Tải bản đầy đủ
Điều kiện để di chúc được coi là di chúc hợp pháp

Điều kiện để di chúc được coi là di chúc hợp pháp

Tải bản đầy đủ

của cơ quan công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn.
Thứ hai, người lập di chúc tự nguyện, minh mẫn. Sự tự nguyện của
người lập di chúc là sự thống nhất giữa ý chí và sự bày tỏ ý chí của họ. Đó
chính là sự thống nhất giữa mong muốn chủ quan của người lập di chúc và sự
thể hiện ra bên ngoài các mong muốn đó. Mọi sự lừa dối, cưỡng ép hoặc đe
dọa người lập di chúc sẽ làm cho di chúc trở nên vô hiệu vì thiếu sự tự
nguyện. Mặt khác, trong lúc lập di chúc nếu người lập di chúc không minh
mẫn, sáng suốt thì di chúc cũng không có hiệu lực pháp lý.
Vì vậy, điều kiện minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc là điều
kiện đầu tiên, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá di chúc có giá trị
pháp lý hay không, nhằm đảm bảo tính chính xác theo ý chí của người để lại
di sản.
Thứ ba, nội dung của di chúc không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Nội dung di chúc là toàn bộ ý chí của cá nhân về việc định đoạt tài sản của
mình. Ý chí đó phải phù hợp với pháp luật nói chung và Luật dân sự nói
riêng. Mọi sự định đoạt trái với nội dung và tinh thần của Bộ luật Dân sự đều
có thể làm cho di chúc trở nên vô hiệu.
VD: trong trường hợp người lập di chúc định đoạt tài sản thuộc sở hữu
của người khác, hoặc chỉ định người thừa kế theo di chúc với điều kiện người
đó phải gây thương tích cho một người khác, thì nội dung di chúc đó là trái
pháp luật và đạo đức xã hội và được coi là không hợp pháp.
Thứ tư, hình thức của di chúc phù hợp với pháp luật.
Di chúc phải được lập dưới một hình thức nhất định. Pháp luật quy
định hai loại di chúc là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản.
a.Di chúc miệng là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại
di sản lúc còn sống về việc định đoạt tài sản của mình cho người khác
sau khi mình chết.

Di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể
hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay
sau đó những người làm chứng phải ghi chép lạ, cùng ký tên hoặc điểm chỉ
vào văn bản. Trong thời hạn năm ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể
hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. Sau
ba tháng, kể từ ngày lập di chúc miệng nếu người lập di chúc còn sống và
minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
VD: Bà Dương Thị Tuyết có hai người con đẻ là Vũ Thế Long, Vũ
Bạch Dương và một người con nuôi là Dương Văn Đức. Khi bà Tuyết chết,
ông Vũ Thế Long đang đi học ở nước ngoài, ông Dương Văn Đức đứng ra lo
tang lễ. Trước khi chết, bà Tuyết căn dặn: “ tài sản được chia đều cho các con,
con đẻ cũng như con nuôi. Khi nào Vũ Thế Long về sẽ đứng ra chia, đảm bảo
gia đình hòa thuận, êm ấm”. Hỏi: trường hợp trên có được pháp luật công
nhận và bảo vệ không?
Trả lời: Bà Dương Thị Tuyết chết, di sản của bà là toàn bộ tài sản
thuộc sở hữu của bà Tuyết trước khi chết sau khi trừ đi các nghĩa vụ về tài
sản, tiền tang ma. Di sản bao gồm tài sản riêng của bà Dương Thị Tuyết, phần
tài sản của bà Tuyết trong khối tài sản chung với người khác.
Bà Dương Thị Tuyết có căn dặn, tài sản được chia đều cho các con ,
con đẻ cũng như con nuôi, di sản được chia khi con trai Vũ Thế Long ở nước
ngoài về. Có 3 tình huống xảy ra: thứ nhất, con trai Long đứng ra phân chia
có giá trị bắt buộc thi hành nếu điều căn dặn ấy được thể hiện dưới hình thức
di chúc có hiệu lực; thứ hai, trường hợp căn dặn ấy không thỏa mãn điều kiện
của một di chúc thì những người thừa kế tự nguyện thi hành; thứ ba, trường
hợp không tự nguyện thi hành thì họ có quyền chia di sản kể từ thời điểm mở
thừa kế tức là từ khi bà Dương Thị Tuyết chết.
Tuy nhiên, theo như phân tích ở trên thì trường hợp căn dặn trên không
thỏa mãn điều kiện của một di chúc miệng nên những người thừa kế tự
nguyện thi hành.

b.Di chúc bằng văn bản (chúc thư) là loại di chúc viết, đánh máy, ghi
nhận ý chí của cá nhân về việc định đoạt tài sản của họ sau khi chết.
Di chúc bằng văn bản bao gồm những nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm lập di chúc. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong
trường hợp người để lại di sản đã lập nhiều di chúc để định đoạt toàn bộ hoặc
một phần di sản. Di chúc nào mà ngày, tháng, năm lập di chúc là thời gian gần
nhất với ngày mà người để lại di sản chết thì được coi là di chúc lập cuối cùng
và di sản sẽ được chia theo bản di chúc lập cuối cùng này.
+ Họ tên và nơi cư trú của người để lại di sản lập di chúc.
+ Họ tên, địa chỉ của người hoặc cơ quan, tổ chức được hưởng di sản.
+ Di sản để lại và nơi có di sản. Người để lại di sản khi lập di chúc cần
ghi cụ thể các hiện vật trong khối di sản, nhất là đối với những hiện vật có giá
trị.
+ Phân định phần tài sản hoặc hiện vật mà người thừa kế theo di chúc
được hưởng trong khối di sản.
+ Trong các di chúc bằng văn bản, người để lại di sản có thể chỉ định
người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ. Tuy nhiên, những nghĩa
vụ mà người thừa kế phải thực hiện không được trái với pháp luật và đạo đức
xã hội. Nếu là nghĩa vụ về tài sản, thì người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa
vụ này trong phạm vi di sản mà người thừa kế đó nhận.
VD: Ông Phạm Ngọc Khanh có 2 người con gái và 1 người con trai.
Người con gái lớn năm nay 32 tuổi và đã lập gia đình; người con thứ hai năm
nay 18 tuổi đã đi làm để nuôi bản thân còn người con trai năm nay 5 tuổi.
Trước khi mất ông đã để lại di chúc: “ tài sản được chia đều cho các con và
người con gái lớn phải có trách nhiệm nuôi dưỡng em nhỏ cho đến khi em 18
tuổi”.
+ Chỉ định trong di chúc người giữ di chúc, người quản lý di sản sau
khi người để lại di sản chết, người phân chia di sản.

Điều cần lưu ý trong thể thức lập di chúc bằng văn bản là trong di chúc
không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu. Nếu di chúc gồm nhiều trang, thì
phải đánh số thứ tự các trang vào mỗi trang của di chúc, mỗi trang đó đều
phải có chữ ký của người lập di chúc. Nếu là di chúc bằng văn bản có người
làm chứng, thì mỗi trang đó đều phải có chữ ký của những người làm chứng.
Các chữ ký nên ký vào cuối mỗi trang, ngay dưới dòng chữ cuối cùng. Nếu là
di chúc có chứng thực của UBND xã, phường hoặc thị trấn hay cơ quan công
chứng thì phải có dấu giáp lai của UBND hoặc cơ quan công chứng vào các
trang của di chúc. Thể thức này có ý nghĩa quan trọng nhằm đề phòng việc
thay thế một trang của di chúc để làm thay đổi nội dung của di chúc.
Bộ luật Dân sự quy định các loại di chúc bằng văn bản, bao gồm:
+Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì người lập di
chúc cần lưu ý ngoài việc tuân thủ điều kiện, người lập di chúc hoàn toàn tự
nguyện, minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc và ghi đầy đủ các nội dung theo
quy định của pháp luật, người lập di chúc còn phải tự tay viết và ký vào bản
di chúc. Di chúc đánh máy không có giá trị pháp lý. Vì vậy. người để lại di
sản khi lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải là người
biết chữ(có thể là tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc) và tự mình viết bản di chúc.
VD: Ông Vũ Ngọc Quỳnh muốn lập di chúc, không cần người làm
chứng. Hỏi: di chúc của ông có được pháp luật công nhận không?
Trả lời: Theo quy định của pháp luật Điều 655 Bộ luật Dân sự, ông Vũ
Ngọc Quỳnh có thể tự mình lập di chúc không cần người làm chứng với điều
kiện ông phải tự tay viết và ký vào bản di chúc; phải tuân theo quy định tại
Điều 653 của Bộ luật Dân sự 2005.
+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Bất cứ người nào khi lập di chúc bằng văn bản cũng có thể nhờ người
khác làm chứng cho việc lập di chúc của mình. Tuy nhiên, nếu người lập di
chúc không thể tự mình viết bản di chúc vì không biết đọc, biết viết hoặc vì lý
do nào khác mà nhờ người khác viết hộ di chúc thì di chúc này buộc phải có

người làm chứng. Số người làm chứng ít nhất phải là hai người. Người lập di
chúc phải đọc cho người khác viết hộ di chúc trước mặt người khác. Di chúc
viết xong phải do người làm chứng đọc to cho mọi người nghe, được người
lập di chúc thừa nhận là di chúc viết hộ đã ghi đầy đut và phù hợp với ý
nguyện của người để lại di sản.
VD: Bà Ngô Thị Hồng hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt nhưng do bị tai
nạn gãy tay, không thể tự viết di chúc. Bà có ý định nhờ người viết hộ và cháu
nội của bà là Phạm Ngọc Hoa xung phong viết hộ. Hỏi: Bà Hồng có thể nhờ
cháu Hoa viết hộ được không? Và bản di chúc đó có được coi là bản di chúc
hợp pháp không?
Trả lời: Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết
bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết nhưng phải tuân theo quy định tại
Điều 656 Bộ luật Dân sự 2005. Như vậy, bà Ngô Thị Hồng có thể nhờ người
khác viết hộ di chúc và bà Hồng có thể nhờ cháu nội Phạm Ngọc Hoa viết di
chúc. Cháu Phạm Ngọc Hoa chỉ có thể là người viết hộ di chúc mà không thể
là người làm chứng. Việc cháu Phạm Ngọc Hoa viết di chúc theo lời của bà
Hồng, có đủ người làm chứng theo quy định của pháp luật thì bản di chúc đó
hoàn toàn hợp pháp.
+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực
+ Di chúc bằng văn bản có công chứng
VD: Ông Trần Đăng Dũng tới UBND phường Mai Dịch đề nghị chứng
thực di chúc nhưng cán bộ phường chuyên trách sau khi đọc di chúc đã từ
chối chứng thực và đề nghị ông hôm sau đến nhờ cán bộ khác với lý do vợ
của cán bộ phường là người thừa kế theo di chúc. Hỏi: Việc cán bộ đó từ chối
chứng thực di chúc có đúng không?và những trường hợp nào không được
quyền công chứng, chứng thực di chúc?
Trả lời: Việc ông Dũng có di chúc cho vợ của cán bộ phường mà ông
đề nghị chứng thực thì việc từ chối chứng thực di chúc của người cán bộ là
hoàn toàn có cơ sở pháp lý và đúng với quy định của pháp luật. Những người

không được công chứng, chứng thực di chúc được quy định tại Điều 659 Bộ
luật Dân sự 2005:
1.Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di
chúc
2.Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc
hoặc theo pháp luật
3.Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
Ngoài ra, Bộ luật dân sự còn quy định một số trường hợp di chúc bằng
văn bản có giá trị như di chúc có chứng thực, công chứng.
VD: Trước ngày bị thi hành án tử hình, ông Phạm Hữu Anh lập di chúc
phân chia di sản cho những người thừa kế, ông Hữu Anh muốn ra ngoài trại
giam đi công chứng, chứng thực di chúc nhưng Ban giám thị trại giam không
thể cho phép. Hỏi: Ông Phạm Hữu Anh có thể nhờ người khác đi công chứng,
chứng thực di chúc không?Làm sao để di chúc của ông có giá trị như được
công chứng, chứng thực?
Trả lời: Theo Điều 660 Bộ luật Dân sự, dù ông Phạm Hữu Anh đã bị
kết án tử hình nhưng ông vẫn có quyền lập di chúc. Tuy nhiên theo yêu cầu
của công tác trại giam, người bị kết án tử hình không thể tới Cơ quan công
chứng, UBND xã, phường, thị trấn để công chứng, chứng thực di chúc. Hoạt
động công chứng, chứng thực di chúc không cho phép ông Hữu Anh nhờ
người khác tới cơ quan có thẩm quyền để được công chứng. Để di chúc của
ông có giá trị như được công chứng, chứng thực thì ông Hữu Anh có thể đề
nghị người phụ trách trại giam nơi ông đang bị giam giữ xác nhận vào di
chúc. Di chúc của người đang bị giam có xác nhận của người phụ trách trại
giam có giá trị như di chúc được công chứng, chứng nhận.
III-Giải pháp trong việc chia thừa kế theo quy định của pháp luật khi
phát hiện di chúc hợp pháp
1.Công dân có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền được
hưởng thừa kế của mình nếu còn thời hiệu khởi kiện

- Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện để
người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác
bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
VD: Bà Phạm Thị Là là người được chỉ định hưởng ½ khối di sản của
cha là ông Phạm Ngọc Khanh. Tuy nhiên, khi ông Phạm Ngọc Khanh mất, bà
Phạm Thị Là đang ở nước ngoài. Những người thuộc diện thừa kế theo pháp
luật của ông Khanh đã chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Họ không
biết ông Khanh có lập di chúc, không biết bà Phạm Thị Là được nhận di sản
thừa kế. Bản án của Tòa án phân chia di sản cho những người thừa kế theo
pháp luật của ông Khanh có hiệu lực pháp luật. Hỏi: Khi bà Là về nước bà có
quyền khởi kiện để được nhận di sản thừa kế theo di chúc không?
Trả lời: Bà Phạm Thị Là được nhận di sản thừa kế theo di chúc của
ông Phạm Ngọc Khanh. Tuy nhiên khi Tòa án chia di sản cho những người
thừa kế của ông Khanh đã không biết đến di chúc, bà Phạm Thị Là không
được triệu tập tham gia tố tụng. Điều này gây thiệt hại cho quyền và lợi ích
hợp pháp của bà Là. Vì vậy, bà Là có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án công
nhận quyền được hưởng thừa kế của mình nếu còn thời hiệu khởi kiện.
2.Trường hợp di chúc bị mất thì tài sản đã được chia theo quy định của
pháp luật nhưng trong trường hợp các bên công nhận nội dung di chúc và thỏa
thuận phân chia di sản theo nội dung di chúc đó thì việc phân chia di sản được
thực hiện theo thỏa thuận.
VD: Cha mẹ ông Phạm Hữu Anh có lập di chúc chung cho các con
nhưng do trận lụt, toàn bộ giấy tờ trong đó có bản di chúc đã bị cuốn trôi, nay
không thể tìm thấy. Ông Phạm Hữu Anh có biết nội dung di chúc, cha mẹ có
dành một phần tài sản để tặng cho trường học tại quê nhà nơi họ sinh ra và
lớn lên. Nhưng ông Anh không nhớ rõ là bao nhiêu.Hỏi: việc chia thừa kế đối
với khối di sản do cha mẹ ông Anh để lại được thực hiện như thế nào?
Trả lời: Khi di chúc đã bị nước cuốn trôi thì trường hợp này không
được coi là hưởng tài sản theo di chúc và phải chia tài sản theo pháp luật nên