Tải bản đầy đủ
b. Quy trình quản lý hoạt động kiểm tra tại KBNN

b. Quy trình quản lý hoạt động kiểm tra tại KBNN

Tải bản đầy đủ

20
nghị, biện pháp xử lý, thời hạn xử lý, thời hạn báo cáo thực hiện kiến nghị của
đoàn kiểm tra. Yêu cầu các đơn vị cần phối hợp xử lý sau kiểm tra.
+ Báo cáo kết quả kiểm tra gửi: KBNN được kiểm tra, KBNN cấp trên
trực tiếp, các đơn vị cần phối hợp xử lý sau kiểm tra hoặc theo yêu cầu của
người ban hành quyết định kiểm tra.
+ Kết thúc cuộc kiểm tra, Trưởng Đoàn kiểm tra chỉ đạo các thành viên
Đoàn kiểm tra thực hiện bàn giao đầy đủ hồ sơ, tài liệu đã trưng dụng có liên
quan đến việc phục vụ công tác kiểm tra cho đơn vị được kiểm tra.
Mỗi bước có yêu cầu và nội dung khác nhau nhưng có liên quan đến
nhau, bước trước là tiền đề cho bước sau, bước sau là kết quả của bước trước.
1.1.3.2. Tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra KBNN
* Về nội dung
Công tác thanh tra, kiểm tra tại KBNN Thái Nguyên có đầy đủ các nội
dung theo quy định đối với công tác thanh tra, kiểm tra trong toàn hệ thống
KBNN trên cả nước. Hoạt động thanh tra, kiểm tra được KBNN Thái Nguyên
triển khai trên tất cả các mặt hoạt động nghiệp vụ, đặc biệt tập trung vào
những lĩnh vực chủ yếu có liên quan đến việc quản lý tiền, tài sản như: công
tác quản lý quỹ NSNN, quản lý vốn tiền mặt, tài sản; kiểm soát chi NSNN;
kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB; chương trình mục tiêu; phát hành,
thanh toán trái phiếu, tín phiếu, chi trả công trái; quản lý kinh phí nội bộ,
công tác XDCB nội ngành; tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố
cáo trong hệ thống KBNN.
* Về phương thức thanh tra, kiểm tra
Đối với hoạt động thanh tra: Phương pháp tổ chức thanh tra là cách
thức tổ chức hoạt động cuộc thanh tra; phương pháp nghiệp vụ thanh tra được
thực hiện đảm bảo cuộc thanh tra tiến hành đảm bảo đúng quy trình; đúng kế
hoạch; đảm bảo chất lượng cuộc thanh tra.

21
Phương pháp tổ chức hoạt động thanh tra bao gồm các hoạt động sau:
tổ chức chuẩn bị các điều kiện về vật chất; con người trước khi thanh tra; hoạt
động điều hành đoàn thanh tra của trưởng đoàn thanh tra; hoạt động tác
nghiệp của đoàn viên thanh tra như sử dụng các phương pháp nghiệp vụ thanh
tra để tiến hành thanh tra; cụ thể như sau:
Căn cứ vào những khảo sát về đối tượng thanh tra; lập kế hoạch thanh
tra phù hợp với tình hình thực tế của đối tượng thanh tra; bố trí thành viên
đoàn thanh tra và trưởng đoàn thanh tra phù hợp cho cuộc thanh tra.
Hoạt động điều hành của trưởng đoàn thanh tra: vai trò trưởng đoàn
thanh tra KBNN là rất quan trọng; quyết định việc thành công hay không của
cuộc thanh tra như:
Trước khi thanh tra; trưởng đoàn thanh tra phải chuẩn bị đầy đủ các yếu tố
về vật chất; tinh thần cho cuộc thanh tra; quán triệt kế hoạch thanh tra đã được
phê duyệt, nội quy chế đoàn thanh tra; bàn các biện pháp cụ thể để tổ chức thực
hiện kế hoạch; giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên đoàn thanh tra; đào tạo,
hướng dẫn cho công chức đoàn thanh tra; chuẩn bị đầy đủ văn bản về chính
sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức liên quan đến nội dung thanh tra. Trong quá
trình thanh tra làm việc tại KBNN cấp dưới; trưởng đoàn thanh tra là người phát
ngôn của đoàn thanh tra; giải quyết những vướng mắc của KBNN cấp dưới và
của thành viên đoàn thanh tra. Trong quá trình kết thúc thanh tra, trưởng đoàn
thanh tra phải tổng hợp được kết quả làm việc của từng thành viên đoàn thanh tra
từ đó lập báo cáo kết quả thanh tra báo cáo người ra quyết định thanh tra.
Đối với hoạt động kiểm tra: Việc đa đạng hoá các phương thức kiểm tra
đã được hệ thống TTKT KBNN Thái Nguyên thực hiện trong các năm gần đây.
Bên cạnh các hình thức kiểm tra truyền thống như kiểm tra thường xuyên theo
kế hoạch, kiểm tra đột xuất theo yêu cầu chỉ đạo hoặc khi cần xác minh đơn
thư khiếu nại, tố cáo, xử lý vụ việc vi phạm, hiện nay KBNN Thái Nguyên còn
sử dụng hình thức kiểm tra chéo (kiểm tra giữa các đơn vị KBNN do KBNN
cấp trên quyết định kiểm tra). Các Phương thức kiểm tra bao gồm:

22
+ Kiểm tra thường xuyên: Là kiểm tra toàn diện các hoạt động nghiệp
vụ KBNN hoặc kiểm tra chuyên đề theo kế hoạch kiểm tra được xây dựng
hàng quý, hàng năm.
+ Kiểm tra đột xuất: Được tiến hành trong các trường hợp khi phát hiện
có những dấu hiệu có thể dẫn đến mất an toàn trong hoạt động của các đơn vị
thuộc hệ thống KBNN hoặc khi cần xác minh nội dung đơn thư tố cáo hoặc
phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật theo chỉ đạo của thủ trưởng đơn vị.
+ Tự kiểm tra: Là việc công chức, công chức của các đơn vị nghiệp vụ
tự kiểm tra thường xuyên việc chấp hành các chế độ, chính sách, quy trình
nghiệp vụ, quy chế, quy định nội bộ của đơn vị nhằm đảm bảo việc thực hiện
đúng các quy định của pháp luật và quy trình của KBNN.
+ Phúc tra: Là hoạt động kiểm tra việc khắc phục các tồn tại, sai sót
được phát hiện và kết luận, kiến nghị qua các cuộc kiểm tra.
+ Kiểm tra chéo: Được tiến hành giữa các đơn vị KBNN theo quyết
định, đề cương kiểm tra do thủ trưởng KBNN cấp trên phê duyệt.
+ Giám sát từ xa: Là hoạt động kiểm tra gián tiếp thông qua việc sử
dụng chương trình tin học nghiệp vụ và hệ thống thông tin báo cáo nghiệp vụ
để xem xét, đánh giá tình hình triển khai hoạt động nghiệp vụ tại đơn vị, phát
hiện và cảnh báo các rủi ro có thể xảy ra, giúp thủ trưởng các đơn vị KBNN
ra quyết định kiểm tra hoặc có biện pháp xử lý kịp thời.
1.1.3.3. Giám sát công tác thanh tra, kiểm tra KBNN
Giám sát hoạt động thanh tra, kiểm tra là hoạt động nhằm theo dõi,
nắm bắt việc chấp hành pháp luật, tuân thủ chuẩn mực đạo đức, quy tắc
ứng xử của công chức thanh tra và ý thức kỷ luật của Trưởng Đoàn thanh
tra, kiểm tra, thành viên Đoàn thanh tra, kiểm tra; tình hình thực hiện
nhiệm vụ và triển khai hoạt động thanh tra để kịp thời có biện pháp chấn
chỉnh, xử lý nhằm đảm bảo thực hiện đúng mục đích, yêu cầu, nội dung
theo kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt.
Việc giám sát hoạt động của Đoàn thanh tra, kiểm tra được tiến hành
thường xuyên kể từ ngày công bố quyết định thanh tra đến ngày kết thúc việc

23
thanh tra tại nơi được thanh tra, kiểm tra; Tuân theo pháp luật, bảo đảm tính
chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời; Bảo đảm bí mật thông
tin, tài liệu liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra; kiểm tra, không can
thiệp trái pháp luật vào hoạt động của Đoàn thanh tra, kiểm tra.
1.1.3.4. Đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra KBNN
Để đạt được mục đích đề ra, trong hoạt động thanh tra cần quán triệt
các nguyên tắc cơ bản sau:
Hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tuân theo pháp luật: Nhà nước ta
là Nhà nước pháp quyền XHCN, pháp luật vừa là chuẩn mực trong hoạt
động quản lý kinh tế - xã hội, vừa tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các
hoạt động này. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi khâu của hoạt động TTKT phải
được thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự do pháp luật quy định, mọi
đánh giá nhận xét đều phải dựa trên quy định của pháp luật làm chuẩn mực
và hệ thống pháp luật cũng cần phải được liên tục hoàn thiện để phù hợp
với thực tế khách quan.
Hoạt động TTKT phải bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực:
Nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động TTKT phải tôn trọng sự thật, đánh giá
đúng như nó vốn có, không được áp đặt, suy diễn chủ quan, tùy tiện. Để
thực hiện được nguyên tắc này, công chức TTKT cần có kiến thức vững
vàng và đạo đức trong sáng, phải quán triệt nhìn nhận đánh giá sự vật, hiện
tượng theo quan điểm duy vật biện chứng: toàn diện, lịch sử cụ thể, thực
tiễn và phát triển.
Hoạt động TTKT phải bảo đảm dân chủ, công khai và kịp thời:
nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động TTKT phải đặt lợi ích của nhân dân lên
trên, lắng nghe tôn trọng ý kiến quần chúng nhân dân, không được cửa
quyền hách dịch coi thường hoặc ức hiếp quần chúng nhân dân; hoạt động
TTKT phải tuân theo quy trình rõ ràng và minh bạch, có cơ chế giám sát
việc thực hiện hoạt động TTKT. Hoạt động TTKT cần tuân theo thời hạn
nhất định và tiến hành đúng lúc. Công khai dân chủ là một giải pháp phòng
chống tham nhũng trong hoạt động TTKT.

24
Hoạt động TTKT không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ
quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng TTKT: hoạt động TTKT là một loại
hoạt động của bộ máy công quyền, vừa quản lý xã hội nhưng cũng phải
phục vụ xã hội. Do vậy nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động TTKT cần có sự
phối kết hợp tốt với đối tượng TTKT để tổ chức hoạt động TTKT một cách
phù hợp với điều kiện thực tế, thời gian và hoàn cảnh của đơn vị, không
làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh hay tổ chức điều hành
vốn có của cơ quan đơn vị được TTKT.
Sau khi có kết luận TTKT, Trưởng đoàn TTKT có trách nhiệm tổ chức
họp đoàn TTKT để tổng kết, rút kinh nghiệm về hoạt động của Đoàn TTKT.
Nội dung tổng kết như sau:
- Đánh giá kết quả TTKT so với mục đích, yêu cầu của cuộc TTKT.
- Đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, thực hiện
quy chế hoạt động của Đoàn TTKT, Quy chế giám sát, kiểm tra hoạt động của
Đoàn TTKT, Quy tắc ứng xử của công chức TTKT và các quy định khác có
liên quan đến hoạt động Đoàn TTKT.
- Những bài học kinh nghiệm rút ra qua cuộc TTKT.
- Những kiến nghị, đề xuất của đoàn TTKT (nếu có)
Để đánh giá kết quả một cuộc TTKT cần chú ý đến các nội dung sau:
Đánh giá một cách chính xác, đúng mức các ưu điểm, khuyết điểm, sai phạm,
có chứng cứ chính xác, bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý, nguyên nhân khách
quan, chủ quan của khuyết điểm, sai phạm, quy rõ trách nhiệm tập thể và trách
nhiệm cá nhân đối với vi phạm, có địa chỉ rõ ràng; kiến nghị được những giải
pháp có tính khả thi (theo từng cấp độ khác nhau) khắc phục sai phạm.
Nhằm đánh giá hiệu quả của quá trình TTKT, kiểm tra KBNN, các kết
luận của quá trình điều tra phải đáp ứng các tiêu chí sau:
- Đảm bảo tính chính xác: Kết luận TTKT KB phải trình bày được bản
chất, tính chất của sự việc, sự kiện, hiện tượng, quá trình, hành vi đã xảy ra
trong thực tế, thông qua việc sử dụng một cách chính xác, có hệ thống kết quả

25
TTKT (gồm báo các kết quả TTKT và hồ sơ TTKT như: tài liệu, số liệu,
chứng cứ sau khi kết thúc TTKT trực tiếp) để chứng minh.
- Đảm bảo tính khách quan: Yêu cầu khách quan trong Kết luận TTKT
KB là việc khi đưa ra nhận định, đánh giá phải dựa trên cơ sở bản chất, tính
chất của sự việc, sự kiện, hiện tượng, quá trình, hành vi đã xảy ra trong bối
cảnh, điều kiện thực tế nào đó; không sử dụng những thông tin không chính
xác, chưa đủ tin cậy và không chắc chắn để lập luận, chứng minh và đưa ra
nhận định, đánh giá.
Mặt khác, các nhận định, đánh giá trong Kết luận TTKT KB phải được
lập luận, chứng minh một cách đúng đắn, khoa học, logic; do đó phải trên cơ
sở nhận thức đúng và đầy đủ hệ thống pháp luật cũng như các nguyên tắc áp
dụng các quy định của pháp luật; sử dụng kết hợp tri thức, kiến thức tổng hợp
với các tri thức, kiến thức, nguyên tắc, chuẩn mực có tính chuyên sâu, chuyên
ngành cho từng lĩnh vực, từng nghề nghiệp khác nhau để chứng minh cho các
nhận định, đánh giá trong Kết luận TTKT KB.
- Đảm bảo tính phù hợp trong kết luận TTKT KB: Kết luận TTKT KB
phù hợp với chính sách, pháp luật và phù hợp với điều kiện thực tế của
ngành/địa phương và các tổ chức là đối tượng TTKT KB.
- Đảm bảo tính chuẩn mực của Kết luận TTKT KB: các kết luận cần cụ
thể, rõ ràng, sai như thế nào, sai ở mức độ nào, sai so với quy định nào, các
sai phạm nào không thể xử lý được, lý do vì sao...
- Đảm bảo tính độc lập tương đối của Kết luận TTKT KB, thông qua
việc hạn chế tác động của các bên liên quan khác.
- Đảm bảo hiệu lực của Kết luận TTKT KB bằng quy định thành lập
các đoàn phúc tra việc thực hiện Kết luận TTKT KB và có biện pháp cưỡng
chế những nội dung bắt buộc.
- Đảm bảo tính tổng hợp, khái quát: Kết luận TTKT KB phải đảm bảo
đầy đủ các nội dung cần thiết, trong đó có nội dung bắt buộc phải có theo
Khoản 2 Điều 50 Luật Thanh tra năm 2010 gồm có các nội dung sau đây:

26
a. Đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn
của đối tượng TTKT thuộc nội dung TTKT;
b. Kết luận về nội dung TTKT;
c. Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm
của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật;
d. Biện pháp xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị biện pháp xử lý.
Tùy thuộc vào phạm vi, tính chất của cuộc thanh tra, kiểm tra, nội dung
của Kết luận TTKT còn có những nội dung khác ngoài các nội dung bắt buộc
nêu trên. Về nguyên tắc, kết luận TTKT KB phải xác định rõ tính chất, mức
độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành
vi vi phạm pháp luật, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp xử lý theo thẩm
quyền và kiến nghị.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thanh tra, kiểm tra tại KBNN
1.1.4.1. Nhân tố chủ quan
- Công tác chỉ đạo thanh tra, kiểm tra: Công tác chỉ đạo thanh tra, kiểm
tra và phương pháp tiến hành thanh tra, kiểm tra có tác động rất lớn đến hoạt
động quản lý tranh tra, kiểm tra tại KBNN. Để công tác quản lý thanh tra,
kiểm tra KBNN đi vào nề nếp, hiệu quả, giảm thiểu các vi phạm trong hoạt
động của các KBNN; tổ chức bộ máy của lực lượng TTKT cần hoạt động hiệu
quả, đảm bảo tính thống nhất trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành.
Trong công tác chỉ đạo, cần làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng
cá nhân trong hoạt động thanh tra, kiểm tra; xác định rõ phạm vi, phương thức
hoạt động TTKT và sự phối hợp của các cơ quan TTKT, khắc phục sự chồng
chéo, trùng lặp trong hoạt động TTKT; tạo ra sự sắp xếp thứ bậc trên dưới
hướng tới sự tuân thủ pháp luật của đối tượng quản lý, đồng thời định hướng,
điều hành, phối hợp hoạt động của con người và cộng đồng để đạt mục tiêu
đề ra. Một bộ máy thanh tra, kiểm tra được tổ chức hợp lý, tinh gọn có sự
phân công quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng, cụ thể, quy định sự phối hợp
nhịp nhàng sẽ là điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện tốt hoạt động thanh tra,

27
kiểm tra KBNN và ngược lại. Nếu tổ chức thanh tra, kiểm tra được thiết kế
không hợp lý, thiếu tính liên kết, không rõ về vai trò vị trí, không thể hiện tính
minh bạch về nhiệm vụ quyền hạn, khi đó nó sẽ là rào cản cho sự linh hoạt và
tính trách nhiệm trong hoạt động thanh tra, kiểm tra.
- Ý thức và năng lực, trình độ của công chức tham gia hoạt động thanh
tra, kiểm tra: Trong bộ máy thanh tra, kiểm tra KBNN, con người vừa là chủ
thể quản lý nhưng đồng thời cũng là lực lượng trực tiếp thực thi công vụ. Với
tư cách chủ thể quản lý, những TTKT viên có thể ra các quyết định quản lý
nhằm hướng tới các đối tượng quản lý thực hiện, do vậy đòi hỏi họ phải đáp
ứng được những yêu cầu của người ra quyết định có tầm nhìn chiến lược, khả
năng thu thập và xử lý thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp tốt, các TTKT
viên phải nắm vững các quy định của pháp luật về lĩnh vực hoạt động của
mình, nắm vững nghiệp vụ, có chuyên môn sâu, thể hiện được đạo đức công
vụ về sự liêm chính, tính công minh, trung thực, khách quan… đòi hỏi ở mức
độ cao hơn so với đội ngũ công chức, công chức nói chung bởi tính chất đặc
thù của công tác TTKT là luôn phải đi xem xét những sai phạm trong hoạt
động KBNN. Nếu chất lượng nguồn nhân lực trong TTKT KBNN không
được đảm bảo về trình độ, chuyên môn, không đảm bảo về đạo đức công vụ,
không được sắp xếp hợp lý về vị trí, phù hợp với trình độ chuyên môn khi đó
dẫn đến tác động trực tiếp như không tạo ra được sự phối kết hợp trong hoạt
động TTKT, không đủ trình độ để xác định được mức độ vi phạm… Những
yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực sẽ là định hướng cho công tác đào tạo
và tuyển chọn đội ngũ công chức TTKT có đủ năng lực tạo chất lượng hoạt
động TTKT ngày càng tốt hơn.
- Hệ thống thông tin, báo cáo và truyền thông: Thông tin, dữ liệu của
hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN có thể được xử lý trên máy tính, qua
hệ thống thủ công hoặc kết hợp cả hai. Dù được lưu trữ và truyền thông

28
bằng loại hình nào, cần đảm bảo các yêu cầu chất lượng của thông tin là
thích hợp, cập nhật, chính xác, truy cập thuận tiện và được phổ biến rộng
rãi đến tất cả các thành viên trong đoàn thanh tra, kiểm tra. Trong đó, cần
chú ý các khía cạnh sau:
+ Mọi thành viên của đơn vị phải hiểu rõ công việc của mình, tiếp
nhận đầy đủ và chính xác các chỉ thị từ cấp trên, hiểu rõ mối quan hệ với
các thành viên khác và sử dụng được những phương tiện thông tin thích
hợp trong tổ TTKT.
+ Các thông tin từ bên ngoài cũng phải được tiếp nhận và ghi nhận một
các đầy đủ, trung thực, có chọn lọc và xác minh mức độ chính xác để có
những phản ứng, thay đổi, bổ sung kịp thời cho cuộc thanh tra, kiểm tra.
1.1.4.2. Nhân tố khách quan
- Cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra, kiểm tra: Để tiến hành hoạt
động TTKT, các cơ quan TTKT phải căn cứ vào những trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định, đồng thời căn cứ vào yêu cầu công tác quản lý, các quy
định pháp luật khác để đưa ra những kiến nghị hoặc xử lý các hành vi vi
phạm. Hoat động TTKT có tính chất khá đặc thù, riêng biệt - không giống
như hoạt động quản lý và cũng không phải là hoạt động tư pháp. Nhiều người
cho rằng hoạt động này mang tính hành chính - tư pháp. Nếu như cơ quan tư
pháp, nhất là Tòa án thực hiện việc xét xử trên cơ sở hồ sơ vụ việc và quy
định pháp luật; hoạt động quản lý là nhanh nhạy, bảo đảm phù hợp với sự phát
triển thực tiễn thì hoạt động TTKT cần đến cả hai yêu cầu này.
Khi cơ quan TTKT đưa ra các kiến nghị đổi mới về cơ chế, chính sách
để điều chỉnh các hoạt động kinh tế xã hội, lúc đó tính hành chính được thể
hiện, ngược lại khi áp dụng chế tài pháp luật để xử lý vi phạm phát hiện qua
TTKT thì tính tư pháp lại thể hiện rõ nét hơn. Chính vì sự đặc thù này của
hoạt động TTKT đặt ra đòi hỏi các quy định pháp luật về TTKT phải có sự
phù hợp, chặt chẽ và đầy đủ. Trên thực tế, chúng ta thấy rằng, hệ thống các

29
quy định pháp luật về TTKT thời gian gần đây ngày càng được đổi mới nhằm
đáp ứng yêu cầu công tác quản lý, song cũng chính là nhằm bảo đảm tính đặc
thù của công tác TTKT. Trước đây, khi cơ sở pháp lý cho hoạt động TTKT
chưa được kiện toàn, còn nhiều hạn chế, bất cập, việc tiến hành của cơ quan
đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Chẳng hạn như việc: Luật thanh tra năm
2004 chỉ quy định thanh tra theo ngành lĩnh vực chỉ được thành lập ở bộ, sở
đã làm hạn chế công tác TTKT chuyên ngành, nhất là các lĩnh vực liên quan
đến đời sống, sinh hoạt của người dân và vì thế nhiều vi phạm pháp luật đã
không được phát hiện và xử lý kịp thời.
Kiến nghị của cơ quan TTKT về những quy định trái pháp luật phát
hiện qua TTKT; việc trưng tập công chức, công chức của các cơ quan, yêu
cầu các cơ quan nhà nước liên quan báo cáo về tình hình tổ chức, hoạt động
TTKT phục vụ cho chức năng quản lý nhà nước về TTKT; việc giải quyết
trùng lặp về thời gian, nội dung TTKT; việc yêu cầu các cơ quan nhà nước
liên quan báo cáo về tình hình tổ chức, hoạt động TTKT phục vụ cho chức
năng quản lý nhà nước về t TTKT …chưa được quy định hoặc quy định chưa
đầy đủ trong Luật thanh tra năm 2004 cũng làm cho các cơ quan TTKT gặp
nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động.
Ngoài tác động từ các quy định pháp luật về TTKT (các quy định liên
quan tới thẩm quyền, trình tự thủ tục tiến hành hoạt động TTKT) thì các quy
định pháp luật về nội dung cũng có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động TTKT.
Điều này được minh chứng qua một số trường hợp khi xử lý kiến nghị của
cơ quan TTKT đã gặp phải vướng mắc do pháp luật chưa có những chế tài
cụ thể, chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá
trình quản lý.
Như vậy, cơ sở pháp lý cho hoạt động TTKT hay những quy định pháp luật
về TTKT nói riêng và pháp luật nói chung đóng vai trò quan trọng và là yếu tố tác
động trực tiếp, có ảnh hướng lớn tới chất lượng, hiệu quả hoạt động TTKT.

30
- Sự phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt
động TTKT: Đối với hoạt động thanh tra, kiểm tra của KBNN, sự hợp tác của
các cơ quan, tổ chức là đối tượng của TTKT và các bên liên quan khác có ảnh
hưởng rất lớn đến tính chính xác của thông tin, báo cáo cũng như hiệu quả về
thời gian, tài chính của cuộc TTKT trong việc phát hiện những sai phạm trong
hoạt động sử dụng NSNN của đối tượng TTKT.
Việc phối hợp phải được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của hoạt
động TTKT, từ khi chuẩn bị TTKT cho tới khi kết thúc và xử lý kết quả
TTKT từ công tác chuẩn bị các thông tin, tài liệu phục vụ việc báo cáo cho
điều tra, đến việc phối hợp thực hiện trong quá trình TTKT, giải trình những
vấn đề chưa đúng hoặc chưa hợp lý. Đối tượng TTKT và cơ quan, tổ chức, cá
nhân liên quan cũng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan TTKT trong việc
công bố kết luận TTKT và nghiêm chỉnh thực hiện các kiến nghị, quyết định
xử lý của cơ quan TTKT.
Nếu đối tượng thanh tr TTKT a và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan không hợp tác, phối hợp thậm chí gây khó khăn cho đoàn TTKT thì chắc
chắn hoạt động TTKT sẽ gặp nhiều khó khăn, nhiều sai phạm sẽ khó bị phát
hiện, làm giảm tính hiệu quả, chính xác của hoạt động TTKT
- Tiêu cực xã hội: Hiện nay, những tiêu cực xã hội đã và đang tấn công
vào hệ thống cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan quan thực thi pháp
luật, gây ra những tác hại không nhỏ, giảm sút lòng tin của nhân dân vào đội
ngũ công chức công chức. Trong hoạt động TTKT không phải là không có
những công chức đã bị xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Nếu
tiêu cực xã hội xảy ra, nhất là tệ hối lộ và nhận hối lộ, thì hoạt động TTKT sẽ
không thể chính xác, khách quan và công bằng. Khi đó, các quyết định được
ban hành chỉ là hình thức, sáo rỗng để biện minh cho một nội dung đã được
biết trước và bị làm sai lệch. Nếu tác hại của nạn hối lộ và tiêu cực là rất
nghiêm trọng trong xã hội thì nó cũng không loại trừ đối với hoạt động