Tải bản đầy đủ
4 Lợi ích của việc sử dụng thẻ

4 Lợi ích của việc sử dụng thẻ

Tải bản đầy đủ

12

thể mua được hàng hóa, dịch vụ tại các cửa hàng, siêu thị,nhà hàng, đặt vé
máy bay, đặt phòng khách sạn, mua hàng qua mạng Internet…mà không cần
phải đến tận nơi cung cấp. Đối với những người hay đi công tác nước ngoài
hay những gia đình có con em đi du học nước ngoài thì thẻ thanh toán là một
phương tiện thanh toán rất cần thiết để không phải mang theo một lượng
tiền mặt lớn bên mình vừa bất tiện vừa không an toàn.
-

Bên cạnh đó, với hệ thống máy ATM phục vụ 24/24, chủ thẻ có thể sử

dụng để rút tiền mặt khi có nhu cầu bất cứ khi nào mà không phải phụ thuộc
vào thời gian làm việc của ngân hàng. Các tiện ích này khách hàng có thể
thực hiện dễ dàng không chỉ phạm vi trong nước mà còn trên phạm vi toàn
cầu (đối với thẻ quốc tế). Như vậy với việc sử dụng thẻ sẽ giảm được nhiều
chi phí cũng như tiết kiệm thời gian hơn hẳn so với dùng tiền mặt.
-

Đặt biệt với thẻ tín dụng, chủ thẻ sẽ được cấp trước một khoản tiền để

sử dụng mà không bị trả lãi cho ngân hàng trong thời gian ưu đãi nấht định
tùy theo chính sách của từng ngân hàng. Theo đó,chủ thẻ có thể mua được
những hàng hóa mình muốn ngay cả khi không có tiền mà không phải làm
thủ tục vay vốn như các hình thức khác. Ngoài ra, đối với thẻ ATM số tiền
trong tài khoản của chủ thẻ sẽ được hưởng lãi suất không kỳ hạn giống như
một hình thức gửi tiết kiệm cho số tiền không sử dụng đến, và khi nào cần thì
chủ thẻ có thể dễ dàng rút ra để sử dụng. Như vậy sử dụng thẻ tiền sẽ được
sinh lời trong khi sử dụng tiền mặt thì không sinh lời.
-

Hàng tháng,ngân hàng đều gửi bản sao kê liệt kê những giao dịch đã

được thực hiện trong tháng với đầy đủ những nội dung như: gía trị giao
dịch,thời gian giao dịch, địa điểm giao dịch…mà bình thường sử dụng bằng
tiền mặt chúng ta không thể nào nhớ hết được. Do đó sử dụng thẻ giúp
chúng ta có thể kiểm soát được việc chi tiêu để từ đó lên kế hoạch và cân
đối lại ngân sách sao cho hợp lý và phù hợp với nhu cầu.
-

Bên cạnh những lợi ích tài chính trên thì những lợi ích phi tài chính mà

tấm thẻ đem lại cho người sử dụng là không thể phủ nhận được: sự văn

13

minh,tiện lợi,bộc lộ một tác phong công nghiệp,một nét văn hóa mới trong
tiêu dùng,cũng như thể hiện sự hội nhập với nên kinh tế thế giới.
1.4.2 Đối với ngân hàng phát hành thẻ
-

Dịch vụ thẻ góp phần tạo nên nguồn thu nhập cho ngân hàng phát

hành thẻ thông qua các khoản phí thu từ khách hàng như: phí thường
niên,phí chuyển tiền mặt,phí thu lãi trả chậm (đối với thẻ tín dụng), phí
chuyển đổi ngoại tệ, chânh lệch tỷ giá (đối với thẻ quốc tế).
-

Góp phần đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng,giữ chân khách hàng

cũ, thu hút thêm khách hàng mới và củng cố thêm mối quan hệ giữa ngân
hàng và khách hàng. Thông qua dịch vụ thẻ ngân hàng đã tạo điều kiện cho
khách hàng biết đến mình vì khi đã sử dụng sản phẩm, dịch vụ của một ngân
hàng thí khách hàng cũng sẽ có nhu cầu tìm hiểu thêm về ngân hàng đó
cũng như những sản phẩm,dịch vụ khác như: tín dụng,thanh toán,chuyển
tiền,gửi tiết kiệm…Đối với khách hàng mới thì đây chính là cầu nối giữa ngân
hàng với khách hàng. Mỗ khách hàng tìm đến dịch vụ thẻ của ngân hàng là
một khách hàng tiềm năng của ngân hàng, vì vậy ngân hàng vừa đa dạng
hóa được các sản phẩm,dịch vụ của mình vừa thu được nhiều lợi nhuận
hơn.
-

So với các tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt khác (séc, ủy

nhiệm thu,ủy nhiệm chi, thư dụng, ngân phiếu thanh toán,..)chỉ đáp ứng các
đối tượng là các tổ chức và doanh nghiệp với quy mô giao dịch lớn, thẻ ngân
hàng có ưu điểm vượt trội là có khả năng phổ cập đông đảo tầng lớp dân cư
một lượng khách hàng tiềm năng rất lớn trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay.
-

Dịch vụ thẻ góp phần làm giảm các chi phí hoạt động cho ngân hàng

phát hành. Bởi lẽ việc lắp đặt một máy ATM đơn giàn và tốn ít chi phí so với
việc thành lập một phòng giao dịch truyền thống. Các ngân hàng không phải
quan tâm nhiều đến đất đai,nhà cửa,nhân viên,bảng hiệu…đó là những
khoản chi phí lớn hơn rất nhiều so với chi phí cho một máy ATM. Hơn
nữa,chi phí lao động tại các quầy giao dịch,chi phí kiểm đếm,đóng gói,bảo
quản, vận chuyển và chi trả tiền mặt cũng như những khoản chi phí không

14

nhỏ ở các ngân hàng. Ngày nay, các ATM với khả năng xử lý đa dịch vụ,các
phòng giao dịch truyền thống đã chuyển dần những nghiệp vụ có thể cho
ATM. Như vậy chi phí hoạt động của ngân hàng chắc chắn được tiết kiệm rất
nhiều.
-

Thông qua hoạt động phát hành thẻ,các ngân hàng đã huy động được

nguồn vốn nhàn rỗi đáng kể trong dân cư với chi phí thất khi họ gửi tiền vào
tài khoản thẻ. Như chúng ta đã biết đối với tiền gửi trong tài khoản thẻ ký quỹ
thanh toán ngân hàng chỉ phải trả lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ
hạn,thấp hơn so với lãi suất huy động từ tiền gủi tiết kiệm. Với nguồn tiền
huy động này, ngân hàng dùng để cho vay để tăng thêm thu nhập.
-

Kinh doanh thẻ là lĩnh vực có thu nhập cao mà lại có tính an toàn hơn

so với các sản phẩm truyền thống khác của ngân hàng. Đối với thẻ thanh
toán ký quỹ thì khách hàng phải nạp tiền vào tài khoản và chỉ được chi tiêu
trên số tiền đó. Đối với thẻ tín dụng thì hầu hết các ngân hàng đều yêu cầu
khách hàng phải ký quỹ tiền mặt bằng hạn mức tín dụng được cấp hoặc thế
chấp sổ tiết kiệm có số dư bằng hạn mức tín dụng được cấp, và do đó nếu
khách hàng không trả đuợc nợ thì ngân hàng cũng đã có khoản thế chấp này
để bù đắp rủi ro.
1.4.3 Đối với ngân hàng thanh toán
-

Ngân hàng thanh toán thẻ thu đuợc phí chiết khấu đại lý từ các đơn vị

chấp nhận thanh toán thẻ. Điều này một mặt góp phần làm tăng thu nhập
cho ngân hàng,mặt khác sẽ giúp ngân hàng mở rộng được đối tượng thanh
toán,và có thêm nguồn khách hàng chính là những đơn vị chấp nhận thanh
toán thẻ, vì khi các đơn vị này ký hợp đồng với ngân hàng thanh toán thì họ
cũng sẽ mở luôn tài khoản tại đây, do đó họ có thể sử dụng thêm các dịch vụ
khác mà ngân hàng cung cấp khi có nhu cầu.
-

Như vậy thông qua việc làm trung gian thanh toán các ngân hàng

thanh toán thẻ cũng đã huy động được một nguồn vốn từ tài khỏan của các
nhà bán sỉ và bán lẻ có chấp nhận thanh toán thẻ và có thể sử dụng nguồn
vốn này, vì khi thu được tiền bán hàng hóa,dịch vụ các đơn vị này có thể

15

không rút ra sử dụng ngay mà vẫn giữ trên tài khoản tại ngân hàng thanh
toán đến cuối kỳ mới sử dụng.
-

Thông qua các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ,các ngân hàng thanh

toán có thể mở rộng thêm mạng lưới hoạt động, và có thể phát triển các sản
phẩm,dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng hiệu quả hơn.
1.4.4 Đối với đại lý chấp nhận thanh toán thẻ: việc chấp nhận
thanh toán thẻ mang lại cho đơn vị chấp nhận thẻ rất nhiều lợi ích:
-

Thứ nhất, việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ đã làm tăng doanh số

bán hàng và cung cấp dịch vụ cho các đơn vị chấp nhận thẻ. Thanh toán
bằng thẻ giúp khách hàng mua sắm hàng hóa nhiều hơn với giá trị cao hơn,
nhất là đối với thẻ tín dụng, khách hàng có thể mua hàng ngay khi họ chưa
có sẵn tiền mặt. Trong khi sử dụng tiền mặt thì khách hàng chỉ có thể mua
đúng với số tiền mang theo bên mình. Việc thanh toán bằng thẻ được tiến
hành nhanh gọn do đó giảm được tình trạng trả chậm cho khách hàng. Tất
cả những lợi ích trên đã giúp đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ bán được
nhiều hàng hơn,làm gia tăng doanh số cũng như lợi nhuận.
-

Thứ hai: việc thanh toán bằng thẻ giúp làm giảm các chi phí cho các

đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ như chi phí kiểm đếm tiền mặt, bảo quản
tiền mặt,chi phí đóng gói, vận chuyên tiền gửi đến ngân hàng…do đó làm
cho tiện ích của đơn vị đó tăng lên khá nhiều. Bên cạnh đó,việc thanh toán
bằng thẻ còn giúp các cửa hàng tránh rủi ro thu tiền giả,tình trạng gian
lận,mất cắp tiền trong thanh toán, giảm thời gian cho việc quản lý,thu tiền
mặt,cũng tránh được những mâu thuẫn có thể phát sinh trong việc thanh
toán bằng tiền mặt giữa các nhân viên cửa hàng,cũng như giữa nhân viên
với khách hàng.
-

Bên cạnh đó, thanh toán bằng thẻ giúp đơn vị chấn nhận thẻ tăng

được khả năng cạnh tranh của mình so với các đơn vị chỉ chấp nhận thanh
toán bằng tiền mặt. Ngày nay,xu hướng sử dụng thẻ trong thanh toán ngày
càng trở nên phổ biến. Bên cạnh lượng khách hàng trong nước thì lượng
khách nứơc ngoài đến Việt Nam không ngừng gia tăng và tất nhiên việc

16

khách hàng yêu cầu được thanh toán bằng thẻ cũng tăng lên. Do đó, nếu
các cửa hàng không có thanh toán bằng thẻ thì tất yếu khách hàng sẽ tìm
đến những cửa hàng khác có thanh toán bằng thẻ. Như vậy các cửa hàng đã
mất đi một lượng khách hàng vào tay các đối thủ khác.
-

Ngoài ra, khi chấp nhận thanh toán thẻ cho các ngân hàng, các đơn vị

sẽ đựơc trang bị những thiết bị đọc thẻ hiện đại, đội ngũ nhân viên được
huấn luyện nghiệp vụ thanh toán thẻ hoàn toàn miễn phí, được hưởng nhiều
chính sách ưu đãi từ phía ngân hàng và đặc biệt là có cơ hội đựơc tiếp cận
với những dịch vụ khác của ngân hàng. Đối với những đại lý đã gắn bó nhiều
năm và có quan hệ tốt với ngân hàng thì có thể đựơc xem xét cho vay trong
một hạn mức nào đó mà không cần thế chấp tài sản.
1.4.5 Đối với nền kinh tế-xã hội: việc sử dụng thẻ trong thanh toán
không chỉ đem lại lợi ích rất nhiều mặt cho các chủ thể tham gia mà nó còn
đem lại nhiều lợi ích cho việc điều hành chính sách vĩ mô của nền kinh tế-xã
hội.
-

Việc thanh toán bằng thẻ được tập trung qua hệ thống ngân hàng rất

an toàn,chính xác và tiết kiệm nhiều thời gian, qua đó giúp cho người dân
tiếp cận gần với ngân hàng hơn ,tạo lập được niềm tin của người dân vào
hoạt động của hệ thống ngân hàng. Nhà nước thông qua hệ thống ngân
hàng sẽ kiểm soát được các giao dịch thanh toán của dân cư cả nền kinh tế,
đây là tiền đề cho việc tính toán lượng cung ứng tiền tệ và điều hành chính
sách tiền tệ ngày càng hiệu quả hơn.
-

Hạn chế được các hoạt động kinh tế ngầm, giảm thiểu các tiêu cực,

tăng cường tính chủ đạo của Nhà nước trong việc điều tiết nên kinh tế, đặc
biệt là điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia.
-

Việc sử dụng thẻ trong thanh toán tạo lập cho người dân thói quen

mới: thanh toán không dùng tiền mặt, giúp ngân hàng huy động được nguồn
vốn rất lớn trong dân cư với chi phí thấp, ngân hàng có thể sử dụng nguồn
vốn này vào các hoạt động kinh doanh của mình góp phần tăng thêm lợi
nhuận. Hơn nữa,hoạt động phát hành và thanh toán thẻ cũng tạo điều kiện

17

cho hoạt động tín dụng của ngân hàng tăng lên,nguồn vốn tín dụng này rất
lớn nhưng rủi ro thấp.
-

Việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại

trong việc phát hành và thanh toán thẻ,đã tạo điều kiện cho hệ thống ngân
hàng Việt Nam nói riêng và nên kinh tế nói chung hội nhập với nền kinh tế
thế giới. Từ đó Nhà nứơc có thể kiểm soát lượng tiền ra nước ngoài, quản lý
được hoạt động ngoại hối, tránh tình trạng tiêu cực,rửa tiền…
-

Khi thanh toán bằng thẻ thì khối lượng giao dịch sẽ tăng lên người dân

sẽ có nhu cầu chi tiêu thường xuyên hơn vì họ có thể tiêu dùng ngay khi
chưa có tiền mà vẫn kiểm soát được chi tiêu của mình do đó đã kích thích
cầu tiêu dùng. Khi cầu tăng thì cung tăng dẫn đến thúc đẩy hoạt động sản
xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.
-

Như vậy, qua những tiện ích mà tấm thẻ đem lại có thể nói: thẻ ngân

hàng là một sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện địa,đa tiện ích,nó ra đời đã
làm thay đổi cách thức chi tiêu,giao dịch của cộng đồng xã hội. Với tính linh
hoạt và các tiện ích mang lại cho mọi chủ thể có liên quan,thẻ ngân hàng đã
và đang thu hút được sự quan tâm của cả cộng đồng và ngày càng khẳng
định vị trí của nó trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng.

18

Chương 2: THỰC TRẠNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ TẠI SACOMBANK
2.1 GIỚI THIỆU VỀ SACOMBANK VÀ TRUNG TÂM THẺ

-

2.1.1 Giới thiệu Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn
Thương Tín
Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín được thành lập năm 1991 trên cơ sở

hợp nhất của 4 tổ chức tín dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ
chính là huy động vốn, cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ ngân hàng.
-

Mức vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng năm 1991, từ năm 2003

Sacombank là ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt
Nam. Đến tháng 10 năm 2005, Sacombank đã tăng vốn điều lệ lên 1250 tỷ
đồng và vừa qua, ngày 10 tháng 4 năm 2006 đã tăng lên gần 1900 tỷ đồng.
-

Mạng lưới hoạt động của Sacombank từ 3 Chi nhánh và 1 Hội sở lúc

thành lập, tính đến thời điểm hiện nay mạng lưới hoạt động của Sacombank
đã phát triển lên trên 108 điểm giao dịch trải đều khắp các tỉnh/thành kinh tế
trọng điểm trong cả nước: Miền Bắc - duyên hải Miền Trung - và Miền Nam
-

Sacombank là ngân hàng bán lẻ và là ngân hàng rất thành công trong

lĩnh vực tài trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ và chú trọng đến dòng sản phẩm
dịch vụ phục vụ khách hàng cá nhân. Năm 2002, Sacombank được Công ty
Tài chính Quốc tế (ICF) trực thuộc Ngân hàng Thế Giới (World Bank) góp
vốn đầu tư. Với tỷ lệ 10% vốn điều lệ, ICF đã trở thành cổ đông nước ngoài
lớn thứ 2 của Sacombank sau Quỹ đầu tư Dragon Financial Holdings (Anh
Quốc). Ngày 8/8/2005, ngân hàng ANZ chính thức ký hợp đồng góp vốn cổ
phần với tỷ lệ 10% vốn điều lệ vào Sacombank và trở thành cổ đông nước
ngoài thứ 3 của Sacombank.
-

Ngoài 3 cổ đông nước ngoài trên và các cổ đông là các nhà kinh

doanh trong nước, Sacombank là ngân hàng trương mại cổ phần có số có số
lượng cổ đông đại chúng lớn nhất Việt Nam với hơn 6500 cổ đông.
-

Định hướng của ngân hàng là trở thành một trong những Ngân hàng

thương mại mạnh tại Việt Nam, được biết đến với chất lượng sản phẩm dịch
vụ tốt và phong cách phục vụ chuyên nghiệp.
-

Mục tiêu của ngân hàng

19

+ Gia tăng giá trị cổ đông.
+ Tăng cường hiệu quả và tiện ích cho khách hàng và đối tác.
+ Ổn định và phát triển cuộc sống của nhân viên.
Những cam kết của ngân hàng
+ Với khách hàng: Cung cấp, thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng
với chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt nhất.
+ Với các cổ đông: Lựa chọn và theo đuổi các chiến lược kinh doanh
hiệu quả và bền vững.
+ Với nhân viên: Xây dựng và hoàn thiện môi trường làm việc chuyên
nghiệp, tạo điều kiện để các nhân viên tạo dựng sự nghiệp cùng
Sacombank.
+Với đối tác: Là sự lựa chọn đáng tin cậy và hiệu quả cho các đối tác.
-

Các sản phẩm, dịch vụ Sacombank cung cấp cho khách hàng:
+ Đối với khách hàng cá nhân: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn; tiền

gửi tiết kiệm có kỳ hạn; tài khoản Âu Cơ; tài khỏa tiền gửi thanh toán; tiết
kiệm tích lũy và các dịch vụ hỗ trợ; tiền gửi bậc thang; tiết kiệm bậc thang;
chuyển tiền trong nước, chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam; chuyển tiền
từ Việt Nam ra nước ngoài; chuyển tiền bằng BANKDRAFT; chuyển tiền
nhanh tận nhà; cho vay bất động sản; cho vay tiêu dùng; cho vay sản xuất
kinh doanh; cho vay tiểu thương; cho vay nông nghiệp; cho vay cầm cố sổ
tiền gửi; thẻ SACOMPASSPORT; thẻ tín dụng Sacombank; thẻ tín dụng
quốc tế Sacombank Visa/Mastercard; thẻ đồng thương hiệu Vnpay; dịch vụ
cho thuê ngăn tủ sắt; dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ; dịch vụ Phone Banking;
dịch vụ hỗ trợ du học; dịch vụ bảo lãnh.
+ Đối với khách hàng doanh nghiệp: Tiền gửi thanh toán; tiền gửi có
kỳ hạn; tiết kiệm tích lũy thưởng; tiền gửi bậc thang; cho vay sản xuất kinh
doanh; dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ; dịch vụ thấu chi tài khoản, dịch vụ bảo
lãnh; dịch vụ thanh toán quốc tế; dịch vụ thu chi hộ; dịch vụ chi trả hộ lương
cho cán bộ công nhân viên; bao thanh toán nội địa.
Sơ đồ tổ chức bộ máy điều hành Sacombank