Tải bản đầy đủ
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THẺ VIỆT NAM

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THẺ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ

2

đường sắt, hàng không tịa Mỹ theo sự hướng dẫn của AT&T cũng đã phát
hành thẻ, tiếp đó là đến các nhà hàng, khách sạn,cửa hiệu…
-

Hoạt động nghiệp vụ thẻ thanh toán qua ngân hàng trên thế giới ra đời

vào năm 1946, nhưng nó chỉ thực sự trở thành bước ngoặt trong ngành dịch
vụ tài chính ngân hàng vào năm 1949 khi Frank Mc Namara, một chủ doanh
nghiệp người Mỹ đã phát minh ra thẻ thanh toán mang tên Dinner’s Club. Sự
ra đời của thẻ thanh toán này liên quan đến một câu chuyện về Mc Namara
mà sau này nó đã trở nên nổi tiếng và được nhiều người biết đến. Một lần
Mc Namara mời những khách hàng của mình đến dùng bữa tối tại nhà hàng
Mahatan ở New York, sau khi bữa tiệc kết thúc, hóa đơn thanh toán được
mang đến, ông hết sức bối rối vì phát hiện số tiền mặt trong ví không đủ để
thanh toán. Ông phải gọi điện thoại về nhà nhờ vợ đến thanh toán. Chính
tình trạng khó xử lần đó đã kiến ông quyết tâm tìm tòi,nghiên cứu và chế tạo
ra một phương tiện chi trả không dùng tiền mặt, đó là thẻ thanh toán Diner’s
Club. Với lệ phí hàng năm là 5 USD, như vậy Diner’s Club là hình thức thẻ
tín dụng đầu tiên trên thế giới. Nó cho phép chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư
trong vòng 60 ngày. Số lượng thẻ và doanh số thanh toán của thẻ Diner’s
Club ngày càng tăng lên và công ty phát hành thẻ nhanh chóng thu được
nhiều lợi nhuận. Thành công vượt ngoài dự kiến của Diner’s Club đã tạo tiền
đề cho hoạt động phát hành thẻ tín dụng ngân hàng mà tiên phong trong lĩnh
vực này là Franklin National Bank ở Long Island, New York vào năm 1951
với thẻ Charge-It. Thẻ này có thể sử dụng tại các cửa hàng bán lẻ ở địa
phương và có cách hoạt động khá giống với thẻ tín dụng hiện nay.
-

Đến 1955, thị trường thẻ thế giới chứng kiến sự ra đời của hàng lọat

thẻ mới như: Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club…Đến năm 1958, công
ty Americant Express Corporation phát hành thẻ tín dụng American Express
ở Mỹ và nước ngoài. Công ty này nhanh chóng đứng đầu trong lĩnh vực thẻ
ngân hàng phục vụ cho giải trí và du lịch. Sau đó,chuỗi hệ thống khách sạn
Hilton cũng tung ra thị truờng sản phẩm thẻ Carte Blanche dành riêng cho
khách sạn của họ. Hai loại thẻ này đã thống lĩnh thị trường thẻ thế giới.

3

-

Năm 1960, một ngân hàng ở Mỹ là Bank of America phát hành thẻ

Bank Americard hình thức thẻ tín dụng tuần hoàn đầu tiên và cũng chính là
tiền thân của thẻ VISA sau này. Thẻ Bank AmeriCard cho phép chủ thẻ được
quyền chọn lựa cách thanh toán. Họ có thể trả toàn bộ số nợ hoăc thanh
toán một phần nợ hàng tháng, số tiền còn thiếu sẽ bị tính lãi. Sau đó, ngân
hàng này đã cấp phép cho các định chế tài chính trong khu vực để phát triển
thẻ mang thương hiệu Bank AmeriCard. Cùng với thời gian ngày càng nhiều
định chế tài chính được cấp phép phát hành thẻ. Vì vậy, Bank of America đã
xây dựng một số quy định và tiêu chuẩn riêng đới với các định chế tài chính
khi phát hành thẻ Bank AmeriCard.
-

Trước thành công của Bank AmeriCard, một số ngân hàng phát hành

thẻ khác ở Mỹ đã ngồi lại với nhau để tìm giải pháp cạnh tranh. Vào năm
1966, 14 ngân hàng ở Mỹ đã quyết định thành lập Hiệp Hội thẻ liên ngân
hàng, gọi là InterBank Card Association – ICA. Tổ chức này có khả năng trao
đổi thông tin về giao dịch thẻ tín dụng.
-

Đến năm 1967, bốn ngân hàng ở California đã đổi tên Hiệp hội thẻ

ngân hàng California (California BankCard Association) thành hiệp hội thẻ
ngân hàng các bang phía Tây-Western State BankCard Association (WSBA)
và kết nạp thêm các tổ chức tài chính ở phía Tây làm thành viên và thẻ của
Hiệp hội được biết đến với tên gọi là MasterCharge, đây chính là tiền thân
của tổ chức MasterCard sau này. Sau đó,WSBA cũng cho phép ICA sử dụng
tên và logo của MasterCharge. Đến cuối thập niên 1960, nhiều định chế tài
chính đã trở thành hội viên của WSBA để phát hành các sản phẩm thẻ ngân
hàng mang thương hiệu MasterCharge và cạnh tranh với thẻ Bank
AmeriCard.
-

Năm 1961, ngân hàng sanwa ở Nhật đã cho ra đời thẻ JCB (Japan

Credit Bureau) và đã nhanh chóng phát triển trên thế giới vào năm 1981.
Ngày nay JCB đã phát hành được hơn 48,4 triệu thẻ và được chấp nhận
thanh toán tại hơn 189 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (số liệu năm
2004).

4

-

Vào giữa năm 70,nền công nghiệp thẻ ngày càng phát triển,mở rộng

phạm vi phát hành và thanh toán thẻ ra toàn thế giới vì vậy thương hiệu
“America” không còn thích hợp nữa, do đó Bank AmeriCard đã đổi tên thành
Visa international vào năm 1977 và Tổ chức Visa quốc tế ra đời từ đây. Đến
nay, Visa đã có hơn 22.000 thành viên tại 200 nuớc, phát hành hơn 500 triệu
thẻ, với 13 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ và 320.000 máy rút tiền mặt,
doanh số giao dịch hằng năm khoảng 800 tỷ USD (số liệu năm 2004).
-

Năm 1979, MasterCharge cũng đổi tên thanh MasterCard và trở thành

đối thủ cạnh tranh chủ yếu cảu Visa. MasterCard là tổ chức thẻ quốc tế lớn
thứ hai sau Visa. Hiện nay MasterCard cũng đã có 22.000 thành viên tại 200
quốc gia,12 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ và 200.000 máy rút tiền,
doanh số giao dịch hàng năm khoảng 460 tỷ USD (số liệu năm 2004).
-

Ngày nay, hai loại thẻ ngân hàng này được sử dụng phổ biến nhất

trên thế giới và chiếm lĩnh hoàn toàn thị truờng thẻ thế giới cả về số lượng
thẻ phát hành lẫn doanh số thanh toán thẻ.
1.2
1.2.1

Khái niệm và cấu tạo thẻ
Khái niệm thẻ: Do điều kiện ra đời và khái niệm pháp lý

về thẻ ở mỗi quốc gia có sự cạnh tranh khác nhau hơn nữa trong thuật ngữ
có nhiều cách diễn đạt khác nhau để làm nổi bật một nội dung nào đó vì vậy
có tất nhiều khái niệm khác nhau về thẻ:
-

Quan điểm thứ nhất: cho rằng thẻ ngân hàng là một trong những công

cụ đuợc sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa,dịch vụ thay thế cho tiền mặt,
hoặc có thể đuợc sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các
máy rút tiền tự động.
-

Quan điểm thứ hai: thẻ ngân hàng được sử dụng để thanh toán là một

laọi thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi các ngân hàng,các định chế
tài chính.
-

Quan điểm thứ ba: thẻ được sử dụng để thanh toán là một phương

thức ghi sổ những số tiền cần để thanh toán thông qua các máy móc,thiết bị
chuyên dùng được lắp đặt tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ.

5

-

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã đưa ra khái niệm về thẻ trong

Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng, ban hàn kèm theo
quyết định số 371/1999/QĐ ngày 19/10/1999. Theo đó Ngân hàng Nhà nuớc
quy định: “Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ
cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát
hành thẻ và chủ thẻ”. Từ đó có thể khái quát: Thẻ thanh toán là một phương
tiện thanh toán mà người củ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt tại các điểm
chấp nhận thanh toán thẻ. Như vậy,chủ thẻ muốn sử dụng thẻ thanh toán thì
phải mua hàng háo,dịch vụ tại các nơi có lắp thiết bị đọc thẻ. Đối với ngân
hàng,việc phát hành và thanh toán thẻ thanh toán là một hoạt động bao gồm
các nghiệp vụ cho vay,huy động vốn,thanh toán tiền trong và ngoài nước.
1.2.2Cấu tạo thẻ
Mặc dù có nhiều tên gọi và do nhiều ngân hàng khác nhau phát hành
nhưng tất cả các loại thẻ đang lưu hành trên thị trường hiện nay đều có hình
dạng và cấu tạo tương đối giống nhau. Hầu hết các loại thẻ đều có hình chữ
nhật bốn góc tròn, đuợc làm bằng nhựa ABC hoặc PC, cấu tạo bởi ba lớp
đuợc ép thường với kỹ thuật cao và có kích thươc chuẩn là
85mmx54mmx0,76mm.
-

Mặt trước của thẻ thường bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
+ Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ: là tên và biểu

tượng của ngân hàng trực tiếp phát hành thẻ (Vietcombank, ACB,
Sacombank…) Đây là yếu tố bắt buộc đối với tất cả các loại thẻ nhằm phân
biệt ngân hàng phát hành thẻ.
+ Biểu tượng của tổ chức thẻ quốc tế: các huy hiệu,logo và tên của
tổ chức thẻ quốc tế (VISA, MasterCard, JCB…) dùng để phân biệt các loại
thẻ quốc tế. Ví dụ: biểu tượng của Visa là Hologam có hình con chim bồ câu
đang bay trong không gian ba chiều, của MasterCard là hình ảnh quả đại cầu
giao nhau với các lục địa…

6

Hình 2 Một số mẫu thẻ thế giới
Thẻ của hệ thống khách sạn Hilton

Thẻ American Express

-

MasterCard

Thẻ Visa

Tên chủ thẻ: đựơc in dập nổi trên mặt thẻ, là tên cá nhân (hoặc tổ

chức) được ngân hàng phát hành cấp thẻ để sử dụng.
-

Thời gian hiệu lực của thẻ: đây là khoảng thời gian ngân hàng phat

hành cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ, thời gian này tùy thuộc vào loại thẻ và
chính sách của từng ngân hàng mà có thể là một năm, ba năm, năm năm.
Hết thời gian sử dụng thẻ, chủ thẻ phải trả lại thẻ cho ngân hàng và có nhu
cầu sử dụng tiếp thì tiến hành làm thủ tục gia hạn thẻ.
-

Số thẻ: in dập nổi trên thẻ, đây là số thẻ danh riêng cho chủ thẻ, số thẻ

này được in lại trên hóa đơn khi chủ thẻ thực hiện giao dịch thanh toán hàng
hóa, dịch vụ. tùy theo từng loại thẻ mà có chữ số khác nhau và cách cấu trúc
theo nhóm cũng khác nhau. Ví dụ số thẻ Visa thường bắt đầu bằng số 4 (số
Bin), MasterCard bắt đầu bằng số 5xxxxx
-

Thẻ EMV: được sử dụng đối với tất cả các loại thẻ thông minh, đây là

loại thẻ được nhiều người ưu chuộng nhất vì độ an toán rất cao.
-

Ngoài ra còn có thể có những yếu tố khác: các đặc điểm quy định về

tính năng an toàn của thẻ như từng tổ chức thẻ có ký hiệu riêng của minh,
hình chủ thẻ, code 10…
-

Mặt sau của thẻ gồm các yếu tố:

7

+ Dãi băng từ: gồm 3 rãnh, chứa những thông tin đã được mã hóa
theo chuẩn thống nhất như số tài khoản,tên chủ thẻ, thời hạn hiệu lực thẻ,
mã số cá nhân cảu chủ thẻ (số PIN), số thẻ, loại thẻ, tên ngân hàng phát
hành…Khi thực hiện giao dịch các các thiết bị đọc thẻ, những dữ liệu này sẽ
truyền về ngân hàng chấp nhận thẻ và thông qua mạng thông tín kết nối với
các tổ chức thẻ quốc tế, dữ liệu này sẽ được chuyển đến ngân hàng phát
hành để kiểm tra thông tin và cấp số chuẩn chi để thực hiện giao dịch.
+ Ô chữ ký dành cho chủ thẻ: việc ngân hàng páht hành yêu cầu chủ thẻ
ký tên vào mặt sau của thẻ là để xác nhận đúng người sử dụng thẻ khi thực hiện
giao dịch thanh toán hàng hóa,dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ. Theo
đó các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ đối chiếu chữ ký trên hóa đơn và trên thẻ
xem có phù hợp không. Băng chữ ký này được làm bằng một nguyên liệu rất đặc
biệt,nếu chữ ký bị tẩy xóa thì lập tức thẻ sẽ bị khóa và không thể thực hiện được
giao dịch,lúc đó chủ thẻ yêu cầu ngân hàng cấp lại thẻ mối để sử dụng.

1.2.3

Phân loại thẻ

Hiện nay trên thị trường thế giới cũng như Việt Nam, có rất nhiều loại
thẻ khác nhau với những đặc điểm cũng như công dụng rất đa dạng và
phong phú,có thể phân loại thẻ theo một số tiêu chí sau:
* Xét theo công nghệ sản xuất: Có hai loại thẻ
-

Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): là loại thẻ sản xuất dựa trên kỹ thuật từ

tính với một băng từ chứa ba rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ, theo đó các
dữ liệu, thông tin liên quan đến khách hàng sẽ được lưu vào trong dải băng
từ này. Những thông tin này không được mã hóa tự động nên người ta có
thể đọc được thông tin này một cách dễ dàng thông qua một thiết bị đọc thẻ
khác ngoài những POS do ngân hàng cài đặt. Hơn nữa, khu vực chứa thông
tin của thẻ rất hẹp nên không thể áp dụng được các kỹ thuật mã hóa đảm
bảo an toàn. Do đó, ngày nay các ngân hàng trên thế giới đang chuyển dần
sang phát hành thẻ EMV thay cho thẻ từ.
-

Thẻ thông minh (EMV) hay còn gọi là Smartcard: đây là loại thẻ hiện

đại nhất trên thế giới hiện nay, được áp dụng kỹ thuật bằng thao tác gắn vào

8

thẻ một bộ nhớ điện tử có kảh năng lưu trữ vào xử lý thông tin liên quan đến
khách hàng, có cấu trúc giống như một máy vi tính hoàn hảo. Thẻ thông
minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “Chip” điện tử khác nhau. Thẻ
Chip có ưu điểm hơn so với thẻ từ là hạn chế được việc sử dụng thẻ giả mạo
và gian lận. Tuy nhiên,chi phí đầu tư phát triển hệ thống thẻ thông minh cao
hơn rất nhiều so với thẻ từ.
* Xét về phạm vi sử dụng
-

Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ sử dụng trong phạm vi một quốc gia nơi thẻ

được phát hành, đồng tiền giao dịch trên thẻ là đồng bản tệ của quốc gia đó.
Thẻ nội đại chịu sự giới hạn về phạm vị địa lý, nên muốn mở rộng thị trường
thẻ nội địa cần phải phát triển đại lý chấp nhận thanh toán cũng như tính
năng của thẻ.
-

Thẻ quốc tế: là loại thẻ sử dụng trên phạm vi toàn cầu. Thẻ quốc tế

không bị giới hạn về phạm vi địa lý, thị phần lớn và rất tiện lợi cho khách
hàng thường xuyên đi nước ngoài. Tuy nhiên, khách hàng khi sử dụng thẻ
quốc tế thường phải chịu chi phí cao hơn so với thẻ nội địa, đặc biệt là phí
chuyển đổi ngoại tệ giữa các quốc gia. Thẻ quốc tế cũng đòi hỏi vấn đề kiểm
soát và những thủ tục thanh toán chặt chẽ hơn so với thẻ nội địa.
* Xét về tính chất thanh toán thẻ
-

Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với

tài khoản tiền gởi của chủ thẻ. Theo đó, khách hàng muốn sử dụng thẻ thì
phải mở tài khoản tại ngân hàng phát hành thẻ và người sử dụng thẻ chỉ
được thanh toán trong phạm vi số dư tài khoản của mình. Chủ thẻ khi sử
dụng thẻ để thanh toán hàng hóa,dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán
thẻ thì giá trị của những giao dịch sẽ đựoc khấu trừ ngay lập tức vào tài
khoản của chủ thẻ đồng thời ghi có vào tài khoản của đại lý chấp nhận thanh
toán thẻ.
-

Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là loại thẻ được dùng để rút tiền mặt tại

các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng bằng cách sử dụng mã số
nhận dạng cá nhân (số PIN). Thẻ rút tiền mặt cho phép người sử dụng thẻ

9

được rút số tiền tối đa bằng số tiền ký quỹ trong tài khoản và số tiền rút ra
mỗi lần sẽ được khấu trừ dần vào số tiền ký quỹ. Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
+ Loại 1: chỉ được rút tiền tại các ATM của ngân hàng phát hành.
+ Loại 2: được sử dụng không chỉ rút tiền tại máy ATM của ngân
hàng phát hành mà còn có thể rút tiền mặt tại các ngân hàng có tham gia tổ
hợp thanh toán với ngân phát hành thẻ, nhưng thông thường chủ thẻ phải
chịu thêm phí.
-

Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ mà chủ thẻ có thể có thể sử

dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt tại các đơn vị
chấp nhận thanh toán từ nguồn tiền vay của ngân hàng phát hành thẻ. Ngân
hàng phát hành thẻ sẽ căn cứ vào nhu cầu và khả năng trả nợ của chủ thẻ
để cấp cho họ một hạn mức tín dụng, chủ thẻ chỉ được sử dụng thẻ để thanh
toán trong hạn mức này và sẽ không bị tính lãi nếu hoàn trả số tiền đã sử
dụng cho ngân hàng đúng thời hạn mức này và sẽ không bị tính lãi nếu hoàn
trả số tiền đã sử dụng cho ngân đúng thời hạn quy định, nếu không hoàn trả
đúng hạn thì phải chịu một mức lãi suất trên số nợ theo quy định của ngân
hàng phát triển. Có hai loại thẻ tín dụng:
+ Loại 1: Thẻ tín dụng được đảm bảo bằng tài sản thế chấp, ký quỹ.
Chủ thẻ phải dùng tài sản của chính mình như: tiền mặt, sổ tiết kiệm, tiền gửi
ngân hàng…để đảm bảo cho khả năng trả nợ của mình.
+ Loại 2: Thẻ tín dụng được đảm bảo bằng tín chấp. Ngân hàng sẽ
dựa vào uy tín và khả năng trả nợ của khách hàng để cấp tín dụng cho họ
mà không cần thế chấp hay ký quỹ tài sản. Thẻ tín dụng tín chấp chỉ đựơc
cấp cho một số đối tượng như: những người giữ những chức vụ lãnh đạo,
cao cấp trong các tổ chức, doanh nghiệp, hoặc các cá nhân được những
công ty có uy tín đứng ra bảo lãnh.
1.3
-

Các chủ thể tham gia trong thị trường thẻ

Tổ chức thẻ quốc tế: tham gia thị trường với tư cách là người tổ chức

thị trường. Những tổ chức này đứng ra liên kết với các thành viên, đặt ra các
quy định bắt buộc các thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành

10

một hệ thống một hệ thống toàn cầu đối với thị trường thẻ quốc tế. Theo đó,
các tổ chức này sẽ cấp giấy phép hoạt động phát hành và thanh toán các
sản phẩm thẻ mang thương hiệu của tổ chức họ, Bất cứ ngân hàng nào hiện
nay hoạt động trong lĩnh vực thẻ thanh toán quốc tế đều phải gia nhập vào
một tổ chức thẻ quốc tế.
-

Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer): tham gia thị trường với tư cách là

người tạo ra hàng hóa (sản phẩm thẻ)trên thị trường. Để có thể hoạt động
trên thị trường, đòi hỏi ngân hàng phát hành thẻ phải được Ngân hàng Nhà
nước cho phép thực hiện hoạt động phát hành thẻ ra thị trường. Đối với các
ngân hàng phát hành thẻ quốc tế ngoài việc được phép của Ngân hàng phát
hành thẻ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ của Tổ chức thẻ quốc
tế. Ngân hàng phát hành thẻ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ của
khách hàng, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ của chủ thẻ,
đồng thời chịu trách nhiệm về việc thanh toán thẻ đó.
-

Ngân hàng thanh toán thẻ (Acquirer): tham gia thị trường với vai trung

gian, hoạt động như là đại lý của ngân hàng phát hành thẻ, đồng thời cũng là
thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết của tổ chức thẻ quốc tế (đối
với thẻ quốc tế). Ngân hàng thanh toán thẻ có nhiệm vụ thực hiện các dịch
thanh toán thẻ theo hợp đồng dưới sự ủy quyền của ngân hàng phát hành
thẻ. Ngân hàng thanh toán thẻ là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với các cơ
sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và xử lý các giao dịch về thẻ tại các đơn vị
chấp nhận thanh toán thẻ, cung cấp các dịch hỗ trợ cho đơn vị chấp nhận
thanh toán thẻ và sẽ được hưởng khoản phí hoa hổng từ ngân hàng phát
hành thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ.
-

Chủ thẻ (Cardholder): tham gia thị trường với tư cách là người mua

hàng hóa trên thị trường. Chủ thẻ là người có tên trên thẻ do ngân hàng phát
hành thẻ cấp và được quyền sử dụng tất cả những tiện ích mà thẻ mang lại
như: thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thanh toán,
rút tiền mặt, kiểm tra số dư…đồng thời chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán
các khoản nợ (đối với thẻ tín dụng) và trả các khoản phí cho ngân hàng (phí

11

thường niên, phí rút tiền mặt…)khi sử dụng những tiện ích của dịch vụ thanh
toán qua thẻ mà ngân hàng đã cung cấp.
-

Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ (Merchant): là những đơn vị bán

hàng hóa,dịch vụ có ký hợp đồng với ngân hàng thanh toán thẻ để chấp
nhận thanh toán thẻ để chấp nhận thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ
như: cửa hàng,khách sạn,nhà hàng…Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ tham
gia thị trường thẻ nhằm tăng lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác do đã
đa dạng hóa hình thức thanh toán tại đơn vị mình cũng như đáp ứng nhu cầu
của khách hàng muốn sử dụng thẻ. Các đơn vị này sẽ được ngân hàng
thanh toán trang bị những máy móc thiết bị cần thiết để tiếp nhận thẻ thanh
toán thay cho tiền mặt và phải trả cho ngân hàng thanh toán một khoản chi
phí dịch vụ khi sử dụng tiện ích này. Các chủ thể tham gia trong thị trường
thẻ có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau, tất cả đều hoạt động dưới sự
kiểm soát, quản lý của các tổ chức thẻ quốc tế và cơ quan quản lý của mỗi
quốc gia nhằm giúp cho hoạt động trên thị trường thẻ diễn ra lành mạnh, góp
phần tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa tiền tệ được thực hiện một
cách nhanh chóng, hiệu quả.
1.4

Lợi ích của việc sử dụng thẻ

1.4.1 Đối với người sử dụng thẻ
-

Trước hết, sử dụng thẻ trong thanh toán sẽ mang lại sự an toàn nhiều

hơn so với sử dụng tiền mặt. Giữ tiền mặt bên mình có thể gặp rủi ro mất
cắp,tiền giả,gian lận trong thanh toán. Nhưng nếu sở hữu một chiếc thẻ
thanh toán trong tay khách hàng sẽ không gặp phải những rủi ro như trên, và
nếu trong trường hợp làm mất thẻ thì chủ thẻ có thể thông báo ngay cho
ngân hàng phát hành thẻ để phong tỏa tài khoản của mình do đó vẫn không
bị mất tiền. Người nhặt được thẻ hay đánh cắp cũng khó sử dụng được vì
thẻ có hình và chữ ký và đặt biệt là mã số nhận dạng cá nhân (PIN) chỉ có
chủ thẻ mới biết được.
-

Dịch vụ thẻ còn mang lại cho người sử dụng sự tiện ích và linh hoạt

trong thanh toán. Không cần mang theo tiền mặt bên mình, khách hàng có

12

thể mua được hàng hóa, dịch vụ tại các cửa hàng, siêu thị,nhà hàng, đặt vé
máy bay, đặt phòng khách sạn, mua hàng qua mạng Internet…mà không cần
phải đến tận nơi cung cấp. Đối với những người hay đi công tác nước ngoài
hay những gia đình có con em đi du học nước ngoài thì thẻ thanh toán là một
phương tiện thanh toán rất cần thiết để không phải mang theo một lượng
tiền mặt lớn bên mình vừa bất tiện vừa không an toàn.
-

Bên cạnh đó, với hệ thống máy ATM phục vụ 24/24, chủ thẻ có thể sử

dụng để rút tiền mặt khi có nhu cầu bất cứ khi nào mà không phải phụ thuộc
vào thời gian làm việc của ngân hàng. Các tiện ích này khách hàng có thể
thực hiện dễ dàng không chỉ phạm vi trong nước mà còn trên phạm vi toàn
cầu (đối với thẻ quốc tế). Như vậy với việc sử dụng thẻ sẽ giảm được nhiều
chi phí cũng như tiết kiệm thời gian hơn hẳn so với dùng tiền mặt.
-

Đặt biệt với thẻ tín dụng, chủ thẻ sẽ được cấp trước một khoản tiền để

sử dụng mà không bị trả lãi cho ngân hàng trong thời gian ưu đãi nấht định
tùy theo chính sách của từng ngân hàng. Theo đó,chủ thẻ có thể mua được
những hàng hóa mình muốn ngay cả khi không có tiền mà không phải làm
thủ tục vay vốn như các hình thức khác. Ngoài ra, đối với thẻ ATM số tiền
trong tài khoản của chủ thẻ sẽ được hưởng lãi suất không kỳ hạn giống như
một hình thức gửi tiết kiệm cho số tiền không sử dụng đến, và khi nào cần thì
chủ thẻ có thể dễ dàng rút ra để sử dụng. Như vậy sử dụng thẻ tiền sẽ được
sinh lời trong khi sử dụng tiền mặt thì không sinh lời.
-

Hàng tháng,ngân hàng đều gửi bản sao kê liệt kê những giao dịch đã

được thực hiện trong tháng với đầy đủ những nội dung như: gía trị giao
dịch,thời gian giao dịch, địa điểm giao dịch…mà bình thường sử dụng bằng
tiền mặt chúng ta không thể nào nhớ hết được. Do đó sử dụng thẻ giúp
chúng ta có thể kiểm soát được việc chi tiêu để từ đó lên kế hoạch và cân
đối lại ngân sách sao cho hợp lý và phù hợp với nhu cầu.
-

Bên cạnh những lợi ích tài chính trên thì những lợi ích phi tài chính mà

tấm thẻ đem lại cho người sử dụng là không thể phủ nhận được: sự văn