Tải bản đầy đủ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA TẠI KBNN THÁI NGUYÊN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA TẠI KBNN THÁI NGUYÊN

Tải bản đầy đủ

97
Ba là, chiến lược phát triển KBNN Thái Nguyên phải được triển khai
trên cơ sở đổi mới triệt để, toàn diện tất cả các lĩnh vực: thể chế chính sách và
quy trình nghiệp vụ; tổ chức bộ máy; nguồn nhân lực; công nghệ quản lý, đặc
biệt là công nghệ thông tin.
Bốn là, hoạt động KBNN Thái Nguyên phải tiến tới các chuẩn mực,
thông lệ tiên tiến trên cả nước và trên thế giới trong lĩnh vực Kho bạc, đáp ứng
yêu cầu hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực cải cách tài chính công.
4.1.2. Định hướng, mục tiêu hoạt động thanh tra,
kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên
4.1.2.1. Định hướng
Trong công cuộc đổi mới các hoạt động nghiệp vụ của Kho bạc Nhà
nước tỉnh nói chung và đổi mới hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN Thái
Nguyên nói riêng, việc đổi mới tư duy về thanh tra, kiểm tra có vai trò quan
trọng và có tính quyết định. Đổi mới về tư duy chính là quá trình nhận thức lại
hiện thực khách quan để tìm ra quy luật vận động của nó. Chính nhờ nhận
thức đúng mà hành động đúng, có giải pháp đúng, chủ động tự tin trong quá
trình tổ chức thực hiện đổi mới. Đổi mới tư duy về công tác thanh tra, kiểm
tra trong KBNN Thái Nguyên là đổi mới về nhận thức và quan điểm về thanh
tra, kiểm tra KBNN Thái Nguyên trong điều kiện mới của cơ chế quản lý Nhà
nước và Chiến lược phát triển KBNN đến 2020. Đó là những vấn đề có tính
phương pháp luận trong tổ chức hoạt động TTKT: Nó bao gồm việc xác định vị
trí, vai trò của thanh tra, kiểm tra Kho bạc, mục đích, phương pháp thanh tra,
kiểm tra; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của hệ thống
TTKT KBNN Thái Nguyên. Nếu xem xét trên nội dung, yêu cầu của cải cách
hành chính Nhà nước thì đổi mới về hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN Thái
Nguyên phải được thể hiện trên các vấn đề cơ bản sau đây:

98
- Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền bổ sung, đổi mới về hệ thống
văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN.
- Kiến nghị đổi mới về bộ máy tổ chức và chế độ công chức, công vụ
thanh tra, kiểm tra KBNN.
- Kiến nghị đổi mới về phương pháp, phương thức hoạt động của thanh
tra, kiểm tra KBNN tiến hành thanh tra, kiểm tra trong hệ thống KBNN.
4.1.2.2. Mục tiêu
Đổi mới hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN Thái Nguyên nhằm đạt
được các mục tiêu cụ thể sau:
- Phải phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TTKT KBNN
Thái Nguyên với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan khác có chức
năng thanh tra, kiểm tra như: Thanh tra Tài chính, thanh tra Thuế, thanh tra
Hải quan... góp phần hình thành cơ chế thanh tra, kiểm tra hữu hiệu.
- Xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của TTKT KB, từ
đó thiết lập cơ cấu tổ chức thanh tra, kiểm tra tinh gọn, có hiệu lực, khắc phục
tình trạng chia cắt, chồng chéo kém hiệu lực; phương thức hoạt động linh
hoạt, nhanh nhạy, kịp thời, có hiệu quả.
- Đổi mới tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN Thái Nguyên
phải tiến hành đồng bộ cả 3 nội dung cơ bản: đổi mới về quy trình, quy chế
hoạt động TTKT; về tổ chức bộ máy công chức và về phương thức hoạt động,
đó là 3 nội dung, yêu cầu cần thực hiện trong quá trình đổi mới hoạt động
thanh tra, kiểm tra KBNN hiện nay.
- Tăng cường quyền hạn cho TTKT KB và TTKT viên trong khi tiến
hành thực thi công vụ; giao quyền xử phạt hành chính trong quá trình TTKT
của KB; thống nhất trong toàn hệ thống về chỉ đạo hoạt động cũng như xử lý
kết quả TTKT.

99
4.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động
thanh tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên
4.2.1. Hoàn thiện phương pháp tổ chức TTKT
Một trong những giải pháp nhằm hoàn thiện phát huy vai trò của TTKT
là yếu tố về con người bởi trình độ công chức ngành Kho bạc nói chung và
TTKT Kho bạc nói riêng còn nhiều bất cập so với yêu cầu thực tế, công chức
TTKT kho bạc là những người tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra các
KBNN vì vậy đòi hỏi công chức TTKT phải có nghiệp vụ giỏi, phải nắm bắt
sâu sắc các nghiệp vụ kho bạc, muốn vậy đội ngũ công chức làm công tác
TTKT phải đủ về số lượng và chất lượng để đảm đương công việc.
Việc đào tạo lại đội ngũ công chức hiện có cũng như đào tạo một thế hệ
mới nhằm tạo ra một đội ngũ công chức TTKT có năng lực, trình độ chuyên
môn và phẩm chất đạo đức là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Nâng cao ý thức trách nhiệm, trình độ chuyên môn cho công chức làm
công tác TTKT:
Thường xuyên phối hợp với tổ chức đoàn thể tăng cường giáo dục ý
thức trách nhiệm cho công chức công chức trong đơn vị, đặc biệt đối với công
chức làm công tác Thanh tra kiểm tra, từ đó mỗi công chức phát huy tinh thần
làm chủ tập thể, có tinh thần trách nhiệm trong công việc được giao.
Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao trình độ,
kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp
cho đội ngũ công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra, bố trí sử dụng đội ngũ
TTKT đúng người, đúng việc phù hợp với khả năng trình độ chuyên môn.
Tích cực đổi mới nội dung, phương pháp, tác phong công tác phù hợp với sự
phát triển, hoàn thiện của hệ thống.
Thực hiện công tác đào tạo và tự đào tạo: Ngoài việc tham gia các lớp
tập huấn nghiệp vụ, hàng năm Lãnh đạo KBNN Thái Nguyên giao nhiệm vụ
cho công chức các phòng nghiệp vụ cũng như công chức làm công tác Thanh

100
tra, kiểm tra tự nghiên cứu, chuẩn bị tài liệu theo từng chuyên đề và giới
thiệu, trình bày trước tập thể CBCC trong phòng, để mọi người tiếp thu,
nghiên cứu và thảo luận. Nội dung tài liệu giới thiệu, hướng dẫn trước tập
thể phải bao gồm các vấn đề: (1) Nội dung cơ bản của một văn bản được ban
hành; (2) văn bản đó có những nội dung gì khác so với văn bản trước đã
thực hiện; (3) khi triển khai văn bản mới có thể gặp nhưng khó khăn gì; (4)
phương pháp khắc phục những khó khăn khi thực hiện triển khai văn bản
mới (nếu có); (5) khi thực hiện thanh tra, kiểm tra phải chú ý những vấn đề
gì đối với việc thực hiện văn bản đó.
Khi tuyển chọn công chức làm công tác TTKT đòi hỏi phải tiến hành
một cách hết sức nghiêm ngặt nhằm lựa chọn được những công chức giỏi đáp
ứng được nhu cầu công việc, công chức TTKT phải có phẩm chất đạo đức và
chính trị tốt, có trình độ và thâm niên công tác trong ngành kho bạc, có kiến
thức quản lý nhà nước và nắm vững các quy trình nghiệp vụ của ngành, pháp
luật của nhà nước, có năng lực quan sát và khả năng nắm bắt vấn đề nhanh.
Không ngừng đào tạo, nâng cao trình độ công chức làm công tác TTKT
về nghiệp vụ chuyên môn, trình độ tin học, khả năng sử dụng ngoại ngữ, đào
tạo trong thực tiễn công tác theo phương pháp vừa học vừa làm kèm cặp và
giúp đỡ lẫn nhau trong đoàn TTKT, tổng kết đúc rút kinh nghiệm lẫn nhau sau
mỗi cuộc thanh tra, kiểm tra, tiếp nhận sự tư vấn, trợ giúp kỹ thuật của các tổ
chức quốc tế về công tác TTKT.
Xây dựng nội dung chương trình để đào tạo Trưởng đoàn thanh tra,
kiểm tra, vì trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra chính là người đại diện cho đoàn
TTKT làm việc trực tiếp với đối tượng được thanh tra kiểm tra, tiêu chuẩn
của người được chọn đào tạo trưởng đoàn phải là người có kinh nghiệm
công tác, có khả năng đoàn kết, có năng lực chỉ đạo điều hành một cuộc
TTKT, có kiến thức cơ bản về kinh tế xã hội, hiểu biết và nắm vững luật
pháp liên quan đến công tác thanh tra kiểm tra KBNN, có khả năng phân

101
tích tổng hợp, kết luận những vấn đề phát sinh trong mỗi cuộc thanh tra,
kiểm tra, có tinh thần dám đấu tranh và có phương pháp đấu tranh thích hợp
bảo vệ được những kiến nghị, kết luận và những biện pháp xử lý đúng đắn
của cuộc thanh tra, kiểm tra nêu ra.
Bên cạnh những đòi hỏi về chuyên môn trình độ của công chức
TTKT phải có chính sách đãi ngộ phù hợp cho những công chức làm công
tác TTKT, nhiệm vụ của công chức thanh tra, kiểm tra KB ngày càng nặng
nề và gắn chặt với trách nhiệm của công việc được giao, đặc thù của ngành
TTKT là công chức thường xuyên phải đi công tác xa nhà với thời gian dài,
ít có thời gian dành cho gia đình, lao động phức tạp hơn nhiều so với
những hoạt động khác của Kho bạc, nhưng trong cơ chế chính sách đãi ngộ
với công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra KB lại chưa tương xứng,
tình trạng đãi ngộ hiện nay đã dẫn tới hiện tượng nhiều công chức chưa
thực sự yên tâm với nghề, thu nhập thấp, điều kiện công tác khó khăn,
phương tiện thực thi nhiệm vụ thiếu chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Hiện tượng chảy máu chất xám diễn ra khá mạnh mẽ trong hệ thống
KBNN nói chung và thanh tra, kiểm tra KB nói riêng đã phản ánh rõ cách
bố trí và sử nhân lực làm công tác thanh tra, kiểm tra, công chức giỏi được
đào tạo bài bản về lý luận và nghiệp vụ không được giao những công việc
phù hợp, chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng, cũng như sự khắc nghiệp của
môi trường làm việc, đã xin chuyển công tác sang cơ quan khác, bên cạnh
đó còn có hiện tượng tinh thần trách nhiệm của một số công chức chưa cao,
chưa phát huy hết khả năng và trình độ thậm trí có biểu hiện né tránh, nể
nang, cầm chừng, sợ trách nhiệm.
Để hoàn thiện được công tác tổ chức, công chức của thanh tra, kiểm tra,
KBNN cũng phải sớm có kế hoạch đào tạo nhằm tiêu chuẩn hóa đội ngũ công
chức làm công tác thanh tra, kiểm tra kho bạc, góp phần xây dựng đội ngũ
công chức đủ tài, đủ sức làm công tác này.

102
Hoàn thiện việc phương pháp nghiệp vụ tiến hành TTKT:
Nghiên cứu, phân tích, xem xét, xử lý thông tin và số liệu để phát hiện
những vấn đề có mâu thuẫn; nhận định những việc làm đúng, những sai
phạm, những sơ hở, bất cập của cơ chế, chính sách, chế độ; làm rõ bản chất,
nguyên nhân và trách nhiệm.
Phân tích các báo cáo, tài liệu thu thập được để nhận diện vấn đề, sự việc.
Đối chiếu số liệu giữa sổ chi tiết với sổ tổng hợp với báo cáo tài chính;
đối chiếu số liệu giữa sổ chi tiết với sổ tổng hợp; đối chiếu giữa chứng từ kế
toán với việc phản ánh trên sổ kế toán.
Kiểm tra, xác định tính hợp pháp, hợp lý của chứng từ kế toán và các
tài liệu có liên quan. Xác định sự phù hợp về trình tự thủ tục của chứng từ kế
toán và những qui định về trình tự, thủ tục, của các hoạt động kinh tế - xã hội.
Kiểm tra, xác định tính tính trung thực của chứng từ, tài liệu:
Xem xét, đối chiếu khối lượng công việc theo chứng từ với khối lượng
công việc thực hiện,
Xem xét, đối chiếu các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức đã áp
dụng thanh toán so với quy định của người có thẩm quyền.
Xem xét việc vận dụng thực tế so với các quy định của chính sách, chế
độ, tiêu chuẩn, định mức quy định của người có thẩm quyền.
4.2.2. Hoàn thiện quy trình TTKT
Một số vấn đề cần quy định chi tiết trong quy trình TTKT như sau:
Giai đoạn chuẩn bị TTKT:
Khảo sát, nắm tình hình để quyết định TTKT
Trước khi ra quyết định TTKT, trong trường hợp cần thiết, Giám đốc
KBNN Thái Nguyên căn cứ vào yêu cầu của cuộc TTKT để quyết định việc
khảo sát, nắm tình hình đối với đơn vị được TTKT.
Người được giao khảo sát, nắm tình hình có trách nhiệm tổng hợp,
phân tích, đánh giá các thông tin thu nhận được, lập báo cáo gửi người giao
nhiệm vụ khảo sát, nắm tình hình. Báo cáo gồm các nội dung sau:

103
Khái quát chung về tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý, chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của đối tượng TTKT;
Kết quả khảo sát, nắm tình hình theo từng nội dung: Hệ thống các quy
định của pháp luật liên quan đến hoạt động của đối tượng TTKT; các thông
tin liên quan đến tình hình hoạt động, việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều
tra của các cơ quan chức năng và hoạt động tự kiểm tra, kiểm soát của đối
tượng TTKT; các thông tin liên quan đến các mối quan hệ chủ yếu gắn với tổ
chức hoạt động của đối tượng TTKT và các thông tin liên quan đến những nội
dung dự kiến TTKT;
Nhận định những vấn đề nổi cộm, có dấu hiệu sai phạm, đề xuất những
nội dung cần TTKT và cách thức tổ chức thực hiện.
Thời gian khảo sát, nắm tình hình do Giám đốc KBNN Thái Nguyên
quyết định nhưng không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày giao nhiệm vụ khảo
sát, nắm tình hình.
Ra quyết định TTKT:
Căn cứ báo cáo kết quả khảo sát, nắm tình hình (nếu có) và chương
trình, kế hoạch TTKT đã được phê duyệt, Thủ trưởng đơn vị quyết định
TTKT và giao nhiệm vụ cho cá nhân, đơn vị chuyên môn của mình soạn thảo
quyết định TTKT.
Căn cứ báo cáo kết quả khảo sát, nắm tình hình và chương trình, kế
hoạch TTKT đã được phê duyệt, phải gồm các nội dung sau:
Căn cứ pháp lý để TTKT;
Đối tượng, nội dung, phạm vi, nhiệm vụ TTKT;
Thời hạn tiến hành TTKT;
Trưởng đoàn TTKT và các thành viên khác của Đoàn TTKT;
Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ chỉ đạo, giám sát hoạt
động Đoàn TTKT (nếu có).
Thủ trưởng cơ quan ký quyết định TTKT và chỉ đạo ban hành quyết
định TTKT trong thời hạn quy định của pháp luật.

104
Xây dựng và phê duyệt kế hoạch tiến hành TTKT:
Trưởng đoàn TTKT có trách nhiệm chủ trì xây dựng dự thảo kế hoạch
tiến hành TTKT gồm các nội dung: mục đích, yêu cầu, nội dung TTKT, đối
tượng TTKT, thời kỳ TTKT, thời hạn TTKT, phương pháp tiến hành TTKT,
tiến độ thực hiện, chế độ thông tin báo cáo, việc sử dụng phương tiện, thiết bị,
kinh phí và những điều kiện vật chất cần thiết khác phục vụ hoạt động của
Đoàn TTKT.
Đoàn TTKT thảo luận dự thảo kế hoạch tiến hành TTKT. Những ý kiến
khác nhau phải được báo cáo người ra quyết định TTKT xem xét trước khi
phê duyệt.
Thời gian xây dựng và phê duyệt kế hoạch tiến hành TTKT do người
ra quyết định TTKT quyết định, nhưng không quá 5 ngày kể từ ngày ký
quyết định TTKT.
Phổ biến kế hoạch tiến hành TTKT:
Trưởng đoàn TTKT phải tổ chức họp Đoàn TTKT để phổ biến, kế
hoạch tiến hành TTKT được duyệt và phân công nhiệm vụ cho các tổ, nhóm,
các thành viên của Đoàn TTKT; thảo luận về phương pháp, cách thức tổ chức
tiến hành TTKT, sự phối hợp giữa các tổ, nhóm, các thành viên trong đoàn; tổ
chức việc tập huấn nghiệp vụ cho thành viên Đoàn TTKT khi cần thiết.
Từng thành viên Đoàn TTKT xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ
được phân công và báo cáo với Trưởng đoàn TTKT.
Xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng TTKT báo cáo:
Căn cứ nội dung TTKT, kế hoạch tiến hành TTKT, Trưởng đoàn TTKT
có trách nhiệm chủ trì cùng các thành viên trong Đoàn TTKT xây dựng đề
cương yêu cầu đối tượng TTKT báo cáo.
Trưởng đoàn TTKT có văn bản gửi cho đối tượng TTKT (kèm theo đề
cương yêu cầu báo cáo) ít nhất 5 ngày trước khi công bố quyết định TTKT,
trong văn bản phải quy định rõ cách thức báo cáo, thời gian nộp báo cáo.

105
Thông báo về việc công bố quyết định TTKT:
Trưởng đoàn TTKT có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến đối
tượng TTKT về việc công bố quyết định TTKT. Thông báo phải nêu rõ về
thời gian, địa điểm, thành phần tham dự buổi công bố quyết định TTKT.
Thành phần tham dự buổi công bố quyết định TTKT gồm có Đoàn
TTKT, thủ trưởng cơ quan, tổ chức và các cá nhân là đối tượng TTKT. Trong
trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn TTKT mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan tham dự buổi công bố quyết định TTKT.
Giai đoạn tiến hành TTKT:
Công bố quyết định TTKT:
Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày ra quyết định TTKT, Trưởng đoàn
TTKT có trách nhiệm công bố quyết định TTKT với đối tượng TTKT.
Trưởng đoàn TTKT chủ trì buổi công bố quyết định TTKT, đọc toàn văn
quyết định TTKT, nêu rõ mục đích, yêu cầu, cách thức và phương thức làm việc
của Đoàn TTKT, quyền và nghĩa vụ của đối tượng TTKT, chương trình làm việc
cụ thể và những công việc khác có liên quan đến hoạt động của Đoàn TTKT.
Đoàn TTKT yêu cầu đại diện thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
là đối tượng TTKT báo cáo trực tiếp về những nội dung TTKT theo đề cương
đã gửi. Qua nghe báo cáo của đối tượng TTKT chuẩn bị, nếu thấy cần thiết
phải bổ sung, Trưởng đoàn TTKT có thể yêu cầu đối tượng TTKT tiếp tục bổ
sung, hoàn chỉnh báo cáo.
Trưởng đoàn TTKT phân công thành viên Đoàn TTKT ghi biên bản về
việc công bố quyết định TTKT. Biên bản được ký giữa Trưởng đoàn TTKT và
thủ trưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng TTKT.
Thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung TTKT
Trưởng đoàn TTKT yêu cầu đối tượng TTKT cung cấp hồ sơ, tài liệu
có liên quan đến nội dung TTKT. Việc cung cấp hồ sơ, tài liệu được lập thành
biên bản giao nhận giữa Đoàn TTKT và đối tượng TTKT.

106
Trong quá trình TTKT, nếu xét thấy cần thiết, Trưởng đoàn TTKT hoặc
thành viên Đoàn TTKT (là TTKT viên) tiếp tục yêu cầu đối tượng TTKT, yêu
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội
dung TTKT. Việc cung cấp thông tin, tài liệu được thể hiện bằng văn bản của
cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp hoặc Đoàn TTKT lập biên bản về việc
cung cấp thông tin, tài liệu.
Việc quản lý, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu thu thập theo đúng
quy định của pháp luật về TTKT.
Kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu
Trên cơ sở văn bản báo cáo của đối tượng TTKT và các thông tin, tài
liệu đã thu thập được, Đoàn TTKT có trách nhiệm nghiên cứu, phân tích, đối
chiếu, so sánh, đánh giá; yêu cầu đối tượng TTKT giải trình về những vấn đề
liên quan đến nội dung TTKT; tiến hành kiểm tra, xác minh thực tế (nếu thấy
cần thiết) và chịu trách nhiệm về tính chính xác, khách quan của những thông
tin, tài liệu đã kiểm tra, xác minh.
Trường hợp kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu tại cơ quan, tổ chức,
cá nhân không phải là đối tượng TTKT thì thành viên đoàn TTKT phải đề
xuất xin ý kiến Trưởng đoàn TTKT và phải được sự đồng ý của Trưởng đoàn
TTKT. Kết quả kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung
TTKT phải được thể hiện bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân được
kiểm tra, xác minh hoặc Đoàn TTKT lập biên bản kiểm tra, xác minh.
Trưởng đoàn TTKT, thành viên đoàn TTKT trong khi tiến hành TTKT,
nếu phát hiện có sai phạm thì phải tiến hành lập biên bản với đối tượng TTKT
để xác định rõ nội dung, tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, nguyên nhân
dẫn đến vi phạm.
Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật đến mức phải truy
cứu trách nhiệm hình sự, Trưởng đoàn TTKT có trách nhiệm báo cáo với
người ra quyết định TTKT xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ vụ việc
sang cơ quan điều tra.

107
Báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ TTKT
Thành viên Đoàn TTKT có trách nhiệm báo cáo tiến độ thực hiện
nhiệm vụ TTKT cho Trưởng đoàn TTKT theo kế hoạch TTKT đã được phê
duyệt hoặc theo yêu cầu đột xuất của Trưởng đoàn TTKT.
Trưởng đoàn TTKT có trách nhiệm báo cáo với người ra quyết định TTKT
về tiến độ thực hiện nhiệm vụ TTKT của Đoàn TTKT theo kế hoạch TTKT đã
được phê duyệt hoặc theo yêu cầu đột xuất của người ra quyết định TTKT.
Báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ TTKT được thể hiện bằng văn bản,
gồm các nội dung: tiến độ thực hiện nhiệm vụ TTKT đến ngày báo cáo; nội
dung TTKT đã hoàn thành, kết quả phần việc đã TTKT, nội dung TTKT đang
tiến hành; dự kiến công việc thực hiện trong thời gian tới; khó khăn, vướng
mắc và đề xuất biện pháp giải quyết.
Người ra quyết định TTKT, Trưởng đoàn TTKT phải kiểm tra và có ý
kiến chỉ đạo cụ thể, trực tiếp về các báo cáo tiến độ của Trưởng đoàn TTKT,
của các thành viên Đoàn TTKT.
Thay đổi Trưởng đoàn TTKT, thành viên Đoàn TTKT; bổ sung thành
viên Đoàn TTKT
Việc thay đổi Trưởng đoàn TTKT.
Trong quá trình TTKT, việc thay đổi Trưởng đoàn TTKT, thành viên
Đoàn TTKT được thực hiện trong trường hợp Trưởng đoàn TTKT, thành viên
Đoàn TTKT không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, vi phạm pháp luật hoặc
vì lý do khách quan mà không thể thực hiện nhiệm vụ.
Trường hợp Trưởng đoàn TTKT đề nghị được thay đổi: Trưởng đoàn
báo cáo bằng văn bản nêu rõ lý do gửi người ra quyết định TTKT.
Trường hợp người ra quyết định TTKT chủ động thay đổi: Người ra
quyết định TTKT thông báo cho Trưởng đoàn lý do phải thay đổi.
Người ra quyết định TTKT giao cho người dự kiến thay thế làm Trưởng
đoàn TTKT dự thảo quyết định thay đổi Trưởng đoàn trình người ra quyết
định ký ban hành.