Tải bản đầy đủ
3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THẺ

3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THẺ

Tải bản đầy đủ

68

tiên xem xét khi sử dụng tại các máy của ngân hàng khác. Khi tham gia kết
nối cần tính toán đến chi phí hệ thống vận hành và lợi ích thu được từ việc
sử dụng mạng chung này, công nghệ thẻ của Sacombank đã đầu tư chi phí
rất lớn nên cần phải tận dụng tối đa việc vận hành hệ thống này.
-

Tăng cường biện pháp chống lừa đảo, gian lận ATM: Ở hầu hết các

vụ tranh chấp về mất tiền, cả Ngân hàng phát hành thẻ cũng như khách
hàng đều cho rằng mình đúng. Ngân hàng phát hành thẻ chứng minh mình
đúng bằng cách đưa ra chứng từ giao dịch được lưu tại máy ATM. Còn
khách hàng thì khăng khăng khẳng định vào thời điểm giao dịch được thực
hiện tại máy ATM, mình luôn có mặt ở đó và luôn giữ thẻ bên mình. Như vậy,
ai đúng ai sai? Hay là có khả năng tội phạm sử dụng thẻ giả để rút tiền từ tài
khoản?
-

Cho tới nay ở Việt Nam cũng đã phát hiện nhiều trường hợp bọn tội

phạm nước ngoài dùng thẻ tín dụng giả mang từ nước ngoài vào để rút tiền
tại các điểm đặt máy ATM hoặc các cơ sở chấp nhận thẻ nhưng chưa phát
hiện ra trường hợp nào bọn tội phạm lấy cắp thông tin dữ liệu của chủ thẻ
ATM Việt Nam để làm thẻ giả. Tuy nhiên, Sacombank không nên chủ quan
loại trừ khả năng đó vì tất cả đều có thể xảy ra. Ở một quốc gia như Việt
Nam, nơi mà người dân mới chỉ làm quen với dịch vụ thẻ ATM, chưa có
nhiều người có nhu cầu và khả năng sử dụng thẻ tín dụng thì việc làm giả
thẻ ATM cũng có thể là mục tiêu nhắm đến của bọn cò con. Theo các chuyên
gia, việc sao chép dữ liệu của thẻ rất đơn giản, chỉ cần một bo mạch điện tử
giá từ 25-30USD rất dễ mua trên Internet là bọn tội phạm có thể đạt được
mục đích. Lừa đảo, gian lận ATM không những gây ra tổn thất về tài chính
mà quan trọng hơn là làm khách hàng mất lòng tin trong việc sử dụng ATM,
đều này đi ngược lại với những nỗ lực của nghành ngân hàng trong việc
khuyến khích người dân ngày càng sử dụng nhiều hơn các kênh giao nhận
điện tử, hạn chế thói quen sử dụng tiền mặt. Do vậy, song song với việc
minh bạch hóa trách nhiệm, tăng cường biện pháp phòng ngừa lừa đảo, đặc
biệt là thẻ giả, để hạn chế tối đa những tổn thất có thể gây ra cho Ngân hàng

69

phát hành thẻ cũng như người sử dụng thẻ là một trong những giải pháp
giúp củng cố lòng tin của người sử dụng ATM. Một số biện pháp chống lừa
đảo dưới đây được nhiều quốc gia khuyến nghị nên áp dụng:
3.3.1.1 Nâng cao độ an toàn của thẻ: Theo các chuyên gia, bọn
tội phạm cũng có khả năng sao chép dữ liệu của thẻ chip nhưng khó hơn
nhiều so với sao chép thẻ từ. Do vậy, thay thế thẻ từ bằng thẻ chip cũng là
một giải pháp mà các ngân hàng cần tính đến. Thẻ ATM có ảnh của chủ thẻ
cũng phần nào hạn chế khả năng bọn tội phạm lợi dụng thanh toán tiền mua
hàng tại các điểm chấp nhận thẻ.
3.3.1.2 Lắp đặt camera tại các điểm đặt máy ATM: Camera ghi
hình hỗ trợ rất hiệu quả trong việc giải quyết các khiếu nại của chủ thẻ cũng
như góp phần ngăn ngừa kẻ gian thực hiện hành vi lừa đảo. Từ sau vụ kiện
liên quan đến mất tiền từ thẻ ATM, mà nhiều người cho rằng nếu ngân hàng
phát hành thẻ bị kiện có lắp đặt camera tại điểm đặt máy ATM đó thì mọi việc
đâu phức tạp đến nỗi phải dắt díu nhau ra tòa, các ngân hàng phát hành thẻ
cũng đã dự tính lắp đặt camera tại các điểm đặt máy ATM của mình. Thực tế
đã có một số ngân hàng đi tiên phong đã thực hiện đặt camera ghi hình tại
các điểm đặt máy ATM và kết quả thu được rất tích cực, nhiều vụ tranh
chấp, khiếu nại liên quan đến việc mất tiền từ thẻ ATM đã được giải quyết
ngay sau khi xem băng ghi hình. Có điều thú vị là hầu hết những tội phạm
ATM bị ghi hình tại trận là những người thân trong gia đình chủ thể.
3.3.1.3 Tạo thẻ ATM có khả năng ghi lại thông tin giao dịch trên
thẻ để tổ chức phát hành thẻ có thể xác định có hay không những giao dịch
ATM không được ủy quyền được thực hiện bằng thẻ giả. Ví dụ khi khách
hàng khiếu nại về mất tiền từ thẻ ATM, tổ chức phát hành thẻ có thể kiểm tra
thông tin giao dịch được ghi lại trên thẻ (10 hay 20 giao dịch cần nhất chẳng
hạn) và đối chiếu với những thông tin giao dịch ghi lại tại máy ATM để xác
định giao dịch được thực hiện bằng thẻ giả hay thẻ thật. Khả năng cấu tạo
chức năng nay cho thẻ chắc sẽ không quá khó đối với thẻ chip. Có thể đây
mới chỉ là ý tưởng phụ thuộc vào yếu tố công nghệ nhưng thiết nghĩ các

70

ngân hàng phát hành thẻ nên bắt đầu nghĩ đến khả năng đó ngay từ bây giờ.
Ngoài ra có thẻ nâng cao độ an toàn cho thẻ bằng cách sử dụng dấu vân tay
của chủ thẻ. Chủ thẻ đến đăng ký mở thẻ sẽ đăng ký dấu vân tay của mình.
Ngân hàng sẽ mã hóa dấu vân tay để tạo ra một số tài khoản. Khi đó, máy
ATM sẽ có thêm thiết bị đọc dấu vân tay. Chủ thẻ giao dịch tại máy ATM phải
thực hiện mở khóa thẻ bằng dấu vân tay. Như vậy, ngay cả người thân của
chủ thẻ nếu biết số PIN cũng không rút tiền được.
3.3.1.4 Thường xuyên đi tuần tra, kiểm tra máy ATM trong và
ngoài giờ hành chính, đặc biệt chú ý các máy ATM đặt ngoài trụ sở làm việc
và ngoài trời. Việc đi tuần tra, kiểm tra thường xuyên máy ATM có thể giúp
phát hiện ra những thiết bị Skimmming gắn vào máy ATM, đồng thời là cách
cảnh báo bọn tội phạm biết rằng ATM luôn được kiểm tra, theo dõi, do vậy
rất khó dở trò lừa đảo. Một số ngân hàng phát hành thẻ đã mạnh dạn đặt các
máy ATM ở ngoài trời (ở các trạm xăng dầu, bên hè đường…) càng phải tổ
chức tốt công tác tuần tra, kiểm tra.
3.3.1.5 Cảnh báo cho khách hàng biết nếu có những giao dịch bất
bình thường.
3.3.1.6

Khuyến khích khách hàng báo cho tổ chức phát hành thẻ

khi phát hiện có những thiết bị nghi ngờ gắn vào máy ATM.
3.3.1.7 Nâng cao nhận thức của chủ thẻ về tầm quan trọng của
việc bảo vệ thẻ và Pin bằng cách khuyến nghị chủ thẻ thực hiện một số yêu
cầu tối thiểu sau: chọn số PIN khác với số điện thoại, số CMND, ngày sinh
của chủ thẻ; nhớ số PIN và không bao giờ ghi số PIN và cất vào trong ví
hoặc ghi số PIN trên giấy nộp tiền, phong bì hay bưu thiếp; kiểm tra đối chiếu
biên lai ATM với sao kê tài khoản; báo cho tổ chức phát hành thẻ ngay khi
phát hiện mất thẻ…
-

Do chưa nhận thức đầy đủ những rủi ro có thể xảy ra nên một bộ phận

các chủ thẻ vẫn còn rất chủ quan và tùy tiện trong việc quản lý và sử dụng
thẻ. Hiện tượng công nhân cử một đại diện cầm một sấp thẻ đi rút hộ lương
cũng rất phổ biến tại các điểm đặt máy gần các khu công nghiệp; tình trạng

71

chồng biết số PIN của vợ và ngược lại cũng khá phổ biến. Nhiều vụ khiếu nại
mất tiền, sau khi xem băng hình mới biết “những người yêu quý”, “bạn thân”
của mình là thủ phạm… để khách hàng giữ ý thức hơn về việc giữ gìn thẻ và
số PIN của mình và tránh những khiếu nại không đáng có Ngân hàng phát
hành thẻ nên thông báo những khuyến nghị tại các điểm đặt máy ATM.
3.3.2 Về mặt kinh doanh thẻ
-

Xây dựng những chính sách kết hợp với các Chi nhánh của

Sacombank để phát triển thẻ dựa trên số lượng khách hàng của Chi nhánh.
Phải xem các chi nhánh như là đối tác phát hành thẻ cho Trung tâm thẻ
Sacombank. Phân chia lợi nhuận với các chi nhánh để khuyến kích chi
nhánh tham gia phát hành thẻ cho Sacombank, bởi vì khi phát triển số lượng
thẻ thì chi nhánh cũng phải tốn nhân lực và các nguồn khác để phục vụ cho
việc gia tăng số lượng thẻ. Cho nên cần phải có nguồn thu để bù đắp lại
những chi phí mà chi nhánh đã bỏ ra để đầu tư cho mảng phát hành thẻ.
Nếu như những nguồn lực này không phải để phát triển thẻ mà dùng để phát
triển những dịch vụ truyền thống khác thì chi nhánh cũng thu được lợi nhuận,
vì vậy cần thiết phải có sự phân chia lợi nhuận một cách phù hợp để đảm
bảo số lượng phát hành thẻ tại các chi nhánh.
-

Bám sát đối tượng kinh doanh của từng sản phẩm thẻ để phát triển

theo chi tiêu đã đề ra. Chính sách ưu đãi khi tiếp cận với khách hàng mục
tiêu nhằm mục đích khuyến khích những khách hàng này tham gia sử dụng
thẻ của Sacombank
-

Tổ chức đào tạo chi nhánh về nghiệp vụ thẻ, khi chi nhánh hiểu rõ về

sản phẩm thẻ thì việc phát hành thẻ tại chi nhánh cũng thuận lợi hơn.
-

Xây dựng những sản phẩm thẻ mới phù hợp với nhu cầu khách hàng,

tạo ra đựợc sự khác biệt khi sử dụng thẻ cho khách hàng. Chính điều này sẽ
khuyến khích khách hàng sử dụng thẻ Sacombank và trở thành khách hàng
trung thành của Sacombank. Muốn làm được điều này phải có sự phối hợp
chặt chẽ với các Phòng ban tại Trung tâm thẻ và phản ánh kịp thời của nhân
viên kinh doanh thẻ về nhu cầu mới của khách hàng.

72

-

Hoàn thành chỉ tiêu về số lượng cũng như chất lượng nhằm mục đích

gia tăng giá trị của Trung tâm thẻ khi tiến hành kết nối hệ thống giữa các
ngân hàng sử dụng thẻ tại Việt Nam. Khi tham gia kết nối hệ thống thì nếu
Sacombank có số lượng thẻ phát hành nhiều, điểm rút tiền mặt và chấp nhận
thanh toán thanh toán rộng khắp thì lợi thế hợp tác sẽ nhiều hơn các ngân
hàng khác và khi đó lợi ích từ việc hợp tác này cũng sẽ cao hơn.
-

Bên cạnh việc phát hành thẻ cho những khách hàng mới, Trung tâm

thẻ phải chú trọng chăm sóc và giữ chân những chủ thẻ hiện hữu. Bởi vì chi
phí sử cho việc giữ chân một khách hàng cũ sẽ thấp hơn rất nhiều chi phí
cho việc tìm kiếm một khách hàng mới và hiệu quả của những khách hàng
cũ thường cao hơn các khách hàng mới tham gia sử dụng thẻ.
-

Phát triển ATM và mạng lưới chấp nhận thanh toán thẻ phù hợp với

nhu cầu sử dụng thẻ cùa khách hàng. Phát triển tại những nơi chủ thể
thường xuyên mua sắm hoặc rút tiền mặt. Đối với các công ty thanh toán
lương qua thẻ thì nên cân nhắc để triển khai ATM tại công ty đó và bên cạnh
đó phát hành thẻ cho các công ty xung quanh để tận dụng công suất phục vụ
của ATM.
-

Nhanh chóng thêm một số tiện ích cơ bản cho thẻ như có thể chuyển

khoản được, và tốt hơn là có thể chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng
Sacombank sang tài khoản của một người khác tại ngân hàng khác. Điều
này làm cho khách hàng tiết kiệm nhiều thời gian hơn so với việc vào chi
nhánh hay điểm giao dịch để chuyển tiền. Thanh toán hóa đơn điện, nước,
điện thoại.
-

Mở rộng nhiều ưu đãi cho chủ thẻ tại các các cơ sở chấp nhận thẻ. Ví

dụ như chiết khấu, giảm giá hay tặng quà cho khách hàng nào thanh toán
bằng thẻ. Và ngân hàng cũng phải tính toán sao cho mình không bị giảm lợi
nhuận và đại lý cũng có lợi.
-

Thêm một số tiện ích mới như chuyển tiền vào tài khoản mua séc

trắng tại máy ATM, xem các giao dịch đã thực hiện và tra cứu số dư qua
mạng Internet, giao dịch mua hàng hóa trong nước qua mạng bằng thẻ nội

73

địa. Phương pháp này vừa nhằm thõa mãn nhiều nhu cầu của khách hàng
vừa tăng thêm thu nhập cho ngân hàng. Đồng thời, thẻ của các ngân hàng
khác nhau sẽ được phân biệt hóa. Hiện tại thì các tiện ích của thẻ của các
ngân hàng khác nhau tương đối giống nhau, và các ngân hàng chỉ cạnh
tranh bằng mức phí. Điều này rốt cuộc chỉ làm tăng thêm chi phí và khó khăn
hơn trong việc tìm kiếm khách hàng.
-

Tất cả các thông tin liên quan đến thẻ như là hướng dẫn sử dụng,

cách kiểm tra số dư, cách thanh toán, mức lãi suất, mức phí, các câu hỏi
thường gặp… đều được đăng tải đầy đủ và rõ ràng trên trang web cũa ngân
hàng như một số ngân hàng nước ngoài đã thực hiện.
-

Ngân hàng sẽ chuyển từ thẻ thanh toán sang thẻ tín dụng cho những

chủ thẻ có doanh số giao dịch lớn. Ví dụ như năm vừa rồi chủ thẻ nào có
doanh số sử dụng trên 50 triệu sẽ được chuyển từ thẻ thanh toán sang thẻ
tín dụng.
-

Đa dạng hóa các loại thẻ.
+ Phát hành thẻ phổ thông cho những người có thu nhập không cao,

thẻ này chỉ có những tiện ích cơ bản như rút tiền, thanh toán, chuyển khoản.
Như vậy, khách hàng sẽ phải trả ít hơn cho các loại phí khi sử dụng thẻ.
+ Phát hành loại thẻ dành riêng cho người hay đi lại, khi chủ thẻ
thanh toán vé tàu lửa, tàu cánh ngầm, máy bay, xe ôtô bằng thẻ này thì sẽ
được ưu tiên, giảm giá và có thể đăng ký vé qua mạng Internet.
+ Loại thẻ đặc trưng theo yêu cầu của chủ thẻ. Có một bộ phận
khách hàng mà đặc biệt là giới trẻ muốn mình khác với mọi người và họ
cũng muốn tấm thẻ của mình khác với thẻ của những người khác. Như vậy
ngân hàng có thể in những hình ảnh, biểu tượng theo đề nghị của chủ thẻ. Ví
dụ như hình phong cảnh, hình thú vật, hình người thân của chủ thẻ và thậm
chí là một hình kỳ dị nào đó.
+ Phát hành thẻ cho những người thích thể thao, chủ thẻ được
hưởng nhiều ưu đãi tại các câu lạc bộ thể thao như cầu lông, bóng đá.

74

+ Phát hành loại thẻ chuyên biệt dành cho người thành đạt. Các chủ
thẻ này sẽ được ưu tiên khi đặt phòng tại khách sạn, khi đặt ghế Business
hay First Class trên máy bay. Các ưu đãi đặc biệt tại các khu du lịch, resort
cao cấp. Các ưu đãi có thể thay bằng cách tính điểm để đổi quà tặng.
+ Phát hành tờ hướng dẫn bỏ túi trong đó hướng dẫn đầy đủ cách sử
dụng thẻ, địa điểm đặt máy ATM, số điện thoại khẩn cấp…
3.3.3 Về Chính sách - Rủi ro
-

Đảm bảo hoạt động thẻ của Sacombank hoạt động đúng theo quy định

của Pháp luật Việt Nam và thông lệ của các tổ chức chấp nhận thẻ quốc tế.
-

Cần xây dựng những chính sách phù hợp,linh động để tạo điểu kiện

cho Phòng kinh doanh phát hành được số lượng thẻ cần thiết. Kết hợp với
Phòng kinh doanh để xây dựng những chính sách phát triển chăm sóc thích
hợp cho khách hàng sử dụng thẻ. Bên cạnh đó phải có những quy trình thật
rõ ràng để quàn lý rủi ro từ thẻ quốc tế. Nếu hạn chế được rủi ro thì sẽ làm
giảm được chi phí cho Sacombank góp phần tăng lợi nhuận.
-

Thường xuyên cập nhật những chính sách mới của các ngân hàng

cạnh tranh trong lĩnh vực phát hành thẻ để điều chỉnh kịp thời chính sách của
Sacombank nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng.
-

Thường xuyên cập nhật thông tin cho toàn thể Trung tâm thẻ

Sacombank về những quy định mới của các tô chức chấp nhận thẻ quốc tế
cũng như những trường hợp phát hiện gian lận trong thời gian mới nhất.
-

Kết hợp với Phòng Kỹ Thuật Trung tâm thẻ để kiềm tra, giám sát

những giao dịch mang tính rủi ro cao, để kịp thời ngăn chặn và xử lý giao
dịch một cách hiệu quả nhất.
-

Xử lý khiếu nại, bồi hoàn thỏa đáng cho khách hàng cũng là một giải

pháp giúp củng cố lòng tin của khách hàng ATM. Thời gian qua đã có nhiều
khiếu nại của khách hàng chưa được giải quyết nhanh và thỏa đáng, khiến
dư luận ầm ĩ, thậm chí có tranh chấp phải đưa nhau ra tòa. Những sự việc
này đã ít nhiều làm mất lòng tin của không ít những người đang sử dụng thẻ
cũng như có ý định sử dụng thẻ ATM. Do vậy, Ngân hàng phát hành thẻ cần

75

tổ chức tốt công tác xử lý khiếu nại của khách hàng, bảo đảm những khiếu
nại của khách hàng phải được điều tra ngay và đầy đủ và giải quyết thõa
đáng. Để đạt được mục đích này Ngân hàng phát hành thẻ cần thiết lập
được đường dây nóng và bộ phận chuyên trách 24/24 xử lý mọi khiếu nại,
yêu cầu của khách hàng; đối với những khiếu nại tổn thất nghiêm trọng, xét
tính chất phức tạp, có yếu tố lừa đảo.
3.3.4 Về Kế toán – Hành chánh
-

Phải theo dõi những khoản phải trả cho các ngân hàng thành viên khi

thực hiện giao dịch thanh toán qua lại của các chủ thẻ sử dụng thẻ quốc tế.
Theo dõi những chi phí đầu tư cho hệ thống phát hành và chấp nhận thanh
toán thẻ cùa Sacombank.
-

Quản lý những tài sản cố định của Trung tâm thẻ để phản ánh kịp thời

tình trạng sử dụng tài sản cố định của Trung tâm thẻ. Phải nắm rõ những
khoản phí của các tổ chức thẻ quốc tế để tiến hành thanh toán đúng và đủ
các các tổ chức này.
-

Quản lý tốt những chi phí này góp phần hoạch định tài chính rõ ràng

và chính xác, xây dựng tốt dự phòng rủi ro do việc phát hành và chấp nhận
thanh toán thẻ quốc tế.
-

Hỗ trợ các Chi nhánh của Sacombank về mặt hạch toán đối với những

giao dịch thẻ quốc tế. Giúp chi nhánh có được hệ thống báo cáo đầy đủ về
giao dịch thẻ trong kỳ, nhất là những giao dịch thẻ tín dụng. Vì những giao
dịch này liên quan đến việc quản lý tín tại Chi nhánh. Tránh xảy ra tình trạng
nợ quá hạn của Chi nhánh liên quan đến thẻ tín dụng, vì theo quy định của
Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam hiện nay thì chỉ một khoản nợ quá hạn thì
kéo theo toàn bộ dư nợ của khách hàng đó cũng quá hạn theo. Điều này ảnh
hưởng rất nhiều đến việc sử dụng vốn của ngân hàng nhất là phái trích dự
phòng rủi ro cho những giao dịch đó là không cần thiết.
-

Theo dõi hệ thống hạch toán tự động của Trung tâm thẻ về những giao

dịch mà chủ thẻ của Sacombank sử dụng. Nếu như việc ghi Nợ tài khoản
khách hàng có sai sót thì ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý sử dụng thẻ của chủ

76

thẻ. Điều này sẽ gây cản trở rất nhiều cho công việc phát hành thẻ của toàn
bộ Sacombank.
3.3.5 Lãnh đạo Trung tâm thẻ
-

Thường xuyên theo dõi động thái thị trường thẻ tại Việt Nam để điều

chỉnh chiến lược phát hành thẻ cho phù hợp với thực tế.
-

Hỗ trợ Phòng kinh doanh tiếp cận và phát triển những đối tác chiến

lược, chủ động quyết định những chính sách thích hợp cho những đối tác
này trong phạm vi quyền hạn của Ban giám đốc Trung tâm thẻ.
-

Trung tâm thẻ trong thời gian mới tham gia thị trường thẻ nên mọi thứ

còn rất hạn chế và chưa tạo được lợi nhuận cho ngân hàng. Vì vậy cần có
sự quan tâm đúng mức của Ban điều hành Sacombank đới với Trung tâm
thẻ. Ban điều hành phải cam kết hỗ trợ tối đa về vốn, công nghệ như mục
tiêu chiến lược đã xác định trong năm 2006. Nếu như được sự ủng hộ
nghiêm túc từ Ban điều thì Trung tâm thẻ mới có thể đạt được mục tiêu đề
ra.
-

Tổ chức đào tạo nâng cao nghiệp vụ của nhân viên Trung tâm thẻ để

nhân viên có thể có đầy đủ kiến thức đối với công nghệ cao này.
-

Sacombank cần phải quán triệt chủ trương liên kết để phát triển thẻ

của Sacombank. Có hai phương hướng liên doanh phát triển thẻ:
3.3.6

Kết hợp với ngân hàng ANZ để thành lập Công ty liên

doanh thẻ đầu tiên tại Việt Nam trong đó Sacombank sẽ là cổ đông lớn
chiếm khoảng 65% vốn của liên doanh này.
+ Bởi vì ANZ là đối tác chiến lược của Sacombank sở hữu 10% cổ
phần của Sacombank. Ngân hàng ANZ có kinh nghiệm rất nhiều trong lĩnh
vực thẻ trên thế giới và đã từng hợp tác với Sacombank trong những năm
đầu phát triển thẻ. Khi tham gia liên doanh này Sacombank sẽ phát triển
mảng thẻ nhanh chóng và ổn định hơn, ngân hàng ANZ sẽ hỗ trợ về kinh
nghiệm quản lý, công nghệ thẻ hiện đại còn Sacombank hợp tác về lượng
khách hàng, thị trường thẻ, công nghệ hiện tại và đội ngũ nhân viên được
đào tạo khá bài bản. Khi thành lập công ty liên doanh thì chiến lược phát

77

triển thẻ sẽ được định hướng lâu dài và chuyên nghiệp hơn. Lúc đó vị trí thẻ
của Sacombank tại thị trường ViệT Nam cũng sẽ nâng lên một mức cao hơn
và thu nhập từ mảng thẻ của Sacombank dần dần ổn định và tăng trưởng
hơn.
+ Trong quá trình gia nhập WTO nếu Sacombank vẫn tự mình phát
triển thẻ thì khả năng cạnh tranh với các ngân hàng trong và ngoài nước sẽ
càng ngày càng hạn chế và mất dần thị phần của lĩnh vực này. Nếu độc lập
phát triển thì Sacombank sẽ phải đầu tư nhiều hơn, chi phí phát triển thẻ sẽ
nhiều mà thu nhập thì còn rất hạn chế, sẽ phát triển chậm hơn các ngân
hàng khách trong lĩnh vực này. Lúc đó Sacombank sẽ khó lòng cạnh tranh
để giành thị phần thẻ tại Việt Nam.
Liên doanh với các ngân hàng chưa có hệ thống vận hành thẻ: Sacombank
sẽ đóng vai trò là ngân hàng dẫn đầu cho các ngân hàng khác tham gia lĩnh
vực phát hành và chấp nhận thanh toán thẻ. Nhằm mục đích tận dụng những
khách hàng hiện có của các ngân hàng để gia tăng số lượng thẻ cũng như
giao dịch thẻ trên ATM/POS. Tuy nhiên, việc liên kết này cũng có những hạn
chế nhất định của nó bởi vì sự hoạt động này chưa thật sự hiệu quả, phát
triển chưa theo một định hướng lâu dài mà mỗi ngân hàng tham gia sẽ tự
quyết định là phát hành bao nhiêu thẻ và chính sách duy trì khách hàng
không đồng nhất. Vì vậy sẽ ảnh hưởng đến chiến lược phát triển chung của
liên minh này và khó đạt được những kỳ vọng trong tương lai. Khả năng
cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài vẫn chưa đủ tầm để phát triển bền
vững.

78

PHẦN KẾT LUẬN
-

Sacombank có lợi thế là ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn

nhất Việt Nam. Với lượng khách hàng giao dịch rất lớn trên toàn quốc rất thuận lợi
cho việc phát hành và thanh toán thẻ. Tuy nhiên cũng là ngân hàng mới tham gia
vào lĩnh vực thẻ nên còn gặp rất nhiều hạn chế về kinh nghiệm cũng như cạnh
tranh với các ngân hàng đi trước. Trong suốt thời gian phát triển thẻ Sacombank đã
trải qua rất nhiều khó khăn do chưa có được định hướng phát triển thẻ lâu dài. Để
thẻ phát triển được bền vững đòi hỏi Sacombank phải tuân thủ theo đúng định
hướng chiến lược đã đề ra. Đề tài “Thẻ Sacombank-Thực trạng và chiến lược phát
triển” xây dựng trên khả năng hiện có của Sacombank cũng như tình hình phát triển
thẻ tại Việt Nam. Vì vậy đề tài này sẽ hỗ trợ Sacombank rất nhiều trong việc tìm ra
hướng đi riêng của mình.
-

Bên cạnh đó, để sản phẩm thẻ của Sacombank có đủ sức cạnh tranh cũng

đáp ứng nhu cầu cùa khách hàng trong những năm tới. Sacombank cần phải có
chiến lược liên doanh với ngân hàng ANZ để thành lập Công ty liên doanh thẻ đầu
tiên tại Việt Nam. Việc liên doanh này rất có lợi cho Sacombank trong lĩnh vực phát
hành và chấp nhận thanh toán thẻ và cũng là con đường ngắn nhất để thẻ
Sacombank trở thành thẻ hàng đầu tại Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay
Sacombank không thể phát triển thẻ một cách độc lập được vì khả năng nội tại của
Sacombank và những ảnh hưởng bên ngoài của các ngân hàng cạnh tranh.
-

Vai trò của nhà nước tác động rất lớn đến quá trình phát triển thẻ tại Việt

Nam, mạng thanh toán quốc gia giúp các ngân hàng kết nối với nhau. Làm giảm chi
phí đầu tư cho các ATM/POS và tăng tiện ích sử dụng thẻ. Lúc đó chính sách phát
triển thẻ của các ngân hàng sẽ đồng nhất về mặt cạnh tranh, giúp cho hiệu quả
kinh doanh thẻ của các ngân hàng sẽ được nâng cao hơn. Cạnh tranh về giá là
cạnh tranh không lành mạnh là đang làm đau đầu các nhà quản lý thẻ của các ngân
hàng Việt Nam. Những ngân hàng lớn có tiềm lực tài chính mạnh xem việc cạnh
tranh về giá là vũ khí bất khả xâm phạm và gây khó khăn cho các ngân hàng khác.
Để giải quyết vấn đề này chỉ có ngân hàng nhà nước mới có thẻ làm cho các ngân
hàng ngồi lại với nhau và có chính sách phát triển lành mạnh.