Tải bản đầy đủ
1 Lịch sử ra đời và phát triển thẻ ngân hàng

1 Lịch sử ra đời và phát triển thẻ ngân hàng

Tải bản đầy đủ

2

đường sắt, hàng không tịa Mỹ theo sự hướng dẫn của AT&T cũng đã phát
hành thẻ, tiếp đó là đến các nhà hàng, khách sạn,cửa hiệu…
-

Hoạt động nghiệp vụ thẻ thanh toán qua ngân hàng trên thế giới ra đời

vào năm 1946, nhưng nó chỉ thực sự trở thành bước ngoặt trong ngành dịch
vụ tài chính ngân hàng vào năm 1949 khi Frank Mc Namara, một chủ doanh
nghiệp người Mỹ đã phát minh ra thẻ thanh toán mang tên Dinner’s Club. Sự
ra đời của thẻ thanh toán này liên quan đến một câu chuyện về Mc Namara
mà sau này nó đã trở nên nổi tiếng và được nhiều người biết đến. Một lần
Mc Namara mời những khách hàng của mình đến dùng bữa tối tại nhà hàng
Mahatan ở New York, sau khi bữa tiệc kết thúc, hóa đơn thanh toán được
mang đến, ông hết sức bối rối vì phát hiện số tiền mặt trong ví không đủ để
thanh toán. Ông phải gọi điện thoại về nhà nhờ vợ đến thanh toán. Chính
tình trạng khó xử lần đó đã kiến ông quyết tâm tìm tòi,nghiên cứu và chế tạo
ra một phương tiện chi trả không dùng tiền mặt, đó là thẻ thanh toán Diner’s
Club. Với lệ phí hàng năm là 5 USD, như vậy Diner’s Club là hình thức thẻ
tín dụng đầu tiên trên thế giới. Nó cho phép chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư
trong vòng 60 ngày. Số lượng thẻ và doanh số thanh toán của thẻ Diner’s
Club ngày càng tăng lên và công ty phát hành thẻ nhanh chóng thu được
nhiều lợi nhuận. Thành công vượt ngoài dự kiến của Diner’s Club đã tạo tiền
đề cho hoạt động phát hành thẻ tín dụng ngân hàng mà tiên phong trong lĩnh
vực này là Franklin National Bank ở Long Island, New York vào năm 1951
với thẻ Charge-It. Thẻ này có thể sử dụng tại các cửa hàng bán lẻ ở địa
phương và có cách hoạt động khá giống với thẻ tín dụng hiện nay.
-

Đến 1955, thị trường thẻ thế giới chứng kiến sự ra đời của hàng lọat

thẻ mới như: Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club…Đến năm 1958, công
ty Americant Express Corporation phát hành thẻ tín dụng American Express
ở Mỹ và nước ngoài. Công ty này nhanh chóng đứng đầu trong lĩnh vực thẻ
ngân hàng phục vụ cho giải trí và du lịch. Sau đó,chuỗi hệ thống khách sạn
Hilton cũng tung ra thị truờng sản phẩm thẻ Carte Blanche dành riêng cho
khách sạn của họ. Hai loại thẻ này đã thống lĩnh thị trường thẻ thế giới.

3

-

Năm 1960, một ngân hàng ở Mỹ là Bank of America phát hành thẻ

Bank Americard hình thức thẻ tín dụng tuần hoàn đầu tiên và cũng chính là
tiền thân của thẻ VISA sau này. Thẻ Bank AmeriCard cho phép chủ thẻ được
quyền chọn lựa cách thanh toán. Họ có thể trả toàn bộ số nợ hoăc thanh
toán một phần nợ hàng tháng, số tiền còn thiếu sẽ bị tính lãi. Sau đó, ngân
hàng này đã cấp phép cho các định chế tài chính trong khu vực để phát triển
thẻ mang thương hiệu Bank AmeriCard. Cùng với thời gian ngày càng nhiều
định chế tài chính được cấp phép phát hành thẻ. Vì vậy, Bank of America đã
xây dựng một số quy định và tiêu chuẩn riêng đới với các định chế tài chính
khi phát hành thẻ Bank AmeriCard.
-

Trước thành công của Bank AmeriCard, một số ngân hàng phát hành

thẻ khác ở Mỹ đã ngồi lại với nhau để tìm giải pháp cạnh tranh. Vào năm
1966, 14 ngân hàng ở Mỹ đã quyết định thành lập Hiệp Hội thẻ liên ngân
hàng, gọi là InterBank Card Association – ICA. Tổ chức này có khả năng trao
đổi thông tin về giao dịch thẻ tín dụng.
-

Đến năm 1967, bốn ngân hàng ở California đã đổi tên Hiệp hội thẻ

ngân hàng California (California BankCard Association) thành hiệp hội thẻ
ngân hàng các bang phía Tây-Western State BankCard Association (WSBA)
và kết nạp thêm các tổ chức tài chính ở phía Tây làm thành viên và thẻ của
Hiệp hội được biết đến với tên gọi là MasterCharge, đây chính là tiền thân
của tổ chức MasterCard sau này. Sau đó,WSBA cũng cho phép ICA sử dụng
tên và logo của MasterCharge. Đến cuối thập niên 1960, nhiều định chế tài
chính đã trở thành hội viên của WSBA để phát hành các sản phẩm thẻ ngân
hàng mang thương hiệu MasterCharge và cạnh tranh với thẻ Bank
AmeriCard.
-

Năm 1961, ngân hàng sanwa ở Nhật đã cho ra đời thẻ JCB (Japan

Credit Bureau) và đã nhanh chóng phát triển trên thế giới vào năm 1981.
Ngày nay JCB đã phát hành được hơn 48,4 triệu thẻ và được chấp nhận
thanh toán tại hơn 189 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (số liệu năm
2004).

4

-

Vào giữa năm 70,nền công nghiệp thẻ ngày càng phát triển,mở rộng

phạm vi phát hành và thanh toán thẻ ra toàn thế giới vì vậy thương hiệu
“America” không còn thích hợp nữa, do đó Bank AmeriCard đã đổi tên thành
Visa international vào năm 1977 và Tổ chức Visa quốc tế ra đời từ đây. Đến
nay, Visa đã có hơn 22.000 thành viên tại 200 nuớc, phát hành hơn 500 triệu
thẻ, với 13 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ và 320.000 máy rút tiền mặt,
doanh số giao dịch hằng năm khoảng 800 tỷ USD (số liệu năm 2004).
-

Năm 1979, MasterCharge cũng đổi tên thanh MasterCard và trở thành

đối thủ cạnh tranh chủ yếu cảu Visa. MasterCard là tổ chức thẻ quốc tế lớn
thứ hai sau Visa. Hiện nay MasterCard cũng đã có 22.000 thành viên tại 200
quốc gia,12 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ và 200.000 máy rút tiền,
doanh số giao dịch hàng năm khoảng 460 tỷ USD (số liệu năm 2004).
-

Ngày nay, hai loại thẻ ngân hàng này được sử dụng phổ biến nhất

trên thế giới và chiếm lĩnh hoàn toàn thị truờng thẻ thế giới cả về số lượng
thẻ phát hành lẫn doanh số thanh toán thẻ.
1.2
1.2.1

Khái niệm và cấu tạo thẻ
Khái niệm thẻ: Do điều kiện ra đời và khái niệm pháp lý

về thẻ ở mỗi quốc gia có sự cạnh tranh khác nhau hơn nữa trong thuật ngữ
có nhiều cách diễn đạt khác nhau để làm nổi bật một nội dung nào đó vì vậy
có tất nhiều khái niệm khác nhau về thẻ:
-

Quan điểm thứ nhất: cho rằng thẻ ngân hàng là một trong những công

cụ đuợc sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa,dịch vụ thay thế cho tiền mặt,
hoặc có thể đuợc sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các
máy rút tiền tự động.
-

Quan điểm thứ hai: thẻ ngân hàng được sử dụng để thanh toán là một

laọi thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi các ngân hàng,các định chế
tài chính.
-

Quan điểm thứ ba: thẻ được sử dụng để thanh toán là một phương

thức ghi sổ những số tiền cần để thanh toán thông qua các máy móc,thiết bị
chuyên dùng được lắp đặt tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ.

5

-

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã đưa ra khái niệm về thẻ trong

Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng, ban hàn kèm theo
quyết định số 371/1999/QĐ ngày 19/10/1999. Theo đó Ngân hàng Nhà nuớc
quy định: “Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ
cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát
hành thẻ và chủ thẻ”. Từ đó có thể khái quát: Thẻ thanh toán là một phương
tiện thanh toán mà người củ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt tại các điểm
chấp nhận thanh toán thẻ. Như vậy,chủ thẻ muốn sử dụng thẻ thanh toán thì
phải mua hàng háo,dịch vụ tại các nơi có lắp thiết bị đọc thẻ. Đối với ngân
hàng,việc phát hành và thanh toán thẻ thanh toán là một hoạt động bao gồm
các nghiệp vụ cho vay,huy động vốn,thanh toán tiền trong và ngoài nước.
1.2.2Cấu tạo thẻ
Mặc dù có nhiều tên gọi và do nhiều ngân hàng khác nhau phát hành
nhưng tất cả các loại thẻ đang lưu hành trên thị trường hiện nay đều có hình
dạng và cấu tạo tương đối giống nhau. Hầu hết các loại thẻ đều có hình chữ
nhật bốn góc tròn, đuợc làm bằng nhựa ABC hoặc PC, cấu tạo bởi ba lớp
đuợc ép thường với kỹ thuật cao và có kích thươc chuẩn là
85mmx54mmx0,76mm.
-

Mặt trước của thẻ thường bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
+ Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ: là tên và biểu

tượng của ngân hàng trực tiếp phát hành thẻ (Vietcombank, ACB,
Sacombank…) Đây là yếu tố bắt buộc đối với tất cả các loại thẻ nhằm phân
biệt ngân hàng phát hành thẻ.
+ Biểu tượng của tổ chức thẻ quốc tế: các huy hiệu,logo và tên của
tổ chức thẻ quốc tế (VISA, MasterCard, JCB…) dùng để phân biệt các loại
thẻ quốc tế. Ví dụ: biểu tượng của Visa là Hologam có hình con chim bồ câu
đang bay trong không gian ba chiều, của MasterCard là hình ảnh quả đại cầu
giao nhau với các lục địa…