Tải bản đầy đủ
Địa điểm mở thừa kế

Địa điểm mở thừa kế

Tải bản đầy đủ

chối nhận di sản...Ngoài ra, nếu có người trong diện thừa kế từ chối nhận di
sản thì phải thông báo cho cơ quan Công chứng nhà nước hoặc UBND xã,
phường, thị trấn nơi mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản. Hơn nữa trong
trường hợp có tranh chấp thì Tòa án nhân dân nơi mở thừa kế có thẩm quyền
giải quyết.
Trong thực tế, một người trước khi chết có thể ở nhiều nơi nên Bộ luật
Dân sự quy định địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại
di sản. Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa
điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.
7. Di sản thừa kế
Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của
người chết để lại, là đối tượng của quan hệ pháp luật liên quan đến việc dịch
chuyển tài sản của người đó sang cho những người được hưởng thừa kế được
nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
Di sản thừa kế bao gồm:
-Tài sản riêng của người chết: Đây là phần tài sản mà thông thường cá
nhân nào cũng có, bởi nó gắn liền với các quyền và nghĩa vụ lao động của
mỗi cá nhân trong xã hội gắn liền với nhu cầu tất yếu về vật chất cho cuộc
sống của con người. Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo ra
bằng thu nhập hợp pháp( như tiền lương, tiền được trả công lao động, tiền
thưởng, tiền nhuận bút, tiền trúng thưởng xổ số), tài sản được tặng cho, được
thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng( như quần áo,giường tủ, xe máy, ô tô, vô
tuyến...), nhà ở, tư liệu sản xuất các loại, vốn dùng để sản xuất kinh doanh các
loại.
Tài sản riêng của người chết được xác định là phần tài sản mà về
phương diện pháp lý không bị chi phối hoặc chịu một sự ràng buộc nào với
các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền định đoạt.
Tài sản riêng được sử dụng trong Điều 634 Bộ luật Dân sự 2005 để xác định
tài sản của một cá nhân không nằm trong khối tài sản chung với người khác;

không nằm trong khối tài sản chung của vợ chồng. Theo đó phần tài sản này
được xác định:
+ Độc lập trong sở hữu chung theo phần
+ Độc lập trong sở hữu chung hợp nhất. Sự độc lập này được xác định
căn cứ vào Khoản 1 Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, trong đó:
tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn; tài sản riêng của vợ,
chồng bao gồm tài sản mà vợ chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng
trong thời kỳ hôn nhân; tài sản riêng của vợ, chồng có được khi chia tài sản
trong thời kỳ hôn nhân.
-Tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ
chồng. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra; thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu nhập hợp pháp khác
nhau của vợ chồng trong thời ký hôn nhân tài sản mà vợ chồng được thừa kế
chung hoặc được tặng,cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa
thuận là tài sản chung; quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết
hôn cuãng là tài sản chung của hai vợ chồng. Tất cả các tài sản này là tài sản
chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Khi một bên chết trước và
có yêu cầu chia di sản thừa kế, khối tài sản chung này được chia đôi một nửa
thuộc sở hữu của người đang sống, người còn lại được xác định là di sản của
người đã chết.
- Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Sở
hữu chung theo phần cho phép xác định phần quyền của mỗi chủ sở hữu.
Phần tài sản này có thể do họ góp vốn, góp công sức để cùng kinh doanh;
phần vốn góp trong công ty; phần tài sản được cho chung, được thừa kế
chung của họ trong khối tài sản chung của nhiều người. Vì vậy, khi người này
chết phần tài sản của họ trong khối tài sản chung theo phần là di sản thừa kế
mà họ để lại.

II-NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC VÀ THỪA KẾ THEO
DI CHÚC.
1.Khái niệm di chúc
Di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người(người để lại di sản) nhằm
định đoạt toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc một phần
tài sản của mình sẽ được chuyển giao cho một hoặc nhiều người sau khi
người đó chết. Sự bày tỏ ý chí được thực hiện thông qua hình thức bằng văn
bản (gọi là di chúc bằng văn bản), hoặc bằng lời nói miệng (gọi là di chúc
miệng). Sự bày tỏ ý chí này gọi là lập di chúc (Điều 646 Bộ luật Dân sự số
33/2005/QH11 của Quốc hội).
Nội dung di chúc thể hiện ý chí của một bên là người để lại di sản khi
người đó lập di chúc và chỉ được thực hiện khi người để lại di sản chết. Vì
vậy:
-Người để lại di sản không bị ràng buộc bởi di chúc do chính mình lập
ra. Người đó có thể sửa đổi di chúc hoặc hủy bỏ di chúc đã lập bằng một di
chúc khác lập rấu này.
-Không có sự ràng buộc giữa người lập di chúc và người được chỉ định
là người thừa kế theo di chúc hoặc của bất kỳ người nào khác trong thời gian
người lập di chúc còn sống.
-Sau khi người lập di chúc chết, người được chỉ định là người thừa kế
theo di chúc sẽ bày tỏ ý chí của mình nhận hay không nhận tài sản của người
lập di chúc để lại.
2.Thừa kế theo di chúc
a.Khái niệm thừa kế theo di chúc
Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển của tài sản của người
đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước
khi chết. Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người
thừa kế (cá nhân, tổ chức) và phân định tài sản cho họ, giao cho họ
nghĩa vụ tài sản…

Người lập di chúc là cá nhân có các quyền do Luật Dân sự quy định.
Họ có quyền chỉ định một hoặc nhiều người trong di chúc và cho họ hưởng
một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình. Nếu trong di chúc có nhiều người,
mỗi người được hưởng bao nhiêu phụ thuộc vào ý chí của người có tài sản.
Người có tài sản thể hiện ý chí của mình, nhưng ý chí đó có được thực hiện
hay không phụ thuộc vào hình thức biểu lộ ý chí. Vì vậy , một người muốn
định đoạt tài sản của mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của
pháp luật về thừa kế theo di chúc.
Vợ chồng có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Di
chúc chung có thể thay đổi, sửa đổi, bổ sung, thay thế bất cứ lúc nào nhưng
phải có sự thống nhất ý chí giữa vợ,chồng. Nếu một người chết trước thì
người kia chỉ có thể thay đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản
của mình.
b.Hiệu lực của di chúc
Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế. Di chúc không
có hiệu lực pháp luật một phần hoặc toàn bộ trong trường hợp người thừa kế
theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, hoặc
tổ chức được thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế.
Nếu di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu
lực pháp luật của phần còn lại thì phần còn lại vẫn có hiệu lực pháp luật. Nếu
một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ có bản di chúc
sau cùng mới có hiệu lực pháp luật.
c.Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Về nguyên tắc, quyền định đoạt bằng di chúc của cá nhân được tôn
trọng, người lập di chúc có quyền truất quyền thừa hưởng di sản của những
người thuộc diện thừa kế. Nhưng xuất phát từ đạo lý truyền thống, phong tục,
tập quán tốt đẹp của dân tộc và để bảo vệ quyền lợi của một số người thuộc
diện này, Bộ luật Dân sự nước ta đã hạn chế quyền tự định đoạt bằng di chúc