Tải bản đầy đủ
GIỚI THIỆU VỀ NƠI LÀM ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

GIỚI THIỆU VỀ NƠI LÀM ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Tải bản đầy đủ

động hóa, công nghệ vũ trụ, khoa học vật liệu, đa dạng sinh học và các chất có hoạt tính
sinh học, khoa học trái đất, khoa học và công nghệ biển, môi trường và năng lượng, dự
báo, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Đề xuất và chủ trì thực hiện các chương trình
khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước theo sự phân công của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền. Đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao, tổ chức đào tạo
sau đại học về khoa học tự nhiên và công nghệ theo quy định của pháp luật. Báo cáo và
cung cấp thông tin động đất, cảnh báo sóng thần với cơ quan có thẩm quyền theo quy
định. Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường khoa học, công nghệ.
Thẩm định, tư vấn và dịch vụ kỹ thuật các đề án, dự án trong lĩnh vực công nghệ thông
tin.
Chế tạo thử nghiệm các sản phẩm công nghệ thông tin và tự động hóa dựa trên các kết
quả nghiên cứu khoa học công nghệ của Viện.
Biên soạn giáo trình, đào tạo cán bộ nghiên cứu KHCN về công nghệ thông tin.
Tổ chức hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Một số thành tựu nổi bật của Viện Công nghệ thông tin trong thời gian gần đây:
Kỹ thuật vi xử lý và ứng dụng:
Trong giai đoạn đầu thành lập Viện Công nghệ thông tin là nơi đầu tiên đưa kỹ thuật vi
xử lý vào Việt Nam, đóng góp to lớn trong việc ứng dụng và phổ cập rộng rãi vi tin học
trên khắp cả nước. Các máy tính VT8x đầu tiên trong nước do Viện chế tạo đã thử nghiệm
ứng dụng quản lý thành công ở xí nghiệp may Sinco, xí nghiệp điện tử Tân Bình, nhà máy
chế tạo công cụ số 1 Hà Nội.... Viện đã triển khai ứng dụng hiệu quả kỹ thuật vi xử lý tại
Nhà máy xi măng Hoàng Thạch, trong điều độ lưới điện miền Bắc, giám sát nhiệt độ độ
ẩm trong Lăng Bác, trong một số lĩnh vực an ninh – quốc phòng. Đặc biệt chuỗi sản phẩm
các máy lập và giải mã tự động LGM-1 do tập thể cán bộ Viện thiết kế chế tạo đã được
Giải thưởng Nhà nước về KHCN năm 2007.
Kết nối Internet đầu tiên ở Việt Nam:
Năm 1991 Viện tiến hành kết nối thử nghiệm Internet với Trường đại học Karlshure
của Đức và đến năm 1992, nhóm cán bộ của Viện tại Phòng Kỹ thuật tính toán đã nghiên
4

cứu tạo account và thử nghiệm chuyển email nửa thủ công bằng quay số điện thoại kết nối
Viện CNTT (Hà Nội) và Trung tâm tính toán (CCU) của Đại học Quốc gia Úc nơi có
điểm truy cập vào Internet. Viện khi đó xây dựng hệ thống máy chủ email theo tiêu chuẩn
Internet để có thể kết nối những người sử dụng và qua đó đã tiến hành thử nghiệm kết nối
Internet đầu tiên ở Việt nam.
1.2 Cơ cấu tổ chức của viện
Các phòng chuyên môn:
Nghiên cứu hệ thống và quản lý
- Các hệ chuyên gia và tính toán mềm.
- Thống kê - tính toán và ứng dụng.
- Công nghệ tự động hoá.
- Tin học trong điều khiển học.
- Các hệ quản trị dữ liệu.
- Tin học quản lý.
- Công nghệ phần mềm trong quản lý sở dữ liệu và lập trình.
- Các hệ thống phần mềm tích hợp.
- Hệ thông tin địa lý.
- Nhận dạng và Công nghệ tri thức.
- Hệ thống mạng và Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin.
- Tin học viễn thông.
- Công nghệ thực tại ảo.
Các đơn vị quản lý nghiệp vụ:
- Phòng Quản lý tổng hợp.
Các trung tâm:
- Trung tâm Sáng tạo Microsoft (MIC).
- Trung tâm Công nghệ và Giải pháp phần mềm.
Hệ thống điều khiển mức nước thuộc phòng 315 ( kỹ thuật điều khiển và hệ thống
nhúng ), phòng chuyên làm các dự án liên quan đến hệ thống điều khiển tự động hóa như
bãi đỗ xe thông minh, xe robot thông minh (mobile robot), các dự án ứng dụng PLC trong
5

công nghiệp ...
Dấu ấn tiên phong của phòng kỹ thuật điều khiển và hệ thống nhúng là đưa máy tính
công nghiệp vào tự động hoá sản xuất được đánh dấu bằng thành công xây dựng hệ thống
đo xa và truyền dữ liệu các tham số Tuốc bin - Máy phát nhà máy thủy điện Hòa Bình và
chế tạo thành công hệ điều khiển số tháp chưng cất tinh dầu xuất khẩu tại Xí nghiệp tinh
dầu thuộc Trung tâm KHTN & CNQG vào những năm 1992-1993. Tiếp theo, công nghệ
nhúng được phát triển mạnh ở Viện. Nhiều thiết bị nhúng được Phòng Công nghệ Tự
động hóa thiết kế chế tạo cho các ứng dụng công nghiệp và đời sống. Nổi bật là hệ đo
mực nước từ xa qua mạng Ethernet, hệ thống kiểm soát xâm thực AC200 (Cúp vàng
Techmart 2005 và giải thưởng Quả cầu vàng 2005), thiết bị đo nhiệt độ, độ ẩm và điểm
sương THDP-1 từ xa (đạt giải thưởng Grand Prize trong cuộc thi quốc tế về thiết kế chip
PSOC năm 2004), hệ đo thông số môi trường khí MDA 104S trên nền DSP và PC104 ...

CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN MỨC NƯỚC
2.1 Giới thiệu tổng quan
Hiện nay sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật, trong đó có kỹ thuật điều khiển tự động cũng góp phần rất lớn tạo
điều kiện để nâng cao hiệu quả trong quá trình sản xuất. Hiện nay, tự động hoá quá trình
công nghệ đã thực sự phát triển và ứng dụng mạnh mẽ trong công nghiệp cụ thể như công
nghiệp lọc hóa dầu, công nghiệp hóa chất, công nghiệp xử lý nước, sản xuất giấy, sản xuất
xi măng ... cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống. Nói chung để nâng cao hiệu
quả sản xuất , đảm bảo an toàn cho người , máy móc và môi trường trong công nghiệp chế
biến , khai thác thì vấn đề điều khiển quá trình công nghệ là rất quan trọng.
Trong điều khiển quá trình, bài toán đặt ra là điều chỉnh quá trình công nghệ có yêu cầu
6

rất cao về độ tin cậy và tính sẵn sàng. Các đại lượng cần điều khiển như lưu lượng, áp
suất, nhiệt độ ... cần phải điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Trong công ngiệp hóa lọc dầu, công nghiệp hóa chất, công nghiệp xử lý nước, sản suất
điện năng... vấn đề điều khiển mức nước cần đáp ứng với độ chính xác cao để phục vụ
quá trình sản xuất hiệu quả tốt hơn. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra trong đề tài là điều khiển
lưu lượng dòng chảy để ổn định mức chất lỏng với độ chính xác cao. Với yêu cầu ứng
dụng thực tế như vậy, đề tài nghiên cứu đối tượng chính ở đây là hệ thống điều khiển mức
nước.
2.2 Giới thiệu về hệ thống
Hệ thống điều khiển mức nước được hình thành với mô hình điều khiển mức nước gồm
có hai bồn nước: trên và dưới. Máy bơm sẽ bơm nước từ bồn nước dưới lên trên thông
qua 1 van điện từ V( V2) có thể điều khiển độ mở van. Dưới đáy bể trên có lắp một cảm
biến áp suất và một van xả (V1).
Hệ thống có cảm biến mực nước và bộ điều khiển chuyên dụng, nhờ đó có thể giảm tiết
diện ống và tăng vận tốc dòng chảy trong các hệ thống đường ống có áp, khép kín, toàn
bộ được quản lý một cách chính xác và hiệu quả. Các hệ thống theo dõi và giám sát làm
tăng khả năng cải thiện cả hiệu suất và độ tin cậy.
Bài toán đặt ra là : sử dụng bộ điều khiển S7 300 và thuật toán điều khiển PID điều
khiển độ mở van (V2) để bể trên luôn giữ ở mức nước yêu cầu.

7