Tải bản đầy đủ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

42
Chọn mẫu số cá nhân, đơn vị, cơ quan là đối tượng của hoạt động
TTKT của KBNN Thái Nguyên tính trong năm 2016 là 296 đối tượng, công
chức công chức thuộc hệ thống KBNN Thái Nguyên bao gồm cả các huyện
trực thuộc KBNN Thái Nguyên là 218 người, tính đến tháng 12/2016. Vì
vậy, quy mô mẫu là 514 người (N= 514, trong đó: n1 là: 296, n2: 218):
Áp dụng công thức tính quy mô mẫu là công chức công chức và
khách hàng như sau:
n=

514(1.96) 2 (0.5)(1 − 0.5)
NZ 2 p (1 − p )
=
= 219
Nd 2 + Z 2 p (1 − p) 514(0.05) 2 + (1.96) 2 (0.5)(1 − 0.5)

Trong đó:
n1, n2 = Quy mô mẫu mong muốn
N = Tổng thể mẫu
Z = Độ lệch chuẩn, mức 1.96, tương ứng với mức 95% độ tin cậy
p = Phần tổng thể mục tiêu được đánh giá là có những đặc điểm chung
cụ thể, thường mức 50% (0.5)
d = độ chính xác kỳ vọng, thường để ở mức 0.05
- Tiêu chí chọn mẫu:
+ Mẫu được chọn ngẫu nhiên từ số công chức của KBNN Thái Nguyên
và đối tượng TTKT của Kho bạc.
- Tổng số phiếu phát ra là 219 phiếu, tống số phiếu thu về là 217 phiếu;
2 phiếu không hợp lệ. Như vậy, luận văn sử dụng 217 phiếu hợp lệ dùng để
phân tích hiệu quả công tác TTKT tại KBNN Thái Nguyên. Trong đó 92
phiếu điều tra đối tượng và công chức tại KBNN tỉnh Thái Nguyên, 127 phiếu
điều tra đối tượng là các cá nhân ngoài KBNN.
- Thang đo của bảng hỏi: Thang đo Likert 5 mức độ được sử dụng trong
nghiên cứu này. Thang đo được tính như sau: 1- Rất không đồng ý, 2- Không
đồng ý, 3- Không ý kiến (Bình thường), 4- Đồng ý và 5- Rất đồng ý.
- Quy trình thiết kế bảng hỏi
Bước 1: Bảng câu hỏi ban đầu được xây dựng dự trên sự tham khảo các
câu hỏi liên quan tới yếu tố chất lượng dịch vụ SERVQUAL của (Parasuraman

43
and et al, 1988) có sự điều chỉnh lại cho phù hợp với điều kiện thực tế của
KBNN Thái Nguyên
Bước 2: Bảng câu hỏi được hoàn chỉnh và khảo sát thử trước khi gửi đi
khảo sát chính thức.
2.2.2. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
Sau khi thu thập được các thông tin tiến hành phân loại, sắp xếp
thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin. Đối với các
thông tin là số liệu lịch sử và số liệu khảo sát thực tế thì tiến hành lập lên
các bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ...
Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý bởi chương trình Excel trên máy
tính. Đối với những thông tin là số liệu định lượng thì tiến hành tính toán các
chỉ tiêu cần thiết như số tuyệt đối, số tương đối, số trung bình và lập thành
các bảng biểu, đồ thị.
2.2.2.1. Phân tổ thống kê
Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hay một số tiêu thức nào đó để
phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ có tính chất khác
nhau. Phân tổ là phương pháp cơ bản để tiến hành tổng hợp thống kê. Qua
phân tổ các đơn vị tổng thể được tập hợp lại thành một số tổ, giữa các tổ có sự
khác nhau rõ rệt, còn trong phạm vi mỗi tổ các đơn vị đều có sự giống nhau
hoặc gần giống nhau về tính chất theo tiêu thức được dùng làm căn cứ phân
tổ. Từ đó, có thể đi sâu tính toán, nghiên cứu các đặc điểm riêng của mỗi tổ
cũng như các đặc điểm chung của tổng thể. Phương pháp phân tổ sẽ cho tác
giả sự nhìn nhận rõ ràng để có được những kết luận chính xác nhất đối với
việc hoàn thiện hệ thống TTKT tại KBNN Thái Nguyên.
2.2.2.2. Bảng thống kê
Bảng thống kê là hình thức biểu hiện các số liệu thống kê một cách có
hệ thống, lôgíc nhằm mô tả cụ thể, rõ ràng các đặc trưng về mặt lượng của
các hiện tượng nghiên cứu. Bảng thống kê được sử dụng trong nghiên cứu

44
này nhằm giúp cho việc phân tích thống kê được thuận lợi, rõ ràng. Các số
liệu đã thu thập được sắp xếp khoa học trong bảng thống kê có thể giúp so
sánh, đối chiếu, phân tích theo nhiều phương pháp khác nhau nhằm đánh giá
bản chất hiện tượng nghiên cứu. Bảng thống kê được sử dụng trong nghiên
cứu này là bảng giản đơn.
2.2.2.3. Biểu đồ thống kê
Biểu đồ thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét hình học dùng để miêu
tả có tính chất quy ước các số liệu thống kê. Biểu đồ thống kê được sử dụng
trong đề tài này với sự kết hợp giữa các con số với các hình vẽ và màu sắc để
trình bày một cách sinh động các đặc trưng về số lượng và xu hướng phát
triển về mặt lượng của hiện tượng. Nhờ đó, biểu đồ có khả năng thu hút sự
chú ý của người đọc, giúp lĩnh hội được thông tin nhanh chóng và kiểm tra
nhanh bằng hình ảnh độ chính xác của thông tin thống kê.
2.2.3. Phương pháp phân tích thông tin
Phân tích thông tin là giai đoạn cuối cùng của nghiên cứu khoa học, có
nhiệm vụ làm rõ các đặc trưng, xu hướng phát triển của hiện tượng và quá
trình nghiên cứu dựa trên các thông tin thống kê đã được thu thập, xử lý và
tổng hợp nhằm giải đáp các câu hỏi đã đặt ra. Quá trình phân tích phải xác
định cụ thể các mức độ của hiện tượng, xu hướng biến động cũng như tính
chất và các mức độ chặt chẽ của các mối liên hệ giữa các hiện tượng, để từ đó
rút ra được những kết luận khoa học.
2.2.3.1. Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này được áp dụng nhằm mô tả các hoạt động và các chỉ
tiêu phản ánh thực trạng tại đơn vị nghiên cứu, thông qua đó đánh giá được
mức độ của các hoạt động cần nghiên cứu. Từ đó, làm căn cứ để phát hiện xu
hướng và nguyên nhân các vấn đề phát sinh cần giải quyết để đạt được mục
đích nghiên cứu.

45
Áp dụng vào luận văn, học viên tổng hợp các tài liệu hội thảo, tạp chí
liên quan đến ngành để rút ra kinh nghiệm cho hoạt động thanh tra, kiểm tra
kết hợp với một số kỹ thuật thống kê, phân tích định lượng để làm cơ sở cho
các kết luận.
2.2.3.2. Phương pháp so sánh
Sau khi tính toán số liệu ta tiến hành so sánh số liệu giữa các năm. Từ
đó đưa ra được những nhận xét, đánh giá thông qua kết quả tổng hợp và tính
toán số liệu về việc nghiên cứu giải pháp hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm
tra tại KBNN Thái Nguyên từ năm 2014 đến năm 2016. Từ những nhận xét
đánh giá đưa ra các kết luận về việc nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng
hệ thống thanh tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên: Những thuận lợi, khó
khăn; những ưu điểm, nhược điểm còn tồn tại.
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
Để nghiên cứu luận văn tác giả tiến hành nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu
nghiên cứu sau:
2.3.1. Nhóm chỉ tiêu định lượng
- Tỷ

lệ hoàn thành kế hoạch TTKT: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch TTKT là

là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của công tác TTKT tại KBNN Thái Nguyên thông
qua mức độ hoàn thành số lượng các cuộc TTKT theo kế hoạch được xây dựng
đầu mỗi năm của KBNN tỉnh.
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch

=

Số cuộc TTKT đã thực hiện *100%

TTKT
Số cuộc TTKT theo kế hoạch
- Tỷ lệ hồ sơ được TTKT: Tỷ lệ hồ sơ được TTKT là chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả của công tác TTKT tại KBNN thông qua việc so sánh số lượng hồ sơ
được TTKT và tổng số hồ sơ được phê duyệt tại KBNN hàng năm. Nếu chỉ
tiêu này càng lớn thì hiệu quả của công tác TTKT tại KBNN càng cao.
Tỷ lệ hoàn thành kế
hoạch TTKT

Số hồ sơ được TTKT *100%
=

Tổng số hồ sơ được phê duyệt

46
- Tỷ lệ tăng trưởng số đợt TTKT: Là chỉ tiêu phản ánh mức độ gia tăng
hay giảm đi của số đợt TTKT hàng năm tại KBNN. Nếu chỉ tiêu này lớn hơn
0 chứng tỏ KBNN trong năm đó đã nỗ lực gia tăng các đợt TTKT nhằm thắt
chặt kiểm soát chi NSNN và gia tăng sự minh bạch trong quản lý nguồn ngân
sách tại KBNN
Tỷ lệ tăng trưởng về
số đợt TTKT

(Số đợt thanh tranăm t –Số đợt thanh tra năm (t-1)) *100%
=

Số đợt thanh tra năm (t-1)

- Tỷ lệ truy thu NSNN sau TTKT do sai phạm: Là chỉ tiêu so sánh giữa

lượng NSNN được KBNN truy thu sau khi TTKT và phát hiện ra sai phạm
của các đơn vị trực thuộc KBNN tỉnh hoặc sai phạm của các đơn vị sử dụng
NSNN so với lượng NNSN được chi mỗi năm nhằm góp phần quản lý chặt
chẽ NSNN, tránh chi NSNN sai quy định, giảm thâm hụt ngân sách.
Tỷ lệ truy thu NSNN do
=
sai phạm
- Số

Số NSNN được truy thu sau TTKT*100%
Tổng chi NSNN

đợt TTKT theo nội dung: Là chỉ tiêu định lượng thể hiện số lượng

các cuộc TTKT của KBNN theo 4 nội dung chính, bao gồm công tác kế toán;
công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB, chương trình mục tiêu; công
tác quản lý tài chính, tài sản nội ngành và công tác an toàn kho quỹ.
- Kết

quả hoạt động TTKT theo phương thức: Là chỉ tiêu định lượng thể

hiện số lượng các cuộc TTKT của KBNN theo 2 hình thức TTKT thường
xuyên và TTKT đột xuất qua các thời kỳ.
- Kết

quả giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo: Là chỉ tiêu định lượng thể

hiện số lượng các đơn kiếu nại, tố cáo đã được giải quyết qua các thời kỳ.
- Số công chức thanh tra, kiểm tra (tổng hợp, theo ngạch, trình độ học
vấn và hệ đào tạo): Là số công chức thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra
trong đơn vị trong từng thời kỳ.
2.3.2. Nhóm chỉ tiêu định tính

47
- Trình độ chuyên môn của công chức thanh tra kiểm tra, là chỉ tiêu thể
hiện được một phần trình độ của người thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra,
có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra.
- Công tác chỉ đạo TTKT: Thông thường Công tác chỉ đạo càng chi tiết,
càng rõ ràng thì việc thực hiện càng thuận lợi, giảm thiểu được sai sót.
- Cơ sở pháp lý cho hoạt động TTKT: Là những quy định pháp luật liên
quan đến hoạt động TTKT để từ đó các công chức TTKT có cơ sở, căn cứ để
phát hiện các sai phạm và đưa ra các hình thức kỷ luật. Cơ sở pháp lý càng
đầy đủ, chi tiết càng là điều kiện thuận lợi để hoạt động TTKT được tiến hành
hiệu quả.
- Trang thiết bị cở sở vật chất kỹ thuật: Hiện nay, thiết bị cơ sở vật chất
kỹ thuật có tác động tương đối lớn đối với các hoạt động chuyên môn.
- Sự hợp tác của các đối tượng TTKT: Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến
tính chính xác của thông tin, báo cáo cũng như hiệu quả về thời gian, tài chính
của cuộc TTKT trong việc phát hiện những sai phạm trong hoạt động sử dụng
NSNN của đối tượng TTKT.
- Mức độ tuân thủ các văn bản kết luận thanh tra, kiểm tra của đối
tượng được thanh tra, kiểm tra: Được xác định dựa vào mức độ chấp nhận
một phần hay hoàn toàn các văn bản kết luận của đối tượng được thanh
tra, kiểm tra.
- Mức độ hài lòng của đối tượng thanh tra, kiểm tra: Được ước tính
thông qua các cuộc phỏng vấn trực tiếp hoặc đánh giá mức độ tỷ lệ các hồ sơ
thanh tra, kiểm tra có ý kiến ngược lại với kết luận thanh tra hoặc có khiếu nại
đối với kết luận thanh tra.

48
Chương 3
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA
TẠI KBNN THÁI NGUYÊN
3.1. Khái quát chung về KBNN Thái Nguyên
3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của KBNN Thái Nguyên
Ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đó ký Sắc lệnh số 75/SL thành
lập Nha Ngân Khố trực thuộc Bộ Tài chính. Đây là mốc lịch sử quan trọng
đầu tiên về sự thành lập của KBNN Việt Nam. Nha Ngân Khố có nhiệm vụ
chủ yếu là tập trung các khoản thu về thuế, đảm vụ quốc phòng, tiền thu công
phiếu kháng chiến, quản lý và giám sát các khoản cấp Ngân sách, làm thủ tục
quyết toán với cơ quan tài chính, tổ chức phát hành giấy bạc Việt Nam trên
toàn quốc, đấu tranh trên mặt trận tiền tệ, thu hẹp, loại bỏ ảnh hưởng của đồng
Đông Dương và các loại tiền khác của địch và tích cực đấu tranh để thực hiện
các nguyên tắc cơ bản về thể lệ thu, chi và kế toán đại cương nhằm tăng
cường công tác quản lí tài chính..
Năm 1951, cùng với sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam,
KBNN cũng được thành lập. Theo đó, KBNN là đơn vị trực thuộc Ngân hàng
Quốc gia Việt Nam và thuộc quyền quản trị của Bộ Tài Chính. Nhiệm vụ chủ
yếu của KBNN là quản lý thu chi quỹ NSNN.
Đến năm 1990, Quản lí và điều hành quỹ NSNN trở thành một nhiệm
vụ cực kì quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ phát triển kinh tế đất nước.
Sau thời gian dài nghiên cứu, tổ chức thí điểm và điều chỉnh, KBNN đã
được hoàn thiện về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức.
Ngày 4-1-1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số 07/HĐBT
thành lập hệ thống KBNN trực thuộc Bộ Tài chính với chức năng và nhiệm
vụ chủ yếu là Quản lý quỹ NSNN và các quỹ dự trữ tài chính Nhà nước; Theo
Quyết định Số 07/HĐBT, hệ thống KBNN được tổ chức thành 3 cấp: ở Trung

49
ương có Cục KBNN trực thuộc Bộ Tài chính; ở tỉnh, thành phố (trực thuộc
Trung ương) có Chi cục KBNN; ở huyện, quận và cấp tương đương có Chi
nhánh KBNN.
Ngày 1-4-1990, ngày hệ thống KBNN được tổ chức khá hoàn chỉnh về
chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và chính thức đi vào hoạt động trên phạm
vi cả nước.
Theo đó, KBNN là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, có nhiệm vụ giúp
Bộ Trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lí nhà nước về quỹ
NSNN, quỹ dự trữ tài chính nhà nước và các quỹ khác của nhà nước được
giao theo qui định của pháp luật, thực hiện huy động vốn cho NSNN và cho
đầu tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu theo qui định
của pháp luật.
3.1.2. Cơ cấu tổ chức của KBNN Thái Nguyên.
KBNN Thái Nguyên gồm KBNN tỉnh và các KBNN huyện. KBNN tỉnh
có cơ cấu tổ chức gồm: 01 Giám đốc, 02 Phó giám đốc và các phòng nghiệp vụ
sau: Phòng Kế toán nhà nước; Phòng Kiểm soát chi; Phòng Thanh tra - Kiểm
tra; Phòng Tin học; Phòng Tổ chức công chức; Phòng Tài vụ và Văn phòng.
KBNN Thái Nguyên được tổ chức thành hệ thống dọc từ Tỉnh đến
huyện theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung, thống nhất.
+ Cơ quan KBNN ở Tỉnh: gồm các phòng: Phòng Kế toán nhà nước;
Phòng Kiểm soát chi NSNN; Phòng Tin học; Phòng Tổ chức công chức;
Phòng Tài vụ; Phòng Thanh tra, kiêm tra ; và Văn phòng.
+ Cơ quan KBNN ở huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung
là KBNN cấp huyện) trực thuộc KBNN cấp tỉnh gồm các tổ: Tổ Tổng hợp; Tổ
Kế toán nhà nước.
KBNN cấp huyện có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài
khoản tại ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại theo quy định
của pháp luật.