Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG I: TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

CHƯƠNG I: TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

Tải bản đầy đủ

Phụ lục 1: Quy mô niêm yết qua các năm
• Quy mô giao dịch trên thị trường (khớp lệnh + thỏa thuận):
Quy m ô giá trị giao dịch khớp lệnh

(triệu đồng)

Giá trị giao dịch

1.735.946

931.152
787.857

416.679

394.535

92.357

2000

2001

2002 Năm 2003

2004

2005

Quy m ô giá trị giao dịch thỏa thuận

(triệuđồng)

Giátrị giaodịchthỏathuận

18.151.204

6.118.088

2.581.643
2000

103.569

294.343

2001

2002

2003

2004

2005

Năm

Hình 1.2 – Quy mô giá trị giao dịch (khớp lệnh & thỏa thuận) qua các năm
Phụ lục 2: Quy mô niêm yết trên thị trường
a)

Kết quả đạt được

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam chính thức ra đời tuy còn rất mới
mẻ nhưng cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều công chúng. Từ khi đi vào hoạt
động, TTCK VN đã đạt được một số thành tựu như:

12

Qua 6 năm hoạt động (tính đến thời điểm 28/07/06), Trung tâm giao dịch
chứng khoán TP.HCM đã tổ chức thực hiện được 1.343 phiên giao dịch với giá trị
bình quân của toàn thị trường liên tục tăng từ 1,4 tỷ đồng trong năm 2000 lên 81 tỷ
đồng trong 6 tháng đầu năm 2005. TTCK cũng đã từng bước thể hiện rõ vai trò là
một kênh huy động vốn với tổng giá trị niêm yết trên 31.000 tỷ đồng, trong đó có
264 trái phiếu chiếm 29.021 tỷ đồng, 30 cổ phiếu chiếm 1.541 tỷ đồng và 1 chứng
chỉ quỹ đầu tư đạt 300 tỷ đồng. Ngoài ra, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
cũng đã chính thức ra mắt và đi vào hoạt động từ ngày 8.3.2005. Như vậy, với việc
vận hành song song hai TTGDCK tại 2 trung tâm kinh tế lớn của cả nước, TTCK
VN được kỳ vọng sẽ trở thành một kênh dẫn vốn quan trọng, và hơn thế nữa, tiến
đến trở thành kênh dẫn vốn chủ yếu cho nền kinh tế quốc dân.
Hoạt động giao dịch tại thị trường cũng từng bước có những khởi sắc nhất
định. Số lượng các nhà đầu tư tham gia vào thị trường liên tục tăng qua các năm,
nếu như vào cuối năm 2000 mới chỉ có hơn 2.500 tài khoản giao dịch thì đến cuối
thang 4/05 đã có hơn 21.000 tài khoản. (xem bảng 1.1).
BẢNG 1.1 - SỐ LƯỢNG TÀI KHOẢN NHÀ ĐẦU TƯ QUA CÁC
NĂM
Số lượng
Trong nước
Nước ngoài
NĂM
nhà đầu
Tổ

Tổ

Cá nhân
chức
nhân
chức
2000
2.484
22
2.438
3
21
2001
5.171
23
5.127
7
14
2002
4.760
49
4.684
8
19
2003
2.792
40
2.725
1
26
2004
5.423
43
5.246
10
124
2005
913
10
827
2
74
Tổng
cộng
21.543
187
21.047
31
278
(* )Số liệu năm 2005: tính đến hết ngày 30/04/2005
Nguồn: P.Tuyên truyền thông tin - TTGCCK TP.HCM
Cũng tính từ năm 2000, toàn thị trường có 4 công ty chứng khoán thành viên,
1 tổ chức lưu ký chứng khoán nước ngoài, thì đến nay thị trường đã có một hệ
thống lưu ký chứng khoán hoạt động ổn định với 13 công ty chứng khoán thành
viên, 2 tổ chức lưu ký trong nước và 3 tổ chức lưu ký chứng khoán nước ngoài.
13

Hàng hoá được giao dịch trên thị trường ngày càng phong phú, đa dạng hơn.
Một số giải pháp kỹ thuật mới cũng đã được đưa vào áp dụng như điều chỉnh biên
độ, chia nhỏ lô giao dịch,… cho phép đa dạng hóa loại hình và phương thức giao
dịch, đồng thời đã tạo được những tiền đề hết sức cơ bản trong việc chuẩn hóa các
loại hình nghiệp vụ kỹ thuật của thị trường.
Hệ thống văn bản pháp luật điều tiết hoạt động của thị trường cũng được
quan tâm. Chính phủ và các bộ ngành liên quan đã từng bước xây dựng được một
hệ thống văn bản pháp luật về chứng khoán và các chính sách khuyến khích thị
trường tương đối đầy đủ để điều chỉnh các hoạt động trên TTCK trong thời gian
đầu. Trong kỳ họp thứ 9, Quốc hội Khoá XI, Luật chứng khoán 70/2006/QH 11 đã
ra đời đánh dấu một bước phát triển cho hoạt động của TTCK Việt Nam.
Vai trò của công tác tuyên truyền và phổ cập kiến thức về TTCK cũng có
những bước tiến đáng kể.
Trong 5 năm qua, Việt Nam đã tranh thủ được sự trợ giúp song phương và đa
phương từ hơn 20 quốc gia, các Uỷ ban chứng khoán, các Sở giao dịch chứng
khoán và các tổ chức tài chính quốc tế khác như Ngân hàng phát triển châu Á
(ADB), Công ty tài chính quốc tế (IFC) trong xây dựng khuôn khổ pháp lý, thực
hiện thông lệ quốc tế về quản trị công ty, xây dựng lộ trình phát triển thị trường vốn
cũng như đào tạo nguồn nhân lực cho TTCK VN.
b)
Một số mặt hạn chế
Tuy nhiên, so sánh với tiềm năng phát triển và nhu cầu vốn đầu tư của nền
kinh tế cũng như kinh nghiệm phát triển TTCK ở các nước trong khu vực, TTCK
VN vẫn bộc lộ nhiều yếu kém, có thể kể ra một số hạn chế chủ yếu :
Quy mô của TTCK VN quá khiêm tốn, tính đến 31/5/2005, tổng giá trị thị
trường cổ phiếu mới đạt 4.280 tỷ đồng, chỉ bằng 0,66% GDP năm 2004; tính cả giá
trị thị trường của trái phiếu và chứng chỉ quỹ thì tổng giá trị thị trường mới đạt
32.507 tỷ đồng, bằng 4,87% GDP. Nếu so sánh với mục tiêu phát triển TTCK đến
năm 2010 chiếm 10-15% GDP như Chính phủ đề ra thì con số này là quá nhỏ bé.

14

Số lượng và chất lượng hàng hóa trên TTCK chưa cao nên kém hấp dẫn nhà
đầu tư. Số lượng người đầu tư chứng khoán cũng còn hạn chế. Hệ thống văn bản
pháp quy liên quan đến thị trường có tính pháp lý chưa cao, thiếu đồng bộ và vẫn
còn nhiều bất cập như chính sách ưu đãi về thuế cho công ty niêm yết,…
Chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ trên TTCK cũng chưa cao, tính
minh bạch và hiệu quả còn hạn chế, thể hiện ở chất lượng công tác công bố thông
tin, chất lượng hoạt động của TTGDCK cũng như các thành viên thị trường. Các
biểu hiện vi phạm trên thị trường ở một số CTCK cũng như công ty niêm yết đã ảnh
hưởng đến lòng tin của công chúng đầu tư.
Nhìn chung, khối lượng giao dịch khớp lệnh cổ phiếu trên thị trường có sự
gia tăng qua các năm, ngoại trừ năm 2003 quy mô giao dịch thu hẹp đáng kể so với
năm trước (giảm 25% khối lượng giao dịch). Tuy nhiên, nếu tính đến yếu tố số
phiên giao dịch tăng 3 lên 5 phiên/tuần kể từ 1/3/2005 thì trên thực tế, quy mô giao
dịch chỉ tăng rõ rệt trong hai năm 2001 và 2004 (tăng lần lượt là 113% và 165% so
với năm trước); năm 2002 tăng 7% so với năm 2001. Tính chung cho cả giai đoạn
2004 – 2005, tốc độ tăng khối lượng giao dịch bình quân mỗi năm khoảng > 200%.
1.1.2. Sơ lược về tình hình hoạt động của các công ty niêm yết
Thị trường chứng khoán ra đời ngày 20/7/2000, phiên giao dịch đầu tiên bắt
đầu từ ngày 28/7/2000 với sự có mặt của 2 công ty niêm yết đầu tiên là Ree (Công
ty cổ phần cơ điện lạnh) và Sam (Công ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông), rồi
hàng loạt các công ty xuất hiện. Tính đến thời điểm ngày 28/7/2006, TTGDCK
TP.HCM có 44 cổ phiếu của 44 công ty đã niêm yết và 1 chứng chỉ Quỹ, với tổng
số vốn đăng ký 7.907.962.468.341 đồng, chiếm hơn 1,1%GDP.
Phụ lục 3: Danh sách các công ty niêm yết (tính đến 28/7/2006)
Đây là kết quả khả quan đối với tình hình kinh tế trong nước vì các công ty
niêm yết là loại hình công ty cổ phần có khả năng huy động vốn nhanh nhất và hiệu
quả nhất cho nền kinh tế. Mỗi công ty niêm yết hoạt động trên mỗi lĩnh vực khác
nhau. Hiện nay các công ty niêm yết được chia thành các ngành chính như: thương
mại; vật liệu xây dựng; năng lượng, dầu khí & gas; tài chính-ngân hàng; đồ ăn và
15

thức uống; đồ dùng trong nhà; khách sạn; giấy và bao bì; chất dẻo và chất hoá học;
hải sản; viễn thông; vận chuyển. Một số công ty trước đây là doanh nghiệp nhà
nước, thực hiện cổ phần hóa chuyển thành công ty cổ phần, trong đó nhà nước vẫn
nắm một tỷ lệ cổ phần nhất định.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp niêm yết đã thành lập ra một câu lạc bộ các
công ty niêm yết. Câu lạc bộ này ra đời nhằm tạo điều kiện cho các công ty niêm
yết trao đổi kinh nghiệm quản lý, điều hành doanh nghiệp, giúp tìm kiếm các cơ hội
đầu tư, tìm tiếng nói chung về các chính sách của nhà nước trong lĩnh vực chứng
khoán với tinh thần hợp tác và đoàn kết.
Tình hình hoạt động của doanh nghiệp niêm yết giai đoạn hiện nay nhìn
chung khá khả quan. Ví dụ như một vài công ty tiêu biểu sau:
• CTCP xuất nhập khẩu thuỷ sản An Giang (AGIFISH) hiện là doanh
nghiệp đứng đầu về sản lượng xuất khẩu cá Tra và cá Basa đông lạnh (chiếm 40%
thị phần cả nước trong năm 2000). Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản,
AGIFISH nằm trong những doanh nghiệp hàng đầu. Lợi thế cạnh tranh của nó là ổn
định được nguồn nguyên liệu đầu vào, trang thiết bị máy móc hiện đại với công suất
lớn và đã tạo được mối quan hệ đối tác với nhiều bạn hàng lớn trên thế giới.
• Xét về các công trình cơ điện lạnh cho các cao ốc, văn phòng, khách sạn,
các nhà máy thì CTCP cơ điện lạnh REE có ưu thế về chuyên môn, kinh nghiệm và
đội ngũ nhân sự, là một trong những công ty hàng đầu của ngành cơ điện lạnh VN.
• Ở thị trường Bưu chính viễn thông: CTCP cáp và vật liệu viễn thông
(Samco) đã và đang có ưu thế, hiện tại đang chiếm 35% nhu cầu của mạng lưới,
trong những năm kế tiếp sẽ hoạt động hết công suất thiết bị nhằm cạnh tranh và
chiếm lĩnh thị trường. Phấn đấu giành thị trường khu vực thông tin quân đội, thông
tin an ninh, dự kiến cung cấp cáp cho lĩnh vực này từ 15 đến 20% nhu cầu về cáp
đồng và các loại vật liệu viễn thông khác. Vươn ra xuất khẩu qua các nước: Lào,
Campuchia, Nga, Srylanca...
Chưa bao giờ công ty niêm yết lại có cơ hội huy động vốn tốt như hiện nay.
Do đó, các công ty niêm yết thay phiên nhau phát hành cổ phiếu mới. Nếu như
16

trước đây, trong và sau Đại hội đồng cổ đông, nhà đầu tư thường hỏi nhau về tình
hình kinh doanh, kế hoạch năm tới của doanh nghiệp thì hiện nay, họ thường quan
tâm đến việc doanh nghiệp có chia cổ phiếu thưởng không và có phát hành cổ phiếu
mới hay không? Hiện tượng này nói lên một điều: nhà đầu tư tin tưởng và kỳ vọng
vào sự phát triển của doanh nghiệp niêm yết cũng như sự tăng trưởng của TTCK.
Theo đánh giá của UBCKNN tình hình kinh doanh của các công ty niêm yết
trong các năm qua và đặc biệt trong năm 2004, 2005 khá ổn định và có tăng trưởng
so với cùng kỳ năm 2003. Phần lớn các công ty có lợi nhuận sau thuế đạt và vượt kế
hoạch đề ra, đặc biệt một số công ty có lợi nhuận tăng mạnh so với những năm
trước như công ty nước giải khát Sài Gòn, công ty viễn thông VTC, công ty chế
biến hàng xuất khẩu Long An (240%) và đặc biệt là công ty Bánh kẹo Biên Hòa sau
một thời gian gặp khó khăn về tài chính nay có mức tăng lợi nhuận rất cao (223%).
Tuy nhiên, trong năm 2004 một số công ty niêm yết cũng gặp khó khăn trong kinh
doanh, duy trì và mở rộng thị trường như: Nhựa Đà Nẵng, Bông Bạch Tuyết; cá biệt
công ty cơ khí Bình Triệu năm thứ 2 liên tiếp kinh doanh thua lỗ và mức lỗ lũy kế
qua 2 năm lên tới 5,8 tỷ đồng, bằng 50% vốn điều lệ.
Tóm lại, sự ra đời của TTCK nói chung và sự xuất hiện của công ty niêm yết
nói riêng đã đưa ngành chứng khoán đến với mọi đối tượng từ các cơ quan quản lý
đến công chúng, thu hút ngày càng đông nhà đầu tư tham gia thị trường làm cho thị
trường chứng khoán nước ta ngày càng phát triển về lượng và chất.
Phụ lục 4 : Bảng tổng hợp số phiên giao dịch của các cổ phiếu đang niêm
yết tại TTGDCK TP.HCM qua 6 năm (T7/2000 – T4/2005)
1.2. Báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính trong mối liên hệ với các
quyết định đầu tư
1.2.1. Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết
Hệ thống báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên TTCK cũng giống
như báo cáo tài chính của loại hình doanh nghiệp khác. Báo cáo tài chính của các
công ty niêm yết chủ yếu nhằm cung cấp thông tin về tình hình tài sản, nợ phải trả,
nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, lãi, lỗ và lợi nhuận được chia giúp cho người sử
dụng phân tích đánh giá tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của công ty.
17

Báo cáo tài chính của bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào cũng rất quan trọng và
cần thiết vì cung cấp thông tin cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng. BCTC của
các công ty niêm yết càng trở nên quan trọng hơn các doanh nghiệp khác vì nó là
căn cứ giúp cho các nhà đầu tư đưa ra các quyết định kinh tế một cách hợp lý nhất.
Do tính chất và đặc điểm quan trọng như thế nên BCTC của các công ty niêm yết
càng phải tuân thủ theo những nguyên tắc, quy định của Bộ Tài Chính và Uỷ ban
chứng khoán một cách nghiêm ngặt. BCTC phải đáp ứng yêu cầu của người sử
dụng thông tin là thông tin phải phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu. Hệ
thống BCTC của các công ty niêm yết bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính
• Bảng cân đối kế toán là BCTC tổng hợp phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị
tài sản. Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết tổng giá trị thuần tài sản hiện có,
cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán, nhà
đầu tư có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.
• Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là BCTC tổng hợp phản ánh tổng
quát tình hình và khả năng hoạt động kinh doanh của công ty. Có thể nói đây là
BCTC được các nhà đầu tư quan tâm và chú trọng nhất. Để đầu tư chứng khoán vào
bất cứ một công ty niêm yết nào không phải là điều dễ dàng, tất cả các nhà đầu tư
thường xem bảng này đầu tiên để biết tình hình tài chính của doanh nghiệp.
• Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giúp phản ánh việc hình thành và sử dụng
lượng tiền phát sinh theo các hoạt động của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ giúp nhà đầu tư thấy được năng lực tài chính của doanh nghiệp, đánh giá khả
năng tạo ra tiền và việc sử dụng các luồng tiền.
• Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận của hệ thống báo cáo tài
chính. Các công ty niêm yết lập thuyết minh báo cáo tài chính để giải thích và bổ
sung thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Nó cung cấp thêm thông tin nhằm giúp các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về
hoạt động của các công ty niêm yết để xác định hướng đầu tư đúng đắn.

18

Nội dung và phương pháp lập BCTC của công ty niêm yết cũng được quy
định trong chế độ kế toán tài chính doanh nghiệp (ban hành theo quyết định
167/2000/QĐ-BTC và sửa đổi, bổ sung lần lượt theo thông tư 89/2002/TT-BTC,
105/2003/TT-BTC, thông tư 23/2005/TT-BTC...), quyết định 15/2006/QĐ-BTC.
Để được phép niêm yết trên TTCK, các công ty niêm yết phải được kiểm
toán bởi đơn vị kiểm toán độc lập. Vì vậy, BCTC được lập theo những tiêu chuẩn
chung, có chất lượng và độ chính xác cao hơn. Công ty niêm yết phải luôn tuân thủ
chế độ công bố thông tin trên TTCK vì các hoạt động của công ty liên quan đến lợi
ích của nhà đầu tư và do vậy BCTC của công ty niêm yết bắt buộc phải được kiểm
toán. Công tác kiểm toán không chỉ có giá trị chứng thực về độ tin cậy của thông tin
được trình bày mà còn xem xét các vấn đề khác mà nhà đầu tư quan tâm. Mặc dù
kiểm toán không thể đảm bảo chắc chắn không có hiện tượng gian lận tồn tại nhưng
kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết luôn tạo cho nhà đầu tư một
độ tin cậy nhất định so với các báo cáo tài chính không được kiểm toán. Hiện nay
đa số BCTC của các công ty niêm yết đến với các nhà đầu tư đều được kiểm toán.
Nhìn chung, hệ thống BCTC của doanh nghiệp niêm yết cũng giống như hệ
thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp khác. Tuy nhiên do tính chất của doanh
nghiệp niêm yết, nên báo cáo tài chính nói riêng, tình hình tài chính nói chung của
công ty niêm yết cần phải chính xác, tin cậy để đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư.
1.2.2. Phân tích báo cáo tài chính trong mối liên hệ với các quyết định đầu tư
1.2.2.1. Mục tiêu phân tích BCTC
Câu hỏi trước tiên mà nhà phân tích thông thường tự hỏi khi phân tích báo
cáo tài chính của một đơn vị nào đó là “Ta đang tìm kiếm điều gì?”. Để trả lời câu
hỏi này cần có một sự hiểu biết về các quyết định đầu tư.
Một nhà đầu tư trước khi quyết định đầu tư vào một lĩnh vực nào thông
thường sẽ quyết định trên cơ sở mức sinh lợi và mức rủi ro dự kiến từ mỗi loại hình
đầu tư. Giả sử nhà đầu tư mới có được số tiền là 100 triệu đồng và phải quyết định
làm gì với số tiền này. Giả định chỉ giới hạn quyết định mua một chứng chỉ tiền gởi
ở một ngân hàng uy tín hoặc là mua cổ phần tại công ty A, với giá bán hiện hành là
50.000 đồng/cổ phiếu. Vậy lựa chọn đầu tư ở đâu?
19

Với thông tin là ngân hàng hiện nay trả lãi suất là 8%/năm đối với chứng chỉ
tiền gửi. Ngân hàng thông thường sẽ khó có khả năng bị ngừng hoạt động, như vậy
gần như chắc chắn là nhà đầu tư khi lựa chọn mua chứng chỉ tiền gửi sẽ có mức thu
nhập là 8%/năm (tương đương 8 triệu đồng/1năm).
Mức sinh lợi đầu tư trong cổ phiếu của công ty A có hai yếu tố. Đầu tiên,
trong nhiều năm liền công ty trả cổ tức bằng tiền mặt là 3.000 đồng/cổ phần; giả
định nó sẽ tiếp tục trả cổ tức như vậy trong tương lai. Đồng thời giá thị trường của
cổ phiếu có thể thay đổi trong khoảng thời gian mua cổ phiếu đến lúc bán cổ phiếu
trong tương lai. Sự khác biệt giữa giá bán và giá mua, thường được gọi là lời vốn
(hoặc lỗ vốn), là yếu tố thứ hai của mức sinh lợi trong việc mua cổ phiếu.
Việc đầu tư vào cổ phiếu thường có nhiều rủi ro hơn là chứng chỉ tiền gửi.
Khả năng sinh lợi trong tương lai của công ty có thể tác động đến sự thay đổi cổ tức
và giá thị trường trong tương lai. Nếu đối thủ cạnh tranh giới thiệu sản phẩm mới có
sức cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm của công ty A trên thị trường hoặc công ty
A có những khám phá quan trọng hay giới thiệu thành công sản phẩm mới, thu nhập
trong tương lai có lẽ sẽ ít hơn hoặc nhiều hơn so với dự kiến hiện nay.
Các yếu tố kinh tế quan trọng như lạm phát và những thay đổi trong các mối
quan hệ quốc tế và các yếu tố ảnh hưởng đến ngành nghề kinh doanh cũng sẽ tác
động đến giá thị trường cổ phiếu công ty A. Bởi vì cá nhân mọi người thường thích
rủi ro thấp hơn rủi ro cao, nếu mua cổ phiếu của công ty A có lẽ nhà đầu tư sẽ trông
đợi mức sinh lợi cao hơn khi đầu tư vào chứng chỉ tiền gửi.
Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cho thấy lợi nhuận dự kiến trong
việc đầu tư vào một công ty có liên quan với khả năng sinh lợi của công ty. Các
quyết định đầu tư cũng yêu cầu các nhà phân tích đánh giá rủi ro trong mối quan hệ
với lợi nhuận dự kiến. Một công ty có thể thấy rằng nó đang thiếu tiền mặt và
không thể chi trả một khoản nợ ngắn hạn đã đến hạn hoặc là một khoản nợ dài hạn
quá lớn đến nỗi công ty không thể trả nổi tiền lãi và vốn gốc. BCTC sẽ cung cấp các
thông tin để đánh giá các yếu tố rủi ro tác động đến lợi nhuận dự kiến.

20

Vì vậy, các bản phân tích báo cáo tài chính khảo sát một vài khía cạnh về
khả năng sinh lợi hoặc mức rủi ro của một công ty. Hình dưới đây tóm tắt mối quan
hệ giữa bản phân tích báo cáo tài chính và các quyết định đầu tư.
Quá khứ
Phân tích báo cáo tài
chính
Khả năng sinh lợi
Rủi ro (khả năng thanh
toán ngắn và dài hạn)

Chiều thời gian
Hiện tại

Tương lai
Lợi nhuận dự kiến
Rủi ro

Quyết định đầu tư
Hình 1.3 ‐ Mối liên hệ giữa phân tích báo cáo tài chính và các quyết định đầu tư

Như vậy, mục đích chính của phân tích BCTC là giúp các đối tượng sử dụng
thông tin đánh giá đúng sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của
doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn phù hợp với mục tiêu mà họ
quan tâm. Tuy nhiên cần lưu ý rằng tất cả các BCTC đều là tài liệu có tính lịch sử,
chúng cho thấy những gì đã xảy ra trong một kỳ cá biệt. Mục đích của phân tích
BCTC là giúp các đối tượng quan tâm đưa ra các quyết định hợp lý và những hành
động trong tương lai sẽ dựa vào các thông tin có tính lịch sử của BCTC.

Để ra quyết định tài chính
Xem xét mục tiêu của
quyết định

So sánh giữa lợi ích và chi
Lợi ích và chi phí:
Đo lường bằng tiền
Quy về cùng mốc t/gian
Xem xét gắn với mức đ

Phân tích
tài chính
Sử dụng các
công cụ tài
chính

Quyết định vì lợi ích của ai?
Vì lợi ích xã hội
Vì lợi ích CSH
Vì lợi ích cá nhân

Hình 1.4 – Quá trình phân tích tài chính

21

*) Kỹ thuật và các phương pháp trong phân tích tài chính
+ Các phương pháp dùng trong phân tích tài chính
(1)

(2)

Phương pháp so sánh


So sánh bằng số tuyệt đối.



So sánh bằng số tương đối



So sánh bình quân

Phương pháp xác định nhân tố
• Phương pháp thay thế liên hoàn: các nhân tố lần lượt được thay thế theo

một trình tự nhất định để xác định mức độ ảnh hưởng của chúng đối với chỉ tiêu cần
phân tích bằng cách cố định các nhân tố khác trong mỗi lần thay thế.
• Phương pháp số chênh lệch: sử dụng chênh lệch giữa kỳ phân tích với kỳ
gốc của từng nhân tố để xác định ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích.
(3)

(4)

Phương pháp liên hệ


Liên hệ cân đối



Liên hệ trực tuyến



Liên hệ phi tuyến

Phương pháp hồi quy
• Phương pháp hồi quy đơn: dùng để xét mối quan hệ tuyến tính giữa một

biến kết quả và một biến giải thích hay biến nguyên nhân.
• Phương pháp hồi quy bội: còn gọi là hồi quy đa biến, cho phép thành lập
một mô hình có nhiều biến số độc lập tác động ảnh hưởng đến một biến phụ thuộc.
+ Các kỹ thuật phân tích BCTC
Phân tích cơ bản: là phương pháp dựa trên việc tính toán các chỉ số trên
BCTC, so sánh và rút ra kết luận về ảnh hưởng của các chỉ số này. Gồm phân tích
theo dãy thời gian, phân tích so sánh, phân tích dọc – ngang, phân tích chỉ số …
Phân tích kỹ thuật: phân tích kỹ thuật chỉ chú trọng về biểu đồ, sự giao
động giá cả và số lượng cổ phiếu được mua mà phán đoán sự lên xuống của nó, ít
chú tâm vào công ty cổ phần hoạt động về lĩnh vực gì và cũng không cần biết
BCTC của công ty ra sao.
22