính toán và thống kê
tổng số phiên giao dịch, chỉ số VN_Index.
Về giá thị trường (VN_Index): kết quả của việc thu thập số liệu là một bảng
Excel có 1.343 hàng (1.343 phiên giao dịch). Chỉ số VN_Index được lấy từ nguồn
số liệu thứ cấp (các trang web của TTGDCK TP.HCM, các công ty chứng
khoán…). Chúng tôi hoàn toàn ý thức được rằng việc sử dụng các nguồn số liệu lấy
từ Internet là hết sức thận trọng. Có thể cơ quan quản lý trang web hết sức thận
trọng nhưng chỉ cần nhân viên quản trị mạng hoặc nhân viên nhập liệu không lưu ý
thì số liệu lưu hành sẽ không chính xác, ảnh hưởng đến các nghiên cứu thứ cấp nên
cũng dữ liệu trên nhưng chúng tôi lấy từ nhiều nguồn (Internet, các bản tin thị
trường phát hành cho nhà đầu…) đồng thời có sự so sánh đối chiếu và chọn mẫu để
tính lại chỉ số VN_Index. Và kết quả về chỉ số VN_Index và giá cổ phiếu được thể
hiện trong cơ sở dữ liệu phân tích nhìn chung là khớp nhau.

47

Trong quá trình phân tích, chúng tôi lấy mốc thời gian năm thứ nhất từ
28/07/2000 đến 27/07/2001 (151 phiên), năm thứ hai từ ngày 30/07/2001 đến ngày
26/07/2002 (191 phiên), năm thứ ba từ ngày 29/07/2002 đến ngày 28/07/2003 (248
phiên), năm thứ tư từ ngày 29/07/2003 đến ngày 28/07/2004 (251 phiên), năm thứ
năm từ ngày 29/07/2004 đến ngày 28/07/2005 (251 phiên), và năm thứ sáu từ ngày
29/07/2005 đến ngày 28/07/2006 (251 phiên).
Ngoài ra, do số lượng công ty niêm yết tính đến thời điểm nghiên cứu
(28/7/2006) là 45 công ty với thời gian niêm yết dài ngắn khác nhau nên để thực
hiện phân tích sâu hơn về ảnh hưởng giữa việc công bố thông tin tài chính với các
quyết định đầu tư, chúng tôi thu thập dữ liệu tài chính và giá cổ phiếu của 10 công
ty với 2 tiêu chí sau:
• Tiêu chí 1: Theo thời gian lên sàn, sẽ lựa chọn công ty nào có thời gian lên
sàn đủ lâu (tối thiểu là 5 năm) để dữ liệu phân tích có đầy đủ thông tin.
Phụ lục 8: Thời gian niêm yết của các công ty tính đến 28/07/06
• Tiêu chí 2: Dựa vào độ thanh khoản về cổ phiếu của công ty niêm yết. Căn
cứ vào tỷ lệ giá trị giao dịch trong ngày/tổng giá trị thị trường trong ngày và tỷ lệ số
lượng cổ phiếu giao dịch bình quân/phiên để đo độ thanh khoản tương đối.
Phụ lục 9: Quy mô giao dịch trung bình của cổ phiếu và của thị trường qua
6 năm (Từ 28/07/00 – 28/07/06)
Kết hợp 2 tiêu chí về thời gian niêm yết và độ thanh khoản tương đối trên
chúng tôi chia thành 2 nhóm công ty để nghiên cứu:
Nhóm 1: nhóm cổ phiếu các công ty có thời gian niêm yết đủ lâu (từ 5 đến 6
năm) và độ thanh khoản tương đối cao (khối lượng cổ phiếu giao dịch bình quân
trên 9.000 cổ phiếu/phiên); Gồm cổ phiếu các công ty: REE, SAM, BBC, LAF,
HAP (5 công ty).
Nhóm 2: nhóm cổ phiếu các công ty có thời gian niêm yết đủ lâu (từ 5 đến 6
năm) và độ thanh khoản tương đối thấp (khối lượng cổ phiếu giao dịch bình quân

48

dưới 9.000 cổ phiếu/phiên); Gồm cổ phiếu các công ty: TMS, TRI, CAN, DPC,
SGH (5 công ty).
Phụ lục 10: Quy mô giao dịch trung bình của các cổ phiếu của các công ty
thuộc 2 nhóm nghiên cứu qua 6 năm (28/07/00 – 28/07/06)
2.5.2. Diễn biến giá toàn thị trường (VN_Index)
2.5.2.1Diễn biến giá toàn thị trường năm thứ nhất (28/07/2000– 27/07/2001)

600.00

Diễn biến chỉ số giá cổ phiếu toàn thị trường năm thứ nhất
(28/07/00 - 27/07/01)

VN_Index

500.00
400.00
300.00
200.00
100.00

28
/0
7
11 /00
/0
8/
25 00
/0
8
11 /00
/0
9
25 /00
/0
9
09 /00
/1
0/
23 00
/1
0
06 /00
/1
1/
20 00
/1
1
04 /00
/1
2
18 /00
/1
2/
03 00
/0
1
17 /01
/0
1/
07 01
/0
2
21 /01
/0
2/
07 01
/0
3
21 /01
/0
3
04 /01
/0
4/
18 01
/0
4
04 /01
/0
5
18 /01
/0
5
01 /01
/0
6/
15 01
/0
6
29 /01
/0
6
13 /01
/0
7
27 /01
/0
7/
01

0.00

Đồ thị 2.1

Ngày

Diễn biến giá cổ phiếu toàn thị trường (28/07/00 – 27/07/01)

Dữ liệu để vẽ diễn biến giá toàn thị trường là một bảng Excel gồm 151 hàng
(151 phiên giao dịch). Trong thời gian này, có 6 công ty niêm yết là REE, SAM,
HAP, TMS, LAF, SGH.
Dựa vào đồ thị 2.1 có thể thấy rằng, nhìn chung giá của các cổ phiếu tăng
dần và không có biến động mạnh từ lúc mới bắt đầu niêm yết đến gần giữa tháng 5
năm 2001. Cũng trong tháng 5 (ngày 21/5/01), lần đầu tiên trên thị trường chứng
khoán bị đặt ký hiệu cảnh báo do giá cổ phiếu tăng liên tục và có những thông tin
làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Sau đó có những thời điểm biến động mạnh trong
giai đoạn từ giữa tháng 6 đến tháng 8 năm 2001. Đặc biệt là có sự biến động mạnh
nhất là trong tháng 8. Trong tháng 6, chỉ số VN_Index đạt mức cao nhất là 571
điểm tại thời điểm ngày 27/06/2001. Điều này dẫn đến một loạt các giải pháp điều
tiết thị trường: Tháng 6/2001, nới rộng biên độ giá cổ phiếu + trái phiếu lên + - 7%;

49